headertvtc

Mong
 Video - Lễ Quy Y tại TV Thường Chiếu

  • Bài mới nhất

  • Bài đọc nhiều nhất

  • Lịch thuyết giảng

thanhtutoantap11

THƯ NGỎ

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca mâu Ni

Hội Thiền học Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam, Thiền Phái Trúc Lâm Hải Ngoại chúng con kính gới Thông tin vui đến tất cả các Thiền Viện, Kính trình lên chư Tôn Đức Tăng Ni và thông báo đến toàn thể quý đồng hương Phật tử xa gần. Thiền Viện Đại Đăng đã được chính quyền sở tại Quận Hạt San Diego cấp giấy phép xây dựng. Sau khi đã trải qua gần 10 năm tranh thủ, phấn đấu để vượt qua bao nhiêu khó khăn trở ngại với rừng luật xây cất và sự thiếu thông cảm của những người bạn hàng xóm. Cuối cùng, nhờ Tam Bảo gia hộ, sự hộ trì của chư Thiên, Long, thiện Thần hộ pháp, nhờ ân đức của Hòa Thượng Tôn Sư, cùng năng lượng tu hành thanh tịnh của đại chúng Tăng, Ni và Phật tử gia tâm cầu nguyện, đến hôm nay mọi chương duyên đã hanh thông. Vâng theo lời chỉ dạy của Sư Phụ Thường Chiếu tức H T Thích Nhật Quang, Trưởng Ban Quản Trị Thiền Phái Trúc Lâm trong và ngoài nước, thông qua sự chưng minh của Hòa Thượng Tôn Sư thượng Thanh hạ Từ. Chúng con sẽ tổ chức lễ hưng công xây dựng vào ngày 26 tháng 10 năm 2014 DL nhằm ngày mùng 3 tháng 9 năm Giáp ngọ. Ngưỡng mong Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni , Quý đồng hương Phật tử xa gần nhín chút thời giờ quý báu quang lâm về chứng dự buổi lễ và cầu nguyện trợ duyên cho Phật sự sớm được thành tựu viên mản. Kính chúc Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng quý đồng hương Phật tử xa gần luôn được bình an vui khỏe.

 

Trụ Trì Thiền Viện Đại Đăng trân trọng kính báo.

Sa Môn Thích Tuệ Giác.

ThiepmoiTVTLDaiDang

ThiepmoiTVTLDaiDang2

Thiền Viện Thường Chiếu

  Thường Chiếu ! Danh xưng một vị Thiền sư Việt Nam nổi tiếng thời Lý. Sư họ Phạm, quê làng Phù Ninh, từng làm quan cho triều đình. Là một bậc trượng phu quân tử có tiết tháo, không khiếp phục uy quyền, xem thường công danh sự nghiệp ở đời, nên chốn quan trường đối với Sư chỉ như trò bọt bóng . Nghe danh Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả, Sư liền từ quan, tìm đến xuất gia học Thiền và đắc pháp luôn tại đây.
Sau, Sư về Trụ Trì chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Tăng chúng đua nhau theo học rất đông. Từ đó, Sư trở thành một danh tăng lỗi lạc đương thời. Bình nhật, Sư luôn lấy đạo cả làm trọng, tỉnh lực giác tâm là chánh, thường hành chiếu soi, sống tự tại, chết ung dung. Hôm sắp tịch, Sư hơi đau bụng, bèn gọi chúng lại nói:
     

 Ðạo vốn không nhan sắc,
Ngày ngày lại mới tươi.

Ngoài đại thiên sa giới,
Chỗ nào chẳng là nhà ?

    

   

 Ðạo bổn vô nhan sắc,
Tân tiên nhật nhật khoa.

Ðại thiên sa giới ngoại,
Hà xứ bất vi gia ?

       Nói xong, Sư tịch. Thật còn gì tuyệt bằng ! Có thể nói, môn phong của Sư được các thế hệ sau phát triển rực rỡ và chuyển tiếp thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần sáng chói mãi về sau. Danh Sư vì thế đã trở thành danh xưng của Thiền viện Thường Chiếu non một thế kỷ sau. Nơi đây - Thường Chiếu - không chỉ ảnh hiện một tấm gương sáng xa xưa cho người sau theo dấu soi mình, mà với ý nghĩa tròn đủ đó, Thường Chiếu còn là phương châm, là sở nguyện của Hòa thượng ân sư đối với chư Tăng: " Phản quan tự kỷ, bổn phận sự " - luôn tự soi chiếu lại chính mình -. Ðây cũng chính là cương lĩnh yếu chỉ của dòng Thiền Việt Nam cuối thế kỷ 20 này.  

 DUYÊN KHỞI THÀNH LẬP THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU.
Vào những năm 73 -74, khi mở khóa thiền thứ hai tại Tu viện Chân Không, Hòa thượng nhận thấy Tăng ni về núi tham học khá đông. Theo đó, nhu cầu đời sống vật chất của chư Tăng cũng được đặt ra. Biết rõ điều ấy, hai Phật tử chủ chùa Linh Quang (cũ) ở Cát Lở phát tâm cúng dường thửa đất 52 mẫu tại Xã Phước Thái - Huyện Long Thành,để Hòa thượng lập Thiền trang. Nhận thấy cơ duyên đã đến, Hòa thượng liền tùy hỷ. Thiền viện Thường Chiếu được ra đời từ đó.
1. Giai đoạn đầu từ 1974 - 30/ 04/ 1975: Thời sơ khai.
Ngôi chùa Thường Chiếu đầu tiên là một căn nhà lá, mái tol, nằm trơ vơ trên một dãy đất cát trắng phếu với sỏi đá khô cằn. Thầy Ðắc Huyền được Hòa thượng bổ nhiệm làm lính tiên phong - Trụ trì đầu tiên - với số chúng là bốn vị. Mấy anh em xuống núi trong giai đoạn này quả thật là phải " cạp đất mà ăn ". Vì vậy Hòa thượng luôn động viên, luôn tiếp sức qua những lần về thăm. Thầy không chỉ dùng lời mà còn cộng sự, cuốc đất trồng khoai, thân giáo chư tăng. Bây giờ ngồi mà nhớ lại hồi xưa, nếp nhà tranh, ánh đèn dầu, khung trời nắng cháy.Ai tới đây rồi cũng phải ngao ngán. Thường Chiếu lúc đó, không biết ra sao ở ngày mai ? Song nhờ có Hòa thượng luôn yểm trợ tinh thần, giúp chư tăng vượt qua mọi khó khăn, giữ vững tâm nguyện tu hành của mình, nên rồi tất cả cũng kham nhẫn được. Vạn sự khởi đầu nan. Xưa nay vẫn vậy.
Ðến 30 / 04 / 75, đất nước giải phóng, lịch sử sang trang. Chư Tăng ni cũng thay đổi cuộc sống tu hành của mình theo nhịp đổi thay chung của đất nước. Thế là Tăng ni của cả hai viện Chân Không và Bát Nhã khóa hai cùng xuống núi, về đây làm ruộng rẫy. Thầy Phước Hảo và Thầy Ðắc Pháp cũng có mặt trong giai đoạn này để hướng dẫn chúng tu học và lao động, Tuy nhiên, thời gian chỉ có hai tháng thì giao lại cho Thầy Nhật Quang làm Huynh Trưởng. Ngẫm lại trong cuộc vô thường, bể hóa cồn dâu có khác gì nhau. Cũng chỉ đùa mà thôi.

 2. Giai đoạn hai từ 1975 - 1986:

Thời vượt khó.Năm 1975, Thầy Nhật Quang lãnh trách nhiệm Huynh Trưởng với tổng số chúng là 20 vị. Hòa thượng cho cất thêm một tăng đường bằng lá và cái thất sàn cũng bằng lá, nép mình khiêm cung bên bụi tre hồi đó chính là phương trượng của Thầy bây giờ.Thanh Qui Bách Trượng được áp dụng từ đây. Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực ( một ngày không làm, một ngày không ăn ).

Tu, học và lao động trở thành ba yếu tố căn bản không thể thiếu của Thiền sinh Thường Chiếu và các Chiếu phụ cận ra đời tiếp theo sau như Viên Chiếu (1975), Linh Chiếu (1980) . Việc tu được Hòa thượng cụ thể hóa như hơi thở, việc học như uống nước, việc làm như ăn cơm. Một trong ba đều cần thiết đối với đời sống tu học của Thiền sinh. Ðể chấn chỉnh môn phong trong giai đoạn này, Hòa thượng Viện Trưởng đã sửa đổi bản Thanh Qui Chân Không, cho ra đời bản Qui Ước áp dụng chung cho các Thiền viện. Tinh thần tu, học và lao động tuy phôi thai  nhưng đã gầy dựng được một sức sống mới trong tăng đoàn. Sức sống ấy đã được Thiền tăng chuyển tải trên đồng khô ruộng cạn, trên từng nhát cuốc đường cày, lúc đẩy xe kéo củi, khi đào giếng khoét mương.khắp trong bạn lứa anh em, đâu đâu cũng hùng hồn vang vọng như một hành khúc:

(Nguồn  thientongvietnam.net)
[ Quay lại ]