headertvtc new


   Hôm nay Thứ tư, 14/01/2026 - Ngày 26 Tháng 11 Năm Ất Tỵ - PL 2565 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtc2  Mong
 Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam Thế Kỷ 20-21

DIỄN VĂN LỄ KHÁNH THÀNH BẢO THÁP XÁ LỢI tại TVTL ĐÀLẠT

DIỄN VĂN LỄ KHÁNH THÀNH BẢO THÁP XÁ LỢI  tại  TVTL ĐÀLẠT

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

thaytrutridocdienvan

Kính thưa…

Hôm nay ngày khánh thành Đại Bảo tháp tôn thờ Xá-lợi, đồng thời An vị Phật và An vị Xá-lợi chân thân Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Đây là một duyên lành hi hữu cho những người con Phật đồng phát tâm tùy hỷ hướng về Ân đức vô thượng quý báu của Đức Thế Tôn và kết duyên sâu thêm với Phật.

Kính thưa chư Tôn đức Tăng Ni, cùng quý Phật tử.

Nghĩ đến chúng ta ngày nay có được con đường xuất gia tu hạnh giải thoát, và có được chánh pháp để học hỏi, tu tập như thế này, là từ công đức phước trí vô lượng vô biên của Đức Thế Tôn mà thành.

Ngài đã trải qua vô lượng hằng sa kiếp số tu hành thành tựu các Ba-la-mật, sẵn sàng hy sinh tất cả sở hữu bên ngoài cho đến thân mạng bên trong, xả những việc khó xả, nhẫn những việc khó nhẫn, làm những việc khó làm để vì lợi ích chúng sanh không từ khổ nhọc.

Nào là thí xả đầu, mắt, tủy, não, vợ, con, cõi nước…, nhịn chịu chặt cắt tay, chân từng phần thân thể, hy sinh cho cọp đói, cắt thịt cứu chim, xả thân vì nửa bài kệ…

Ngay hiện đời, Ngài cũng đã sẵn sàng từ bỏ cha già, vợ đẹp, con thơ, ngai vàng điện ngọc, quyền quý cao sang tột đỉnh ở thế gian, để vào rừng vắng tu hành khổ hạnh, thiền định quên thân, thắng phục ma quân mà thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Từ ánh sáng giác ngộ đó, Ngài mới đem truyền dạy cho tất cả thế gian, mở đường giác ngộ chân thật, giải thoát sanh tử luân hồi, giải quyết cái mê từ vô thủy cho chúng sanh. Từ đó chân lý giác ngộ mới được vang khắp và mới có đạo Phật để chúng ta tu theo như ngày hôm nay.

Khiến người người tin biết trong cuộc đời vô thường ảo mộng vẫn còn có Phật, có lối thoát để trở về quê nhà chân thật chưa từng sanh diệt.

Ân đức ấy làm sao nói hết bằng lời! Do đó, xây dựng Bảo tháp Xá-lợi này, ý nguyện chúng tôi hướng về tưởng nhớ Ân đức của Phật, và nhắc nhở cho người người thức tỉnh tu hành để đền đáp phần nào Ân lớn của Phật. Đồng thời cũng tạo duyên lành cho tất cả tùy hỷ, chiêm bái kính lễ mà kết duyên sâu thêm với Phật. Cũng như giúp cho những ai không có đủ điều kiện đến xứ Phật, thì cũng được thấy một chút ấn tượng về hình ảnh Thánh tích nơi ấy.

Và nhân duyên hội ngộ đầy đủ, giờ này bao nhiêu tấm lòng thật sự đang tùy hỷ đồng tụ hội về đây, vui thấy một Phật sự được thành tựu để cùng nhau hòa hợp tưởng nhớ về Đức Thế Tôn, và vui được kết duyên lành sâu thêm với Phật, giúp cho tâm Bồ-đề càng thêm vững mạnh.

Ôi! Chúng con một lòng kính ngưỡng.

Thế Tôn thị hiện nơi cung vua Tịnh Phạn, ra đời tại vườn Lâm-tỳ-ni, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, truyền vang thông điệp: “TRÊN TRỜI, DƯỚI TRỜI, CHỈ TA TÔN NHẤT”.

Rồi lớn lên trong cung vàng điện ngọc, đầy đủ thú vui ngũ dục ở thế gian, ngai vàng chờ sẵn, nhưng nguyện lớn chẳng quên, dứt khoát từ bỏ tất cả, vượt thẳng ra khỏi tình trần, tìm đạo giác ngộ để cứu vớt chúng sanh còn đang chìm trong đêm dài tăm tối.

 Tìm thầy học đạo,
 Đều không thỏa nguyện,
 Sẵn sàng từ bỏ,
 Quay lại nội tâm,
 Dưới cội bồ-đề,
 Quyết tâm thành tựu,
 Thắng phục Ma vương
 Tuyên ngôn chiến thắng,
 Thế gian tăm tối,
 Lối ra mở sẵn,
 Bản hoài ra đời,
 Dẫn dắt chúng sanh,
 Ứng thân đã mãn,
 Để lại chánh pháp,
 Thân này tuy diệt,
 Ai buồn ai khóc,
 Phật từng dạy rằng,
 Sao sớm quên rồi,
 Nay lưu Xá-lợi,
 Nhớ còn có Phật,
 Phát tâm Bồ-đề,
 Lần bước trở về,
 Từ thân ứng hóa,
 Muôn kiếp trầm luân,

Khổ hạnh kiên trì
 Giải thoát tử sanh.
 Tìm kiếm bên ngoài,
 Mở đường chánh giác.
 Vững nguyện không lay,
 Vô thượng Bồ-đề.
 Vỡ tan mê lầm,
 Sanh tử vô bờ.
 Từ đây đã có,
 Tuệ giác khắp soi.
 Từ nay rao khắp
 Đồng về chánh giác.
 Hiện vào Niết-bàn
 Rộng truyền thế gian.
 Như Lai nào diệt.
 Có nhớ rõ chăng?
 Pháp thân thường trụ
 Lời chân thật kia.
 Gieo duyên cho đời,
 Ở thế gian này.
 Thêm lớn niềm tin.
 Con đường giác ngộ.
 Thấy lại thật thân,
 Từ đây ra khỏi.

Nguyện đem công đức này dâng lên cúng dường Hòa thượng Tôn Sư, nguyện Ngài sống lâu ở đời, giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh, hạnh nguyện viên thành.

Đồng nguyện đem công đức này hồi hướng chia đều cho tất cả chúng sanh đều được kết duyên sâu với Phật, căn lành ngày thêm lớn, vượt thoát đường mê, quay về chánh giác, xóa tan ranh giới ta người, dứt sạch tận gốc sanh tử luân hồi, thành tựu Phật đạo.

HUẤN TỪ CỦA BAN QUẢN TRỊ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM-TVTL Chánh Thiện

 chanhthienbanner

HUẤN TỪ CỦA BAN QUẢN TRỊ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

- Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni,

- Kính bạch chư tôn Giáo phẩm lãnh đạo TW GHPGVN.

 - Kính bạch chư tôn Giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Thuận, các tỉnh bạn, chư tôn thiền đức Tăng Ni hiện tiền.

 - Kính thưa quý vị khách quý đại diện lãnh đạo Đảng, Chính quyền các cấp.

 - Kính thưa toàn thể đạo tràng Phật tử.

- Thưa quý liệt vị.

Trước tiên, chúng tôi xin được hướng về Hòa thượng Tôn sư đảnh lễ cảm bội ân đức giáo dưỡng của Ngài, ngưỡng nguyện từ lực của Hòa thượng gia bị cho buổi lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện được thành tựu viên mãn. Thừa ủy nhiệm Hòa thượng Trưởng Ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm, chúng tôi tuyên đọc lời chỉ dạy của Ngài đến chư tôn đức Tăng Ni và quý Phật tử trong đạo tràng hôm nay.

Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện ra đời trong một nhân duyên Phật pháp được lưu bố rộng rãi trên đất nước Việt Nam. Giới tu sĩ cũng như cư sĩ học Phật ngày càng phát triển nhiều hơn, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam cũng lan rộng khắp mọi miền đất nước, Phật tử các nơi quy hướng thiền môn ngày càng đông đảo. Thiền phái Trúc Lâm dưới sự khai sáng của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, trải qua những biến chuyển thăng trầm, có lúc thịnh lúc suy, nhưng cuối cùng nguồn sống chân thật muôn thuở vẫn không gì có thể làm tan hoại. Thiền tông Việt Nam vẫn tồn tại và song hành trong lòng Phật giáo Việt Nam, trong trái tim, trong nguồn sống của người dân Việt từ xưa cho đến nay.

Đức Phật thiền định dưới cội Bồ-đề suốt 49 ngày đêm. Ngài chiến thắng ma quân bằng cung thiền định và kiếm trí tuệ. Muốn giác ngộ giải thoát, chúng ta cũng phải đi theo con đường đức Phật đã đi. Thiền tông là “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Vì vậy người tu thiền phải là những con người gan dạ, có dám chết mới mong được sống. Hòa thượng Trúc Lâm, người tu thiền và tâm huyết khôi phục Thiền tông Phật giáo đời Trần. Với cương lĩnh “Phản quan tự kỷ bổn phận sự”, xoay lại mình là việc bổn phận chính, đến nay vẫn được chư Tăng Ni và Phật tử tu thiền dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng hành trì xuyên suốt. Một khi hành giả đã phát nguyện đi theo con đường thiền, thì phải biết thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ ngay trong mọi sinh hoạt của mình, không tìm đâu khác.

Hòa thượng dạy: “Việc trọng đại của con người là biết mình, dù chúng ta biết khắp năm châu vũ trụ cũng không bằng biết rõ chính mình. Đem hết cuộc đời để nghiên cứu truy tìm cho ra vấn đề trọng đại này đâu phải là việc tầm thường, hướng dẫn người nghiên tầm cho ra vấn đề này đâu phải là việc không cấp thiết. Đã thấy vấn đề quan trọng cấp thiết này rồi, chúng tôi quyết tâm trọn đời phải nghiên tầm cho ra, hướng dẫn người phải thực hành cho được, đây là bản hoài, là sở nguyện của chúng tôi. Chủ trương khôi phục Thiền tông Phật giáo Việt Nam đời Trần là cốt nâng cao giá trị người tu Phật hiện nay. Cảnh giác những hiện tượng sai lầm đưa đạo Phật vào chỗ huyền bí vô nghĩa, khiến chánh pháp lu mờ, trả Phật giáo trở về với giá trị bản hữu của nó. Việc làm này mang tính cách khơi sáng ngọn đèn Phật giáo Việt Nam. Chúng tôi không ước mong gì khác hơn là được đóng góp một hòn gạch, một viên đá để xây dựng ngôi nhà Phật giáo Việt Nam”.

Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện ra đời cũng không ngoài đáp ứng nguyện vọng tu thiền của Tăng Ni Phật tử hiện tại và hoài bão mở rộng Thiền tông Việt Nam của Hòa thượng Tôn sư. Là người con Phật, chúng ta cần phải biết rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. Hai chữ Chánh Thiện nói lên ý nghĩa chân chánh tốt đẹp, mà một hành giả tu Phật phải thực hiện cho được trên con đường tự giác giác tha viên mãn. Hy vọng chư Tăng nơi đây sẽ ghi nhớ và thực hành điều này trong suốt cuộc đời tu hành của mình.

Chốn này cảnh trí yên tịnh, non nước giao hòa, rất thích hợp với người tu thiền. Nhờ từ lực Tam bảo, nương uy đức và phúc trí của Hòa thượng Tôn sư, được sự chấp thuận của chư tôn lãnh đạo Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Thuận, sự đồng tình của toàn thể chư tôn đức, các nhà hữu trách, nhất là sự đồng tâm hiệp lực, phát nguyện hỷ cúng của gia đình Phật tử Chánh Lạc Tâm cùng quý Phật tử trong các đạo tràng tu thiền, hôm nay Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện chính thức được phép đặt đá khởi công xây dựng. Đây là một tin vui, một dấu hiệu đáng mừng cho thấy dòng thiền nước Việt đầu thế kỷ XXI đã được lan tỏa khắp nơi.

Kể từ nay, Phật giáo tỉnh Bình Thuận có thêm một ngôi già-lam chung vai sát cánh với Giáo hội trong sự nghiệp phụng sự đạo pháp và dân tộc. Phật tử Bình Thuận có thêm một ngôi nhà tâm linh để trở về sau những bước giong ruổi vì cuộc mưu sinh. Thiền phái Trúc Lâm có thêm một đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh, là nơi tu học cho Tăng Ni Phật tử hữu duyên với Thiền tông.

Với tâm lực, tài lực, nguyện lực của chư Tăng Ni và quý Phật tử nơi đây, chúng tôi mong ngôi Thiền viện này sớm được hoàn thành viên mãn, để quý vị có nơi an ổn tu hành. Vâng theo lời dạy của Hòa thượng Tôn sư, chư Tăng Ni và quý Phật tử luôn sống đúng với tinh thần hòa kính, tu theo đường lối chủ trương của Thiền phái Trúc Lâm. Được thế công đức hoằng truyền chánh pháp của chư Tăng Ni và công đức hộ trì Tam bảo của quý Phật tử thật vô cùng xứng đáng.

Thay mặt Hòa thượng Tôn sư và Ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm, chúng tôi xin kính chúc sức khỏe và chân thành tri ân chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Thuận, chư vị lãnh đạo Đảng, Chánh quyền các cấp và địa phương sở tại, quý vị đã quan tâm hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện được hình thành và tiến hành triển khai công tác xây dựng. Sự quan tâm giúp đỡ của quý vị là nhân duyên lành kết nối đạo pháp với dân tộc, đưa cuộc sống của người dân nơi đây ngày càng vươn tới chân thiện mỹ. Chúng tôi tin rằng với đạo tình này sẽ giúp cho Phật sự nơi đây thành tựu tốt đẹp. Kính chúc Tăng Ni và Phật tử trong suốt thời gian thi công được an ổn, mạnh khỏe, hoàn thành tốt Phật sự trong thời gian sớm nhất. Chúc buổi lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Chánh Thiện thành công tốt đẹp.

Bao nhiêu công đức có được hôm nay, chúng con thành kính dâng lên cúng dường Hòa thượng Tôn sư, nguyện Thầy sống lâu nơi đời để chúng con và tất cả chúng sanh được đượm nhuần chánh pháp, Thiền tông Việt Nam được cửu trụ nơi đời. Đồng nguyện thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc.

Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.

Thiền viện Thường Chiếu, ngày 08-10 Giáp Ngọ

TM. Ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm

Trưởng ban

Hòa thượng THÍCH NHẬT QUANG

DIỄN VĂN KHAI MẠC LỄ ĐẶT ĐÁ XÂY DỰNG TVTL CHÁNH THIỆN

chanhthienbanner

DIỄN VĂN KHAI MẠC LỄ ĐẶT ĐÁ XÂY DỰNG
THIỀN VIỆN TRÚC LÂM CHÁNH THIỆN
Ngày 29-11-2014 (Mùng 8-10 Giáp Ngọ)

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

- Kính bạch Chư Tôn Giáo Phẩm lãnh đạo trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Chư Tôn Đức lãnh đạo Ban Trị Sự Phật Giáo tỉnh Bình Thuận, các tỉnh bạn, huyện thị địa phương.
- Kính bạch toàn thể Chư Tôn Đức Tăng Ni hiện diện.
- Kính thưa Quí vị khách quý lãnh đạo Đảng, Chính quyền các cấp và địa phương sở tại cùng các đạo tràng Phật tử trong và ngoài nước.
- Kính liệt Quý vị.

Lời đầu tiên, xin thay mặt Ban Tổ chức, chúng con hướng về 10 phương Tam bảo, với tất cả  lòng thánh kính hướng về Hòa Thượng Tông Sư Thượng Thanh Hạ Từ cùng Chư Tôn Giáo phẩm, Chư Tôn Đức Tăng Ni thành kính đảnh lễ. Ngưỡng nguyện từ lực Tam bảo và Hòa Thượng Tông Sư cùng Chư Tôn Đức Tăng Ni gia bị cho Phật sự nơi đây được thành tựu viên mãn.

Chúng tôi cũng xin gửi lời chào trân trọng đến Quý quan khách đại diện cơ quan ban nghành các cấp cùng toàn thể Quý Phật tử đã dành ít thời giờ quý báo về đây tham dự buổi lễ.

- Kính thưa Quý liệt vị.

Hôm nay, ngày mùng 8 tháng 10 năm Giáp Ngọ, Ban Quản Trị  Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tổ chức lễ đặt đá chính thức xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện tại xã Sông Phan, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận – là ngôi Thiền Viện đầu tiên của hệ phái Trúc Lâm được xây dựng tại miền Trung Nam Bộ.
Ngày hôm nay, còn có thể xem là ngày kết tinh của bao tâm nguyện, lòng khát ngưỡng của đông đảo Phật tử trong và ngoài nước, không chỉ đối với những người hâm mộ tu tập theo Thiền Tông Việt Nam do Hòa Thượng Tông Sư Thượng Thanh Hạ Từ chủ trương, mà còn là niềm hân hoan vui mừng của những người con Phật trong tỉnh Bình Thuận nói riêng và miền Trung Nam Bộ nói chung. Sự kiện trọng đại ngày hôm nay chính là hoa trái đầu mùa, vượt qua bao chướng duyên ở mảnh đất Chánh Thiện mà hàng môn hạ đệ tử của Hòa Thượng Trúc Lâm cùng Hòa Thượng Thường Chiếu kính dâng lên các Ngài - biểu hiện lòng thành kính đối với Thầy Tổ đã cưu mang và chỉ dạy trong suốt bao năm qua. Giờ đây tâm nguyện của Hòa Thượng về việc xây dựng mới một ngôi Thiền Viện thuộc hệ phái Trúc Lâm Yên Tử ở miền Trung Nam Bộ giờ đây đã bắt đầu được hình thành.

-  Kính bạch Chư Tôn Đức.

- Kính thưa liệt Quý vị .

Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ rất sớm cho nên Thiền Tông cũng có mặt ở nước ta từ lâu đời. Đến thời Lý Trần thì Thiền Tông đã bước sang giai đoạn cực thịnh. Trang sử vàng của dòng Thiền nước Việt theo đó ngày càng phát huy rực rỡ.

Ngày nay, trang sử Phật Giáo Việt Nam vẫn còn minh chứng một cách hùng hồn về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Là một dòng Thiền mang đậm chất Việt Nam, là một ông vua Phật – Phật Hoàng Trần Nhân Tông, người con của đất Việt. Một dòng Thiền đã mở ra trang sử huy hoàng cực thịnh cho Phật Giáo Việt Nam. Đồng thời cũng nói lên ý nghĩa Phật Giáo không rời xa dân tộc, tự chủ quật cường cho lịch sử vàng son của dân tộc đời nhà Trần trong thời dựng nước và giữ nước. Một thời đại đã tạo nên chiến công oanh liệt với kỳ tích vang lừng mà cả thế giới xưa và nay đều công nhận. Đó là ba lần đẩy lùi, đánh bại quật ngã ba đợt tiến quân xâm lược của giặc Nguyên Mông phương bắc Thành Cát Tư Hãn – một đế quốc hung bạo thời bấy giờ. Đem lại nền độc lập tự chủ, tự cường cho con dân đất Việt trong suốt mấy trăm năm hòa bình thịnh trị.

Trải qua bao thời đại thăng trầm của đất nước, Phật Giáo Việt Nam nói chung và Thiền học Phật Giáo Việt Nam nói riêng, cũng đã từng chịu ảnh hưởng theo chiều thịnh suy của thời cuộc. Tuy nhiên trong dòng sanh diệt biến thiên của cuộc đời, luôn luôn hàm chứa và ẩn tàng một sức sống mãnh liệt, đầy tính năng động và sáng tạo. Mỗi lần dừng lại là để củng cố tiềm lực bên trong mà người xưa đã từng nói: “Lùi một bước là tiến xa vạn dặm”.

Vì vậy, Hòa Thượng Tông Sư Thượng Thanh Hạ Từ là Tông Chủ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã quyết tâm thực hiện hoài bão ôm ấp từ lâu – khôi phục Thiền Tông Việt Nam, lấy tinh thần Phật Giáo Thiền Tông đời Trần, cốt lõi là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là kim chỉ nam. Là bản đồ cho mọi công trình giáo dục Tăng Ni Phật tử, hoằng dương đạo pháp. Sau nhiều năm tháng tìm tòi và phát minh tâm địa, Hòa Thượng đã đúc kết Thiền Tông đời Trần có những nét tiêu biểu đặc sắc như sau:

1 - Người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm này là vua Trần Nhân Tông, một vị vua anh minh đã từng lãnh đạo quân dân chiến thắng quân Nguyên Mông. Khi đất nước đã sạch bóng quân thù, Ngài từ bỏ ngôi vị Thái Thượng Hoàng, lên non Yên Tử xuất gia tu hành, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, lập ra dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, dung hợp ba dòng thiền thời đó là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, mà Ngài chính là Sơ Tổ.

2 - Thời nhà Trần, Thiền được đưa vào đời sống, phục vụ đất nước và nhân dân. Nhiều vị Thiền sư đã chọn lối sống cư sĩ, vừa làm việc đời việc đạo – như Tuệ Trung Thượng Sĩ khi đất nước có binh biến, các Ngài cũng tùy duyên mà hành xử.

3 - Tinh thần Thiền Tông đời Trần lấy “Phản quan tự kỷ” làm kim chỉ nam cho sự tu tập. Khi còn là Thái tử, vua Trần Nhân Tông một hôm hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ yếu chỉ của Thiền là gì ? Tuệ Trung nói: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc” tức là soi lại chính mình, đó là phận sự chính, là việc bổn phận, không phải từ bên ngoài mà được. Đó là bổn phận của chính mình mà cũng chính là Tông chỉ của nhà Phật nói chung và Phật Giáo đời Trần nói riêng. Bằng sự kiên định vững vàng và bầu nhiệt huyết muốn khôi phục lại dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hòa Thượng Tông Chủ Thiền phái Trúc Lâm đã vượt qua bao trở ngại, chướng duyên để cho hoa Thiền nở rộ trên đất nước Việt Nam và các nước trên thế giới Châu Âu và Bắc Mỹ,v.v…

Gần đây gia đình Phật tử Mai Văn Bình, Pháp danh Chánh Lạc Tâm thấm nhuần ân giáo dưỡng của Hòa Thượng Tông Sư và Chư Tôn Đức Tăng Ni Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, nên đã phát tâm tùy hỷ cúng dường một thửa đất để thành lập ngôi Thiền Viện tại địa phương này, ngõ hầu cho Phật tử hâm mộ tu Thiền theo dòng phái Trúc Lâm Yên Tử có chỗ nương tựa.
Hôm nay duyên lành hội đủ, được sự chấp thuận của các cấp Chính quyền và Giáo Hội, Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện chính thức được công nhận và khởi công xây dựng. Từ đây Phật tử vùng này có nơi trở về cùng tu tập theo đường lối Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử dưới sự hướng dẫn của Hòa Thượng Tông Sư và Chư Tôn Đức Tăng Ni hàng môn hạ của Ngài. Sự ra đời của Thiện Viện Trúc Lâm Chánh Thiện là một dấu hiệu cho thấy sự phát triển và hòa hợp của Phật Giáo tỉnh Bình Thuận, trong sự nghiệp phát triển chung của Giáo Hội. Hy vọng Trúc Lâm Chánh Thiện sẽ là một viên gạch trong ngôi nhà Phật pháp tại nơi đây, góp phần xây dựng nền móng vững chắc cho Giáo Hội và đạo pháp trong sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, phổ độ chúng sinh.

Giờ này, trong không khí trang nghiêm với bao tấm lòng đang hân hoan đón mừng, thay mặt Ban Tổ Chức, chúng con xin được long trọng tuyên bố khai mạc buổi lễ đặt đá xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện.

Nguyện cho 10 phương Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng, Chư Thiên Long Thần Bát Bộ Hộ Giới Già Lam thường ở  khắp 10 phương ngày hôm nay thương tưởng chúng con quang giáng đàn tràng thùy từ gia hộ cho Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện sớm được hoàn thành, thỏa lòng mong mỏi của đồng bào Phật tử gần xa.

Trước khi dứt lời, chúng con xin chân thành tri ân sự hiện diện chứng minh của Chư Tôn Giáo Phẩm, Chư Tôn Đức Tăng Ni, chúng tôi xin cảm tạ sự hiện diện của chư liệt vị khách quý và toàn thể Phật tử gần xa. Kính chúc Chư Tôn Đức cùng toàn thể Quý liệt vị thân tâm thường an lạc.

Trân trọng kính chào Chư Tôn Đức và Quý liệt vị.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

DIỄN VĂN KHÁNH THÀNH TVTL THANH NGUYÊN

 DIỄN VĂN KHÁNH THÀNH

THIỀN VIỆN TRÚC LÂM THANH NGUYÊN

Ngày 14/08/Giáp Ngọ (07/09/2014)

hinhsuphuphatbieuNam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Kính bạch chư tôn Giáo phẩm Lãnh đạo Trung Ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,

Kính bạch chư tôn giáo phẩm Lãnh đạo Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương, các tỉnh bạn, Ban Trị sự Phật giáo huyện Phú Giáo, chư tôn đức Tăng Ni Ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm cùng toàn thể chư tôn thiền đức Tăng Ni hiện diện,

Kính thưa quý vị khách quý Đại diện Đảng, Chánh quyền các cấp và các đạo tràng Phật tử,

Thưa liệt quý vị,

Lời đầu tiên, chúng tôi xin trân trọng kính chào chư tôn Giáo phẩm Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chư tôn Giáo phẩm Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương, cùng toàn thể chư tôn thiền đức Tăng Ni hiện diện, quý vị khách quý, đại diện các cấp chánh quyền, các đạo tràng Phật tử, đã niệm tình về đây chứng dự Lễ Khánh thành - An Vị Phật Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên. Kính chúc quý Ngài thân tâm thường lạc, Phật sự viên thành. Chúc quý vị khách quý, đại diện các cấp chánh quyền, các đạo tràng Phật tử vạn sự kiết tường như ý.

Hướng về Hòa thượng Tôn sư, chúng con cung kính cảm bội công đức giáo dưỡng của Thầy, ngưỡng nguyện từ lực của Hòa thượng gia bị cho buổi lễ Khánh thành và An vị Phật hôm nay được thập phần viên mãn.

Kính thưa toàn thể liệt quý vị,

Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên ra đời từ năm 2002 do sự phát tâm hỷ cúng của Phật tử Từ Vân, nhưng chỉ với hình thức một nông thiền. Mãi đến năm 2013 được sự cho phép của UBND tỉnh Bình Dương và đặc biệt sự quan tâm giúp đỡ của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Dương, thiền trang đã chánh thức được công nhận là thiền viện, sinh hoạt tu tập theo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Chư huynh đệ chúng ta đã vượt qua giai đoạn ban đầu đốn cây, dựng nhà tạo nên một thiền trang ấm áp giữa rừng cao su bạt ngàn, kết duyên Phật với nhau trong sắc màu xanh tươi. Đến giai đoạn thứ hai, lại một lần nữa chúng ta chung vai sát cánh bên nhau đắp nền, đóng vách, lợp mái, ròng rã ngày đêm trải qua 7 tháng không ngừng nghỉ, để có được một đạo tràng như hôm nay. Tất cả đều nhờ vào sự nhiệt tâm đóng góp công sức và tài lực của Tăng Ni Phật tử cùng các anh em thợ hồ thợ mộc trong đội thi công. Chính từ những thành quả thiết thực này tạo nên công đức khai mở, nuôi dưỡng, phát huy mạch sống thiền nơi đây. Thật là niềm vui lớn đối với Thiền phái Trúc Lâm nói riêng và Phật giáo tỉnh Bình Dương nói chung.

Thiền viện không nguy nga tráng lệ nhưng trang nghiêm tuấn nhã, không màu sắc thanh tân nhưng đậm đà chân quê như chính tâm hồn mộc mạc của những thiền sinh một lòng cầu đạo.

Có thể nói đây là một kiến trúc thuần Việt, đậm nét dân dã quê hương. Ở đó còn có cả tấm lòng của Tăng Ni Phật tử ngưỡng mộ tu thiền, chờ đợi bao nhiêu năm qua để có được một ngôi nhà tâm linh, là chốn trở về, là nơi nương tựa vững chắc của khách hữu duyên sau những năm tháng mỏi mệt với cuộc sống phù du.

Danh hiệu Trúc Lâm Thanh Nguyên đã được Hòa thượng Tôn sư chứng thuận với hai ý nghĩa. Thứ nhất, đây chính là tôn hiệu của thiền sư Thanh Nguyên, một thiền sư Việt Nam thuộc tông Tào Động, sống vào thời Nguyễn tiền bán thế kỷ thứ 19. Ngài là ngọn đuốc sáng trong dòng thiền nước Việt, là tấm gương về sự thâm chứng ngộ đạt và cẩn trọng khiêm cung. Thỉnh tôn hiệu Ngài đặt cho Thiền viện cũng không ngoài chủ ý mong cho chư Tăng Ni, Phật tử nơi đây noi theo tấm gương sáng của người xưa mà nỗ lực tu học. Thứ hai, chính là ý nghĩa của hai chữ Thanh Nguyên. Chữ Thanh nghĩa trong sạch thanh tịnh, chữ Nguyên nghĩa là cội nguồn. Trúc Lâm Thanh Nguyên chính là nguồn tâm trong sạch nơi mỗi chúng ta. Về Thiền viện là về với nguồn tâm của chính mình. Với ý nghĩa đó hy vọng Thiền viện sẽ là nơi dừng nghỉ an ổn nhất cho bao khách tha hương.

Sự ra đời của Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên là một dấu hiệu cho thấy sự phát triển và hòa hợp của Phật giáo tỉnh nhà trong sự nghiệp phát triển chung của Giáo hội. Hy vọng Trúc Lâm Thanh Nguyên sẽ là một viên gạch trong ngôi nhà Phật pháp tại nơi này, góp phần xây dựng nền móng vững chắc cho Giáo hội và đạo pháp trong sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, tịnh hóa nhân gian. Từ đây Phật giáo tỉnh Bình Dương có thêm một ngôi già-lam chung vai sát cánh với Giáo hội trong sự nghiệp phụng sự đạo pháp và dân tộc, hành Như Lai sứ tác Như Lai sự.

Thiền phái Trúc Lâm có thêm một đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh, là nơi tu học cho Tăng Ni, Phật tử hữu duyên với thiền tông.

Với sự gia hộ của Tam bảo, nương uy đức và phước trí của Hòa thượng Tôn sư, sự quan tâm giúp đỡ đầy đạo tình của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương, chư vị Lãnh đạo Đảng, Chánh quyền tỉnh Bình Dương, huyện Phú Giáo và địa phương sở tại, cộng với sự phát tâm hỷ cúng của quý Phật tử, Thiền viện đã được xây dựng và hoàn thành mỹ mãn trong thời gian sớm nhất. Sự tận tụy và đồng tâm hợp lực của chư Tăng Ni cũng như công đức hộ trì Tam bảo của tất cả quý vị thật vô cùng cao quý. Chúng tôi xin thành tâm cảm niệm tri ân.

Sự có mặt của ngôi Thiền viện nơi vùng sâu vùng xa chính là niềm vui của Phật tử Phú Giáo nói riêng và Phật tử Bình Dương nói chung. Sự kiện này cho thấy công đức pháp hóa của Hòa thượng Trúc Lâm ngày càng lan tỏa và thấm sâu vào tâm thức của những người con Phật. Thiền tông Việt Nam đã và đang có mặt khắp nơi trên đất nước thân yêu. Chúng tôi xin được gởi gắm niềm tin đến chư Tăng Ni và Phật tử nơi đây, mong tất cả hãy vâng theo di huấn của đức Phật, cảm trọng ân đức của Hòa thượng Ân sư, luôn sống đúng với tinh thần hòa kính, tu theo đường lối chủ trương của Thiền phái Trúc Lâm do Hòa thượng Ân sư chỉ dạy.

Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh này, thay mặt Hòa thượng Tôn sư, thay mặt Ban Quản Trị Thiền phái Trúc Lâm, chúng tôi xin trân trọng kính mừng Lễ Khánh thành - An vị Phật Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên. Một lần nữa xin thành kính tri ân chư tôn Giáo phẩm Lãnh đạo Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương, Ban Trị sự huyện Phú Giáo, các cấp chánh quyền địa phương sở tại, rất mong quý Ngài tiếp tục quan tâm giúp đỡ cho thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên trong những giai đoạn sắp tới.

Đồng thời cũng xin gởi đến gia đình Phật tử Từ Vân lời chúc nguyện thân an tâm lạc, Bồ-đề tâm kiên cố, luôn vững tiến trên bước đường học đạo tu nhân, cùng gởi đến toàn thể quý Phật tử lời tán dương công đức, quý vị là hàng đệ tử hộ đạo của đức Phật, luôn có mặt và đồng hành với chư Tăng Ni trên bước đường hộ trì chánh pháp. Tất cả công đức có được nguyện hồi hướng về cho pháp giới chúng sanh hàm triêm lợi lạc.

Kính nguyện Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển, Thiền phái Trúc Lâm sống mãi trong lòng Phật giáo và Tăng Ni Phật tử Việt Nam.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

ĐẠO TỪ CỦA HÒA THƯỢNG TÔNG SƯ

ĐẠO TỪ CỦA HÒA THƯỢNG TÔNG SƯ
LỄ KHÁNH THÀNH TRÚC LÂM THANH NGUYÊN

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,

Cung kính ngưỡng bạch Thầy,

Vâng lời Thầy dạy trong công tác xây dựng các thiền viện, chúng con đã ngày đêm khẩn trương thi công để thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên có thể Khánh thành trong thời gian sớm nhất. Vì Thầy lúc nào cũng mong muốn Tăng Ni đi vào nề nếp tu học càng sớm càng tốt. Như Thiền sư Đại Giác đã dạy “Thời gian không hẹn, mạng người khó bảo tồn. Nguồn tâm nếu đục, đường trước lại mờ, cơn bệnh chợt đến, vô phương chống đỡ. Khi ấy lo lắng ăn năn thì đã quá muộn, chưa lúc nào bằng lúc này. Mỗi người chúng ta gắng tự nỗ lực. Nên biết hạnh lành chẳng chất chứa, danh đâu thơm nức. Một pháp chóng sáng, muôn duyên tỏ rạng”.

Hôm nay thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên đã hoàn thành viên mãn công tác xây dựng, toàn thể chúng con hàng môn hạ của Thầy, đồng lòng cung thỉnh Ân sư chấn tích quang lâm thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên chứng minh khai mạc Đại lễ Khánh thành. Chúng con một lòng quy ngưỡng về Hòa thượng Ân sư, đê đầu đảnh lễ cảm bội ân đức của Thầy. Lòng bi mẫn của Ân sư mãi là từ lực tiếp sức cho chúng con và chúng sanh trong suốt cuộc hành trình tiến đến Phật đạo. Ngưỡng mong trên Thầy thùy từ lân mẫn chứng tri cho lòng thành của chúng con.

Dưới đây, chúng con xin phép trích đọc một đoạn lời dạy của Thầy năm xưa, để sách tấn chư huynh đệ hôm nay trên bước đường tu học:

Kể từ hôm nay, chúng tăng đã bớt phần lao nhọc, chỉ còn chăm sóc vườn cây và gieo trồng rau cải để tiêu dùng hàng ngày. Thế thì chúng tăng phải dồn hết tâm lực vào việc tu học, là việc bổn phận của mình. Người tu theo đạo Phật, ai ai cũng khao khát được học chánh pháp, được có nơi an ổn tu hành. Nơi đây hiện giờ có đủ hai yếu tố này, tăng chúng không còn chần chờ lo ngại gì nữa, nên hạ quyết tâm tu cho được sáng đạo mới mãn nguyện của mình và khỏi hổ thẹn một đời làm tăng sĩ.

Những năm cuối đời, tôi mong được trông thấy khu vườn thiền tông, những đóa hoa nở rộ thơm ngát và kết nhiều chùm quả chín mọng ngọt ngào. Được vậy tôi mới an lòng toại nguyện khi ra đi. Đó là lời nhắc nhở của tôi gởi đến chư tăng tại nơi này.

 

Hình ảnh TVTL Thanh Nguyên

 NAM MÔ PHẬT BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI

 Năm 2002, gia đình Phật tử Từ Vân hiến khu đất tại xã Tam Lập, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, cúng dường Hòa thượng Tôn sư thượng Thanh hạ Từ, với mong muốn nơi đây sẽ được xây dựng thành một thiền viện để tiếp độ tứ chúng tu học đúng theo đường lối Thiền Tông Trúc Lâm Việt Nam. Hòa thượng hứa khả và giao cho chúng tôi tiếp nhận gìn giữ.

 Đầy đủ duyên lành năm 2013 Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương và các cấp chính quyền chấp thuận cho phép thành lập Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên. Sau đó Thiền viện chính thức làm lễ động thổ xây dựng trong niềm hoan hỷ của toàn thể chư tôn lãnh đạo GHPGVN tỉnh Bình Dương, chư tôn đức tăng ni trong thiền phái Trúc Lâm và đạo tràng Phật tử.

 Với sự hộ trì của Tam bảo, nương phúc trí của Hòa  thượng Tôn sư, sự giúp đỡ của chư tôn Giáo phẩm, chư tôn đức BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương, huyện Phú Giáo cùng các cấp chính quyền tỉnh nhà và sự đồng tâm hiệp lực đóng góp của đông đảo Phật tử gần xa. Sau bảy tháng thi công, Thiền viện Trúc Lâm Thanh Nguyên đã hoàn thành phần cơ bản.

 Chúng tôi thành tâm tri ân chư tôn đức và chính quyền các cấp cùng quý nam nữ Phật tử đã tích cực hỗ trợ chúng tôi thực hiện Phật sự này được thành tựu viên mãn.

 

BBT xin giới thiệu một số hình ảnh TVTL Thanh Nguyên trước ngày khánh thành

tvtlthanhnguyen


PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN - Thiền Thất Thường Lạc

 

Vénérable THÍCH THANH TỪ

 

METHODE DE MEDITATION ASSISE

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN

 

PREFACE

 

Cette méthode de méditation assise selon la voie de Thiền Tông Việt Nam [Bouddhisme Zen Vietnamien] comprend un certain nombre de mouvements de base appliqués à notre pratique. Elle a servi de guide aux moines et moniales dans les différents monastères de méditation, mais également aux bouddhistes laïcs désireux de la suivre à domicile.

De par nos expériences, nous avons pu observer des résultats évidents chez les pratiquants comme l’acquisition progressive d’un état calme physique et spirituel, le renforcement quotidien d’une sagesse les menant à une vie perfectible et paisible, au travers d’actions  ‘‘moins égocentriques et plus altruistes’’ apportant le bon, le beau et le serein pour eux-mêmes, à leurs familles et la société.

Ces derniers temps, de nombreuses communautés religieuses et laïques ont sollicité notre enseignement dans le désir d’apprendre et de pratiquer cette méthode.

Afin de répondre à ce besoin, nous avons mis à jour et réédité ce petit manuel en espérant qu’il constituera une aide utile à tout pratiquant monastique ou laïc débutant, attiré par le Thiền Tông Vietnamien. 

Monastère Trúc Lâm Dalat

Fête du Vesak année 2553

du calendrier Bouddhique (2009)

Vénérable THÍCH THANH TỪ

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Phương pháp tọa thiền này theo đường lối Thiền Tông Việt Nam, bao gồm một số động tác căn bản mà trong thời gian qua chúng tôi đã ứng dụng tu và hướng dẫn cho chư Tăng, Ni tại các thiền viện hành trì, đồng thời cũng có một số Phật tử tại gia ham mộ tu thiền quan tâm thực hành.

Kiểm nghiệm qua thực tế công phu, chúng tôi nhận thấy đều có những kết quả nhất định như: thân tâm hành giả dần dần được an định, trí tuệ ngày càng tăng trưởng, đời sống theo đó mà được thuần thiện và an lạc - thể hiện qua những việc làm “xả kỷ vị tha”, góp phần đem lại cho bản thân, gia đình và xã hội một nhân tố tốt đẹp, an bình.

Gần đây, nguyện vọng tìm hiểu và thực hành môn tọa thiền này được nhiều giới các nơi yêu cầu chúng tôi chỉ dẫn.

Để đáp ứng phần nào nhu cầu trên, chúng tôi điều chỉnh và cho tái bản. Mong rằng quyển sách nhỏ này sẽ giúp ích bước đầu cho chư Tăng, Ni, Phật tử yêu thích Thiền học Việt Nam.

Thiền viện Trúc Lâm

Mùa Phật đản PL.2553- 2009

Hòa thượng THÍCH THANH TỪ

 suong4

 

PRATIQUE DE MEDITATION ASSISE
 

Au cours de la vie quotidienne, soumis aux multiples phénomènes externes, notre esprit est constamment sollicité ; c’est cette agitation qui trouble notre tranquillité. L’esprit constitue la source du cycle de naissance et de mort générant nos afflictions, c’est également l’origine du Nirvāṇa.

Ainsi, la méditation est un moyen enseigné par Bouddha pour ramener le mental à l’attention juste.

En toutes postures, en marchant, debout, assise ou allongée, nous devons apprendre à vivre en pleine conscience, et cela même dans toutes nos activités quotidiennes. Cependant pour les débutants, la posture assise s’avère être la pratique la plus adaptée de toutes.

 

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN


Hằng ngày khi chúng ta đối duyên xúc cảnh tâm ý dao động, từ sự dao động đó nên tâm không được khinh an. Tâm là đầu mối của sanh tử phiền não và cũng là nguồn cội của Niết bàn.

Do đó, Phật phương tiện chỉ dạy thiền định để nhiếp tâm chánh niệm.

Trong các oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, chúng ta phải tập sống trong trạng thái tỉnh thức. Hằng thắp sáng hiện hữu của mình trong mọi hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên đối với người sơ cơ, tọa thiền vẫn là một phương pháp thù thắng hơn các oai nghi kia.

 

MATERIEL REQUIS

 

▪ Un coussin rond rembourré de kapok, de 20 cm de diamètre sur 20 cm de hauteur, laquelle se réduit à 10 cm pour une assise convenable, les dimensions du coussin étant fonctions des préférences du pratiquant.

▪ Un tapis carré de 70 cm de côté, à étendre sur le sol et à placer sous le coussin.

▪ Une serviette souple ou un coussinet est utilisé pour combler l’intervalle entre les jambes croisées.

 

 DỤNG CỤ TỌA THIỀN

 

▪ 1 bồ đoàn tròn, đường kính 2 tấc, bề cao 2 tấc, dồn gòn khi ngồi xuống còn 1 tấc là vừa.

▪ 1 tọa cụ vuông 7 tấc để trải dưới, bồ đoàn đặt lên trên.

▪ 1 khăn lông hoặc 1 gối nhỏ dùng để chêm bên trên lòng bàn chân trũng.

 

LA MEDITATION ASSISE

Elle est composée de trois étapes:

Entrer - Demeurer – Sortir

 

TỌA THIỀN

Có 3 giai đoạn:

Nhập - Trụ - Xuất

 

A- ENTRER EN MÉDITATION
 

A- NHẬP THIỀN

 

- Quand la session commence, étendez le tapis et disposez le coussin en bordure.

- Đến giờ tọa thiền, trải tọa cụ ra, đặt bồ đoàn lên tọa cụ.

 

- Asseyez-vous, le coccyx au milieu du coussin. Balancez-vous latéralement pour trouver une position confortable avant de replier vos jambes.

- Ngồi lên bồ đoàn, xương cùng đúng giữa bồ đoàn, nghiêng qua nghiêng lại cho an ổn mới kéo chân ngồi.

 

- Desserrez la ceinture, défaites le col de chemise et redressez le corps.

- Nới rộng dây lưng, cổ áo, sửa thân ngay thẳng.

 

- Il y a deux postures d’assise : Lotus et Demi-lotus. 

- Có hai thế ngồi: Kiết già và Bán già.

 

- En demi-lotus: repliez le pied gauche sur la cuisse droite ou vice versa, selon les préférences du pratiquant.

▪ Nếu ngồi bán già, kéo chân trái để lên chân phải hoặc ngược lại, tùy theo chiều thuận của mỗi người.

 

- En lotus: repliez le pied gauche sur la cuisse droite. 

▪ Nếu ngồi kiết già, chân trái kéo để lên đùi phải.

 

- Puis placez le pied droit sur la cuisse gauche ou vice versa.

- Chân phải để lên đùi trái. Hoặc ngược lại cũng được.

 

- La main droite est posée sur la gauche. Les deux mains reposent sur le coussinet. Les deux pouces se touchent légèrement, à hauteur du nombril.

- Lấy bàn tay phải để lên bàn tay trái. Hai bàn tay để lên hai lòng bàn chân. Những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, nằm ngay chiều rún.

 

- Les coudes embrassent confortablement les flancs.

- Cùi chỏ vừa ôm hông là được.

 

- Si l’espace entre les pieds est trop prononcé, comblez-le avec le coussinet.

- Nếu lòng bàn chân nào trũng nên dùng gối kê lên cho bằng.

 

- Balancer le tronc cinq fois en avant et en arrière, à gauche et à droite en vue d’établir un équilibre optimum en diminuant l’amplitude au fur et à mesure.

Chuyển động thân 5 lần, ban đầu mạnh sau nhẹ dần.

 

- Installez-vous le dos droit, ni raide ni voûté ni incliné, tête légèrement penchée en avant. Le dos voûté et la tête tombante occasionnent de la somnolence.

- Ngồi lưng thẳng vừa phải, đừng quá ưỡn cũng đừng để cong hoặc ẹo, đầu hơi cúi. Lưng còng và đầu cúi dễ sanh hôn trầm.

 

- L’extrémité du nez et les pouces devraient être dans un même plan vertical. Les oreilles surplombent les épaules. Les paupières devraient être ouvertes d’un tiers. Le regard dirigé vers un endroit approprié: un champ visuel trop court induit la somnolence, trop éloigné il facilite la distraction.

- Chiều chóp mũi ngay đầu ngón tay cái, hai trái tai đối xứng với hai bả vai, mắt mở 1/3, tầm nhìn không quá xa: nhìn quá gần dễ sanh hôn trầm, quá xa dễ sanh tán loạn.

 

- Ceux moins enclins à l’endormissement pendant la méditation peuvent fermer les yeux afin de faciliter la concentration et la vision profonde. Restez immobile, le visage reposé et serein. 

- Người nào ít hôn trầm có thể ngồi nhắm mắt, sẽ dễ phản quan hơn. Ngồi yên gương mặt bình thản, vui tươi.

 

- Ensuite, inspirez lentement et profondément à travers le nez. Imaginez l’air pur inspiré se répandre dans toutes les parties du corps. Puis ouvrez légèrement la bouche et expirez légèrement et à fond. En expirant, imaginez que toutes les peines, afflictions et souillures soient exhalées.

- Dùng mũi hít vô cùng, đừng mạnh cũng đừng gấp, phải đều đều nhẹ nhẹ, tưởng như “không khí trong sạch vô khắp châu thân làm cho những chỗ không thông theo hơi thở lưu thông”, rồi há miệng thở ra sạch tưởng như “phiền não, bệnh hoạn, cấu uế đều theo hơi thở ra ngoài”.

- Faites-le à trois reprises et de manière décroissante. 

- Thở như thế đến 3 lần cũng từ thô đến tế từ mạnh rồi nhẹ dần.

 

-  Après la troisième respiration, les lèvres se closent, la pointe de la langue touchant légèrement la base des incisives supérieures. Pour le reste de la session, le souffle va et vient régulièrement et doucement par le nez.

- Thở xong ngậm miệng lại, môi và răng vừa khít lại, lưỡi để lên trên. Từ đây về sau chỉ hít thở bằng mũi đều đều, nhẹ nhẹ. 

 suong5

 

B- DEMEURER EN MEDITATION

B- TRỤ THIỀN

 

Il y a trois phases successives pour les débutants:

Có ba phương pháp dành cho người sơ cơ:

  

1/ LE COMPTAGE DE LA RESPIRATION

Sổ veut dire compter et tức, le souffle: Sổ tức quán signifie « observer l’inspir et l’expir par comptage » silencieusement jusqu’à dix puis répéter le processus.

Il y a deux systèmes de comptage rapide et lent:

▪ Comptage rapide: inspirez, comptez “un”, expirez, comptez “deux” ; puis, inspirez, comptez “trois” et ainsi de suite en comptant jusque “dix”, ensuite recommencez la série de “dix”.

▪ Comptage lent: inspirez et expirez, comptez “un”, inspirez et expirez, comptez “deux”, continuez ainsi jusqu’à atteindre “dix”, puis recommencez à un. Poursuivrez ainsi toute la session.

Recommencez la série si pendant le comptage le pratiquant s’oublie ou se trompe.

Après une certaine période d’entraînement, lorsque le pratiquant ne fait plus d’erreurs, il peut passer à la phase du Suivi de la Respiration.

1/ SỔ TỨC QUÁN

Sổ là đếm, tức là hơi thở. Sổ tức quán là quan sát hơi thở ra vô, đếm từ một đến mười.

Có hai cách sổ tức: Nhặt và Khoan.

▪ Nhặt: Hít vô đếm một, thở ra đếm hai... Lần lượt đến mười, rồi trở lại bắt đầu từ một.

▪ Khoan: Hít vô thở ra đếm một, hít vô thở ra đếm hai, lần lượt đến mười, rồi bắt đầu trở lại từ một. Cứ đếm như thế suốt thời gian tọa thiền.

Nếu trong lúc đếm từ một đến mười, nửa chừng quên hoặc bị lộn số, ta bắt đầu trở lại từ một...

Sau một thời gian tu tập, hành giả đếm thuần thục không còn lộn số nữa thì ta bước qua giai đoạn Tùy tức.

 

 2/ LE SUIVI DE LA RESPIRATION

Tùy veut dire suivre et tức le souffle. Tùy tức veut dire suivre ou observer le souffle en étant pleinement conscient de chaque mouvement respiratoire.

En scrutant sa respiration, il est conseillé de visualiser le cours de la vie dans un simple souffle. Sans inspiration, la vie se termine à l’expiration même. Autant le souffle est impermanent, autant la vie est elle fragile et éphémère.

Lorsque le suivi de la respiration est parfaitement assimilé, le pratiquant peut passer à la troisième phase, la reconnaissance des pensées.

2/ TÙY TỨC

Tùy là theo, tức là hơi thở. Tùy Tức là theo dõi hơi thở. Hít hơi vô tới đâu là biết tới đó. Hơi thở ra đến đâu cũng đều biết rõ.

Trong khi theo dõi hơi thở, nên dùng trí quán mạng sống trong hơi thở, thở ra mà không hít vào là mạng sống không còn tồn tại. Hơi thở đã vô thường thì mạng sống của ta cũng mong manh giả tạm.

Khi theo hơi thở thuần thục rồi, hành giả bước sang giai đoạn Tri vọng.

3/ LA RECONNAISSANCE DES PENSEES ILLUSOIRES

Au début de la deuxième étape de la méditation assise, observez la respiration pendant quelques minutes, puis relâchez le suivi, laissant l’esprit concentré et apaisé. Dès qu’une pensée surgit, reconnaissez-la aussitôt, mais sans la suivre. Continuez ainsi, les pensées deviendront de plus en plus rares jusqu’à finalement cesser. Les pensées disparaissantes, l’esprit redevient serein, silencieux et clair. L’escient omniprésent est cette connaissance qui se manifeste à travers les six sens.

 

3/ TRI VỌNG

Khi bắt đầu trụ thiền, hành giả theo dõi hơi thở ra vào an ổn đôi ba phút, rồi buông hơi thở để tâm an tịnh. Vừa có vọng khởi liền biết vọng không theo, cứ thế cho đến khi vọng thưa dần và im bặt. Vọng lặng thì tâm thanh tịnh, rỗng rang trong sáng, chân tâm hiện tiền. Cái biết hiện bày nơi sáu căn.

         

 REMARQUES UTILES:

CHÚ Ý:

Pendant la séance, nous devons nous accorder de manière avisée.

Trong lúc tọa thiền phải khéo tự điều chỉnh.

 

▪ En cas de somnolence, le pratiquant doit rouvrir les yeux et se ressaisir. Durant une longue assise, si l’on en vient à somnoler, ouvrez largement les yeux, réajustez le corps, ravivez l’attention et revenez à l’état premier solennel.

▪ Nếu mơ màng ngủ gục thì mở mắt sáng ra, chấn chỉnh thân tân phấn chấn, trang nghiêm lại.

 

▪ Pendant la méditation assise, une fuite de salive est signe de dispersion et qu’il faudra se ressaisir.

▪ Trong khi ngồi nếu thấy chảy nước miếng là hoãn (lơ là) nên chấn chỉnh lại.

 

▪ Une sensation d’oppression thoracique, un pincement au cœur, une gêne respiratoire traduisent une posture trop rigide : infléchissez-vous un peu.

▪ Nghe ngực nặng, tim hơi nhói là do ngồi thẳng quá, hơi thở không thông nên rùn xuống một chút.

 

▪ Une gêne lombaire est due à l’affaissement du corps : redressez-vous.

▪ Nghe nhức xương sống gần lưng quần, biết ngồi cong, phải thẳng lên.

 

▪ Une douleur au flanc est provoquée par l’inclinaison unilatérale.

▪ Đau hông là do bị nghiêng.

 

▪ Une douleur unilatérale de l’épaule pourrait révéler une bascule des épaules avec un côté plus bas que l’autre : réajustez leur position.

▪ Nếu nhức một bên vai, coi chừng hai vai không ngang nhau, một bên bị lệch xuống.

 

▪ Une douleur bilatérale des épaules pourrait être la conséquence d’une crispation des 2 membres supérieurs. Il faudra relâcher tout le corps dans une posture de détente.

▪ Nếu nhức cả hai vai là do gồng hai tay, phải nới lỏng ra, toàn thân ở trong tư thế thư giãn.

 

▪ L’endolorissement des fessiers provient du fait que le corps se penche trop en arrière.

▪ Đau mông là vì ngồi ngửa người ra phía sau.

 

▪ Une sensation de lourdeur de la tête ou des bourdonnements d’oreille est due à une assise trop rigide, corps et tête trop tendus. Relâchez-vous doucement, cela disparaîtra spontanément.

▪ Nghe trên đầu có gì đè nặng, hoặc nghe vo ve bên lỗ tai, là vì ngồi kềm, gồng mình, đầu hơi cứng nên mới có triệu chứng như vậy, chứ không có gì lạ. Nhẹ nhàng buông xả thư giản, một lúc sẽ hết.

 

Durant la méditation, si des épiphénomènes tels que sensation de pesanteur, d’apesanteur, ou encore de démangeaisons tels les picotements dans le corps, l’insecte qui rampe sur le visage, ou tel le courant électrique à travers la colonne vertébrale, ou encore de halo lumineux, d’images mouvantes étranges, de chuchotements... Tout ceci n’est que sensation, par conséquent, les pratiquants ne doivent ni s’en réjouir ni s’en effrayer. Considérez-les comme faux et éphémères. Restez assis tranquillement, maîtrisez votre corps et votre esprit. Même à la vue de fantômes ou du Bouddha lui-même, rendez vous clairement compte que ce ne sont que des illusions. Tant la joie que la peur peuvent provoquer la folie, n’y soyez pas attachés, dès lors elles s’évanouiront.

Khi ngồi thiền, nếu có những tướng lạ như thân nặng nề giống như có vật gì đè nặng, thân nhẹ nhàng muốn bay bổng, ngứa trên thân, mặt như có con gì bò, cảm giác có luồng điện chạy trong xương sống, thấy phía trước có ánh sáng hoặc các hình lạ, nghe có người nói bên tai. Tất cả những tướng ấy đều giả, không nên chấp nhận hay sợ hãi. Phải quán nó hư giả, ngồi yên làm chủ thân tâm. Dù thấy ma hay Phật, hành giả đều thấy cảnh huyễn, không mừng cũng không sợ. Vui mừng hay sợ hãi đều là nhân của điên cuồng. Không chấp trước, không quan tâm để ý , huyễn cảnh sẽ tự mất.

  C- SORTIR DE MEDITATION

C- XẢ THIỀN

 

A la sortie de la méditation, récitez intérieurement les stances de transfert de mérites:

Que ces mérites et vertus de la pratique

Soient dédiés à tous

A nous-mêmes et aux êtres sensibles

Afin de réaliser la Bouddhéité.

 Khi xả thiền, trước thầm đọc bài nguyện hồi hướng:

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

 

 

Ensuite, inspirez profondément par le nez et expirez à fond par la bouche trois fois de manière croissante. En inspirant, visualisez le sang accompagner le souffle qui circule partout dans le corps. En expirant, imaginez toutes les afflictions, maladies et impuretés s’exhaler. En sortant de méditation, tous les mouvements respiratoires et gestuels s’amplifient graduellement.

Kế dùng mũi hít vào thật sâu, dùng miệng thở ra 3 hơi, từ nhẹ đến mạnh. Hít vô tưởng như máu huyết theo hơi thở lưu thông khắp cơ thể. Thở ra tưởng như phiền não, bệnh hoạn, cấu uế theo hơi thở ra ngoài. Xả thiền, mọi hơi thở, động tác đều từ nhẹ đến mạnh.

 

- Remuer de haut en bas les épaules, cinq fois pour chaque côté.

- Động hai bả vai lên xuống, mỗi bên 5 lần.

 

- Hocher la tête cinq fois.

- Động cái đầu, cúi xuống ngước lên 5 lần.

 

- Tourner la tête à gauche et à droite, cinq fois de chaque côté.

- Xoay đầu sang phải, sang trái mỗi bên 5 lần.

 

- Puis hocher la tête une dernière fois.

- Cúi xuống ngước lên 1 lần cuối.

 

- Plier et déplier cinq fois les doigts.

- Động hai bàn tay, xòe nắm 5 lần.

 

- Etirer la colonne en s’appuyant sur les mains cinq fois, puis balancer le tronc d’avant en arrière, et latéralement.

- Động thân từ nhẹ đến mạnh 5 lần.

 

- A la cinquième fois, placez les mains sur les genoux et pressez fortement.

- Lần chót dời hai bàn tay úp lên hai đầu gối, nhấn mạnh xuống.

 

- Frictionner les paumes en les frottant ensemble, puis masser vingt fois le visage.

- Xoa mặt 20 lần.

 

- Masser vingt fois les oreilles.

- Xoa hai lỗ tai 20 lần.

- Masser vingt fois la tête.

- Xoa đầu 20 lần.

 

- Masser vingt fois la nuque.

- Xoa sau gáy 20 lần.

 

- Masser vingt fois la face antérieure du cou.

- Xoa cổ 20 lần.

 

- Utiliser la main droite pour frotter le bras gauche de l’épaule au poignet, en même temps utiliser la main gauche pour frotter le flanc droit de l’aisselle à la hanche, dix fois de chaque côté.

- Dùng bàn tay phải xoa từ vai xuống cánh tay. Bàn tay trái xoa từ nách xuống bên hông, hai bên kết hợp xoa một lượt mỗi bên 10 lần.

 

- Placer la paume de la main droite sur la poitrine et le dos de la main gauche sur le dos.

- Lòng bàn tay phải đặt lên ngực, lưng bàn tay xoa lên lưng, hai tay kết hợp xoa ngang một lượt.

 

- Masser d’un mouvement latéral cinq fois successivement le thorax, l’abdomen et le bas ventre en même temps que le dos.

- Xoa 3 điểm: ngực, bụng, bụng dưới mỗi chỗ 5 lần.

 

- Avec les deux poings, masser la région lombaire, les fessiers et frictionner les cuisses avec les paumes autant de fois que nécessaire.

- Dùng hai bàn tay xoa thắt lưng, xoa mông, xoa đùi (tùy theo đau nhiều hay ít mà xoa, không có số lượng).

 

- Frictionner les paumes ensemble pour les échauffer.

- Chà hai bàn tay cho nóng.

 

- Les appliquer légèrement sur les yeux, le tout cinq fois.

- Áp vào mắt 5 lần.

 

- Saisir avec une main les orteils du pied, et avec l’autre main la cheville, soulever et poser le pied délicatement.

- Một tay nắm đầu các ngón chân, một tay đỡ cổ chân từ từ để nhẹ xuống.

 

- Frictionner fermement  la jambe, de la cuisse au pied.

- Hai bàn tay cùng xoa mạnh lên xuống từ đùi đến bàn chân.

 

- Terminer par le massage vivifiant de la plante du pied.

Le massage d’une jambe étant terminé, passer à l’autre jambe en la frictionnant autant de fois que nécessaire.

- Chà nóng lòng bàn chân.

Xoa chân này xong rồi đổi sang chân kia, xoa tùy thích không có số lượng.

 

- Etendre complètement les deux jambes.

- Duỗi thẳng hai chân ra.

 

- Penchez-vous cinq fois en avant et touchez les orteils avec les doigts.

- Thân rướn về phía trước, các ngón tay vừa chạm đầu các ngón chân 5 lần.

 

- Enfin retirer le coussin et rester immobile en position solennelle quelques instants avant de se lever et de se prosterner devant Bouddha.

- Dời thân khỏi bồ đoàn, ngồi yên khoảng vài phút mới đứng dậy lạy Phật.

 

NOTES :

En sortant de la méditation, chaque mouvement s’effectue en massant fermement la peau et les muscles, mais sans brutalité. La durée de l’assise dépend de chaque individu et des circonstances. Plus la séance est longue, plus les pratiquants devront se masser soigneusement pour rétablir la circulation, assouplir les tendons et articulations en prévenant ainsi le risque de sciatique. Tous les mouvements et la respiration s’effectuent de doucement à plus amplement. La durée de ce massage post-méditation dure de 10 à 15 minutes.

 

CHÚ THÍCH :

Khi xả thiền mọi động tác xoa bóp đều phải ấn mạnh vào da thịt, nhưng đừng thô ồn. Thời gian ngồi thiền tùy theo hoàn cảnh hay điều kiện của từng người mà ngồi lâu hay mau. Ngồi càng lâu thì xả thiền xoa bóp càng kỹ, giúp các mạch máu được lưu thông, gân cốt mềm dẻo, tránh bị bệnh thần kinh tọa. Các động tác và hơi thở bắt đầu từ tế đến thô. Thời gian xả thiền từ 10 đến 15 phút.

LỜI CHỈ DẠY CỦA HÒA THƯỢNG ÂN SƯ MÙA AN CƯ NĂM 2014

LỜI CHỈ DẠY CỦA HÒA THƯỢNG ÂN SƯ MÙA AN CƯ NĂM 2014
 

Cùng tất cả Tăng Ni,

Mỗi năm trước mùa An cư kiết hạ, Tăng Ni về đây đảnh lễ cầu tôi chỉ dạy pháp yếu, quý vị nương theo đó tu học cho được kết quả tốt đẹp. Hôm nay tôi nhắc lại một số điều cần thiết, chư Tăng Ni nhớ ghi và hành trì, sao cho xứng đáng một mùa an cư có ý nghĩa.

Lâu nay chúng ta tu thiền, lấy kinh Bát-nhã làm nền tảng, tức là phải đạt được lý Không thì mới thấu được lý thiền. Phật dạy rất rõ ràng, chúng ta có thân tứ đại, thân bằng quyến thuộc, có nhà cửa, chùa chiền v.v... Tất cả những thứ đó đối với người hiểu sâu đạo lý đều là giả. Người thấu đáo tường tận lý Bát-nhã thì không thấy có một pháp thật ở giữa thế gian này.

Như vậy kinh Bát-nhã là bài kinh quan trọng và thông dụng trong Phật pháp. Đạo Phật là đạo giác ngộ, muốn giác ngộ phải có con mắt trí tuệ, mà Bát-nhã là trí tuệ. Chư vị Bồ-tát đã thấu suốt được lý Bát-nhã, nên lúc nào các ngài cũng vui vẻ dấn thân vào đời làm lợi ích chúng sanh, quên mình vì tha nhân. Chúng ta nguyện đi trên con đường Bồ-tát đạo, cần phải học theo gương hạnh của các ngài. Trước phải có trí tuệ thấy biết như thật, không nên cố chấp sai lầm, tự lợi cho mình sau mới nghĩ đến lợi tha.

Cho nên trong thời gian tu học ở thiền viện, quý vị phải cần mẫn siêng năng, học hỏi đạo lý, nuôi dưỡng đức hạnh, huân sâu chủng tử Bát-nhã. Người con Phật đầy đủ trí tuệ, đức độ mai kia mới có thể làm Phật sự, mở mang giáo hóa mọi người. Nếu ngày nay Tăng Ni không chịu tu học thì mai kia không làm được gì, thật đáng hổ thẹn. Như vậy là tự phí cuộc đời mình, lại làm tổn thương lòng kính tin Tam bảo của Phật tử. Tăng Ni nên ý thức mình đang vay nợ Phật tử, vì thế phải học phải tu cho xứng đáng, để sau này đền đáp lại công ơn của đàn na tín thí. Nếu tu học lơ mơ chẳng những cô phụ công ơn thầy tổ, cha mẹ, chư Phật tử, mà còn hủy cả cuộc đời của mình. Thật đáng trách!

Mỗi ngày quý vị phải cần kiệm thời gian tu học, không được để mất một giờ hay nửa giờ nào hết. Bởi vì mỗi giờ tu là mỗi giờ vàng ngọc, mỗi giờ làm Phật. Chúng ta nguyện sớm được giác ngộ giải thoát, ra khỏi biển khổ trầm luân, cứu độ chúng sanh thì lẽ đương nhiên phải tu cho đến nơi đến chốn. Vì thế việc tu hành là một trọng trách nặng nề, chứ không phải dễ dàng. Muốn giác ngộ phải ngồi thiền cho được định, định rồi mới có trí tuệ tỉnh sáng. Ngay đời này chúng ta cương quyết phải tỉnh phải giác. Đừng bao giờ nói tu gieo nhân để đời sau tu tiếp mà phải quyết tử đời này cho xong. Bởi vì có ai biết được đời sau có gặp Phật pháp nữa hay không? Cho nên mỗi vị phải cố gắng tận lực, không nên hẹn lần hẹn lữa qua ngày.

Tất cả Tăng Ni phát tâm xuất gia tu hành đều nuôi ý chí xuất trần. Tu để vượt thoát trần lao ra khỏi sanh tử thì tâm phải cương quyết như sắt đá, chứ không thể lôi thôi được. Xuất trần nói đủ là xuất trần thượng sĩ, tức là bậc thượng sĩ ra khỏi trần lao. Cho nên phải mạnh dạn dẹp bỏ hết thói hư tật xấu. Những gì ương yếu phải hăng hái làm cho mạnh mẽ lên, như vậy sự tu mới có kết quả tốt. Đừng để thói quen yếu đuối làm lui sụt, dù cảnh duyên bên ngoài dễ hay khó cũng phải giữ tâm không thối chuyển thì mới thực hiện được ý chí xuất trần. Cho nên tất cả phải cố gắng tu đến nơi đến chốn, không nên lừng chừng làm mất bản nguyện xuất trần của mình.

Mong chư Tăng Ni nhớ lời tôi nhắc nhở mà nỗ lực trong ba tháng an cư. Đừng bê trễ, đừng để một đời qua suông, không có kết quả gì. Làm sao mỗi năm tu mỗi tiến, càng tu càng vui tươi, an ổn, thảnh thơi. Nếu càng tu càng buồn là tu không đúng hoặc chưa biết tu. Chúng ta siêng năng tinh tấn vâng lời Phật dạy, sống với trí tuệ Bát-nhã, xa lìa vọng tưởng đảo điên, nhận được ông chủ của chính mình. Vậy mới xứng đáng là đệ tử Phật, xứng đáng là người tăng sĩ mang tâm nguyện tự lợi, lợi tha viên mãn.

Mùa An Cư 2014 - PL 2558


 

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

--------------------

Khoá tu 7 ngày tại Milson Island- Sydney- Australia new

  • Cơ duyên hình thành

Trong khi thiền đường Vô Ưu xây cất, một số thiền sinh không có nơi sinh hoạt, nên đạo hữu Trí Phát và Chơn Hỷ đã phát tâm cho sử dụng ngôi nhà toạ lạc tại số 56 Pringle Ave Bankstown làm nơi sinh hoạt.

Ngày 3 tháng 4 dương lịch năm 2010 quý Thầy Thích Thông Chiếu, Thích Thông Tướng, Thích Thông Nhã cùng quý Cô Thích Nữ Trí Định, Thích Nữ Huệ Căn và Thích Nữ Tâm Thanh đã từ bi đến làm lễ An Vị Tôn Tượng Phật cho ngôi nhà này và nó trở thành thiền đường từ đó.

• Danh hiệu

Tháng 12/2011 thiền đường được Hoà Thượng Trúc Lâm đặt tên là Phúc Đức

• Tu Tập

Mỗi tuần thiền sinh đến sinh hoạt từ 7 giờ chiều thứ bảy cho đến 4 giờ chiều chủ nhật

Thiền đường tổ chức 3 đến 4 khoá tu học ngắn hạn 2 đến 3 ngày mỗi năm.

Nếu đủ duyên thiền sinh có thể đăng ký nhập thất ngắn hạn.

hinh01

• Cơ sở vật chất hiện tại

Diện tích đất khoảng 1200m vuông. Thiền đường hiện có:

1x chánh điện
1x thiền đường
1x thiền thất
1x Tăng phòng
2x phòng ngủ cho Phật tử

• Nhân sự

Ban điều hành gồm có:

Trưởng chúng: Thuần Niệm (di động) 0422 035 665
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Phó chúng: Chơn Hỷ (di động) 0413 060 319
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Thủ quỹ: Chơn Đức (di động) 0424 573 999
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Từ Tâm (di động) 0414 466 521
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Chơn Lạc email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Tuệ Hạnh (di động) 0424 366 586
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Tuệ Trí (di động) 0714 040 739
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Phổ Khai Tuệ (di động) 0411 813 529
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

hinh02

Thời khóa sinh hoạt hàng tuần

Thứ bảy

+ 19g Tụng Kinh Sám Hối
+ 19g45 – 21g15 Tọa thiền
+ 21g15 – 21g45 Xả thiền - Hồi hướng
+ 22g00 Chỉ tịnh

Chủ nhật

+ 4g00 Thức chúng
+ 4g30 Tọa thiền
+ 6g30 Xả thiền
+ 7g30 Tiểu thực
+ 8g00 Lao tác
+ 8g30 Tụng Kinh Sám Hối Sáu Căn
+ 9g15 Tọa thiền
+ 10g15 Xả thiền
+ 11g00 Nghe Pháp
+ 12g00 Ngọ trai
+ 13g00 Chỉ tịnh
+ 14g00 Tọa thiền
+ 15g30 Xả thiền - Hồi hướng
+ 16g00 Hoàn mãn

 

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Nội Quy trong ngày Tu Học

Nội Quy

1. Phải theo đúng chương trình đã định.
2. Phải gìn giữ cẩn thận oai nghi, cử chỉ.
3. Không nên nghĩ đến việc nhà, việc thế gian.
4. Không nên đem việc thế gian ra mà nói.
5. Tắt điện thoại di động trong các khoá lễ, giờ toạ thiền, nghe Pháp, Ngọ Trai.
6. Phải áp dụng Lục hòa trong đời sống tu học:

Sáu phép hoà kính

1. Thân hòa đồng trụ:

Về phần thân, ăn, mặc, ngủ nghỉ và công tác, tất cả Thiền sinh đều hòa đồng nhau.

2. Khẩu hòa vô tránh:

Về phần miệng, luận bàn nói chuyện Thiền sinh phải dùng lời hòa nhã, không lớn tiếng cãi rầy.

3. Ý hòa đồng duyệt:

Đối đãi nhau, Thiền sinh tâm ý phải vui hòa, không cố chấp phiền hận.

4. Giới hòa đồng tu:

Tất cả Thiền sinh trong Thiền đường đều giữ 5 giới làm căn bản và sống đúng nội quy.

5. Kiến hòa đồng giải:

Sống chung nhau, Thiền sinh có những hiểu biết đều giải bày cùng nhau, đồng hiểu đồng cảm thông, không nên có thành kiến riêng tư.

6. Lợi hòa đồng quân:

Tất cả quyền lợi trong Thiền đường của những Thiền sinh hiện có mặt đều đồng nhau.

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200 

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Thời khoá nhập thất

+ 4g Thức dậy
+ 4g30 – 6g30 Tọa thiền/Kinh hành
+ 7g00 Ăn sáng
+ 8g – 8g30 Lao động tay chân
+ 9g Tụng Kinh Sám Hối
+ 10g – 11g30 Tọa thiền/kinh hành
+ 12g Dùng cơm trưa
+ 12g30 – 14g Chỉ tịnh
+ 14g – 16g Tọa thiền/kinh hành
+ 17g Vệ Sinh cá nhân
+ 18g Tụng Kinh Sám hối
+ 19g – 21g Tọa thiền/Kinh hành
+ 21g30 Nghỉ ngơi

Tiểu Sử - HT Thích Phước Hảo

 

TIỀU SỬ

CỐ HÒA THƯỢNG: THƯỢNG PHƯỚC HẠ HẢO

I.    THẾ TỘC

Hòa thượng húy Huỳnh Phước Hảo, Pháp hiệu Thích Phước Hảo sanh năm Canh Ngọ (1930) tại Vĩnh Bình (hiện nay thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, xuất thân trong gia đình Nho giáo. Thân phụ là Huỳnh Văn Thoàn, Pháp danh Nhựt Định. Thân mẫu là Trần Thị Sáu, Pháp danh Phước Vinh.

Hòa thượng mất mẹ lúc tuổi còn thơ. Ngài là con Trưởng trong gia đình, thay mẹ gánh vác và chăm lo đàn em thơ dại, nay là các vị: thầy Thích Thanh Tịnh, thầy Thích Thanh Thủy, thầy Thích Đạo Nhẫn và Ni sư Hải Huyền.

Túc duyên Phật pháp ngài gieo trồng sâu dày. Sau khi thân phụ mất, ngài là trụ cột gia đình, khuyến tấn người thân hướng về Phật pháp. Từ thuở thiếu thời, ngài sống giản dị, ăn uống đạm bạc.

II.   ĐẠO PHÁP

Cơ duyên Phật pháp chín muồi, ngài tìm đến tổ Khánh Anh tại Tổ đình Phước Hậu thuộc huyện Trà Ôn xin xuất gia vào năm 1949. Ngài từng theo chân tổ Thiện Hoa học nghề Y để giúp đỡ, chăm sóc và trị bệnh cho bà con láng giềng tại Chùa Phật Quang, Bang Chang, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1957, Hòa thượng thọ giới Tỳ-kheo, làm học Tăng của Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang - Sài Gòn. Sau đó ngài được đưa về Phật học đường Lưỡng Xuyên (chùa Phước Hòa, Trà Vinh), vừa làm học Tăng vừa làm Trụ trì của chùa.

Năm 1964, tổ Thiện Hòa cử ngài làm Chúng trưởng tại Phật học đường Nam Việt. Kế đó, ngài làm Liên chúng trưởng, rồi vào năm 1970 được bổ nhiệm về làm tổng Giám thị tại Phật học viện Huệ Nghiêm, huyện Bình Chánh, Gia Định.

Năm 1971, ngài theo Hòa thượng Ân sư thượng Thanh hạ Từ tu học tại Tu viện Chân Không, Vũng Tàu. Ngài vừa là sư đệ, vừa là đệ tử của Hòa thượng Ân Sư.

Năm 1974, ngài làm Quản viện của Tu viện Chân Không, sau đó được Hòa thượng Viện chủ điều về làm Quản viện của Thiền viện Linh Quang, Cát Lở, Thành phố Vũng Tàu.

Sau năm 1975,  ngài làm Trụ trì Tu viện Chân Không đến năm 1986. Từ năm 1987, Hòa thượng nhập thất 03 năm tại Thiền viện Thường Chiếu. Đến năm 1994, Tu viện Chân Không được tái thiết và đổi thành Thiền viện Chơn Không. Hòa thượng kế thừa Hòa thượng Ân sư Trúc Lâm làm trụ trì tại đây đến năm 2000. Từ 2001 cho đến nay, Ngài là cố vấn Thiền viện Chơn Không và Ủy viên Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm.

 Vào 8h 10 phút ngày 20 tháng 01 năm 2014, Ngài đã dẫn bài kệ của thiền sư Viên Chiếu Việt Nam giảng cho phật tử Chánh Tịnh:

Thân như tường vách đã lung lay,
Đau đáu người đời luống xót thay.
Nếu đạt tâm không, không tướng sắc,
Sắc không ẩn hiện, mặc vần xoay.

 (Thân như tường bích dĩ đồi thì
Cử thế thông thông thục bất bi.
Nhược đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc không ẩn hiển nhậm suy di.)

Vạn pháp luôn thay đổi, trong đó có tấm thân tứ đại theo định luật vô thường nên già yếu, nhưng riêng có cái không bao giờ đổi thay, suy lão. Chúng sanh vì sống với tâm lo sợ lao xao vọng động nên thật đáng thương. Nếu đạo hữu sống được với tâm không, cái tâm này vốn không hình mạo sắc tướng, thì chỉ tùy duyên mà sống. Nói xong, Thầy vui vẻ cười, rồi Chánh Tịnh xá chào ra về. sau đó, Hòa thượng bảo với thị giả Tôi hơi đau đầu rồi ngài lặng lẽ nhắm mắt nằm yên. Sang đến 11g30 ngày 21, Hòa thượng an tường ra đi.

Hòa Thượng có những dịch phẩm: Kinh Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ, Ngũ Đăng Hội Nguyên Tiết dẫn, Phật Tâm Luận, Vô Tướng Tụng giảng thoại. Ngoài ra, Ngài còn biên tập các bài giảng rải rác của Hòa thượng ân sư thành một tập sách tên Nhặt Lá Bồ Đề.