headertvtc new


   Hôm nay Thứ tư, 14/01/2026 - Ngày 26 Tháng 11 Năm Ất Tỵ - PL 2565 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtc2  Mong
 Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam Thế Kỷ 20-21

BIBLIOGRAPHIE - Thiền Thất Thường Lạc

BIBLIOGRAPHIE

Le Très Vénérable THÍCH THANH TỪ est l’un des grands maîtres thiền vietnamiens les plus populaires du Vietnam.

Son objectif est d’atteindre l’Eveil et de guider ses semblables dans cette recherche de la vérité ultime par la voie de la Méditation bouddhique. Il apprend à ses disciples à réaliser l’état non-mental de l’esprit pour pouvoir vivre avec la bouddhéité, la nature-de-Bouddha en soi.

Le Maître a dépensé toute son énergie à remettre en lumière les bases théoriques et pratiques de la lignée de méditation vietnamienne Yên Tử qui florissait au XIIIe siècle sous la dynastie des Trần, dont Trúc Lâm Đại Đầu Đà, ex-roi Trần Nhân Tông devenait le premier patriarche vietnamien.

Les œuvres du Vénérable Thích Thanh Từ comportent plus d’une cinquantaine de livres composés de grands sūtra classiques commentés à la manière zen, d’anciens śāstra des grands patriarches chinois et vietnamiens, et d’écrits d’enseignement bouddhique.

Ses ouvrages ont été regroupés en l’unique oeuvre THANH TỪ TOÀN TẬP, composée de trente volumes dont la référence bibliographique peut être consultée sur les sites Internet suivants :
www.thientongvietnam.net
www.thuongchieu.net
La classification de l’œuvre complète se subdivise en six parties :

I. Les sujets dordre général :
● Un volume de dix livres écrits.
● Six volumes des recueils de sermons transcrits.

II. Les Sūtra Kinh :
● Un volume de sūtra traduits du chinois composé de grands classiques tels que le Sūtra du Cœur de la Grande Perfection de Sagesse suprême, le Sūtra du Diamant, les Dix Grands Préceptes, le Sūtra de l’Éveil Parfait, Lańkāvatāra-sūtra, Śrīmala- Siṃha-Nada Sūtra,…
● Trois volumes de sūtra commentés : outre des sūtra précités, on y trouve d’autres tels que Vimalakīrti Sūtra, Sūtra du Lotus, Śūramgama Sūtra,…

III. Les Śāstra Luận :
● Deux volumes de Śāstra traduits du chinois dont les connus sont l’Origine de la Méditation, la Méditation fondamentale, les Commentaires sur la Méditation Tối Thượng Thừa, Recueil de Kung An de Falaise bleue-verte,…
● Cinq volumes de Śāstra commentés : outre les Śāstra précités, on en trouve d’autres tels que Inscrire la Foi en l’Esprit, Dix Tableaux d’illustration de dressage du Buffle, Sūtra de l’Estrade sur les Pierres Précieuses de la Loi, La Cravache stimulante de Qui Sơn, Mādhyamika-śāstra, …

IV. L’Histoire : deux volumes traduits comportant l’Histoire de trente-trois Patriarches, Les Maîtres ch’an, …

V. Le Bouddhisme Thiền vietnamien : huit volumes comportant Le bouddhisme thiền vietnamien à la fin du XXe siècle, Les Maîtres thiền vietnamiens, Recueil des enseignements de Tuệ Trung Thượng Sĩ, Commentaires sur les trois Patriarches de Trúc Lâm, Reconnaître sa nature profonde et réaliser la Bouddhéité, …

VI. Statut et Réglement intérieur : un volume dont les réglements intérieurs connus sont ceux des Monastères Trúc Lâm, Thường Chiếu, Chơn Không.

Ces ouvrages rédigés en vietnamien constituent un véritable trésor inestimable pour les pratiquants de la méditation zen. Pour une meilleure diffusion et un partage du Dharma, ils demandent à être traduits en plusieurs langues. Ces traductions contribueront à l’édification de la maison bouddhique internationale.

Le Maître Thích Thanh Từ est le doyen de l’Ecole du Bouddhisme Thiền Vietnamien. Il a consacré toute sa vie à enseigner et à guider moines et moniales, laïcs et laïques dans leur pratique de la méditation thiền. Depuis la fondation de l’Ecole, une quinzaine de monastères ont été construits au Vietnam, l’autre quinzaine à l’étranger, en particulier aux Etats-Unis, au Canada, en Australie et en France. Ces monastères permettent ainsi aux moines et moniales de se consacrer pleinement à la pratique de méditation bouddhique.

Extrait du livre ESPRIT MANI aux Editions du Jubilé

NGHI THỨC TỌA THIỀN - Thiền Thất Thường Lạc

HÔ THIỀN – APPEL A LA MEDITATION

luanhoi

ĐẦU HÔM 

Canh một nghiêm trang ngồi tịnh tu,

Tinh thần tịch chiếu đồng thái hư,

Muôn kiếp đến nay chẳng sanh diệt,

Đâu cần sanh diệt diệt gì ư ?

Gẫm xem các pháp đều như huyễn,

Bổn tánh tự không đâu dụng trừ,

Nếu biết tâm tánh không tướng mạo,

Lặng yên chẳng động tự như như.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

*   *   *

APPEL A LA MEDITATION à la tombée de la nuit

A la tombée de la nuit, l'on s'assoit solennellement en posture de méditation.

L'esprit silencieux et clair rayonne uniformément dans tout l'univers.

Depuis une multitude de kappa jusqu'à ce jour, il n'y a ni naissance ni mort.

De quelle destruction s'agit-il si l'on ne dépend pas du processus de formation et de destruction ?

Méditons sur la nature des dharma qui sont tous illusoires,

La nature profonde de l'esprit étant vacuité, où sont donc leur usage ou leur élimination ?

Si l'on saisit que l'esprit et sa nature n'ont pas de forme,

Silencieux et immobile, c'est ainsi que l'on demeure.

Mamo Śākyamuni Buddha.

*   *   *

BUỔI KHUYA 

Canh năm Bát Nhã chiếu vô biên,

Chẳng khởi một niệm khắp tam thiên,

Muốn thấy chân như tánh bình đẳng,

Dè dặt sanh tâm, trước mắt liền.

Lý diệu ảo huyền khôn lường được,

Dụng công đuổi bắt càng nhọc mình,

Nếu không một niệm mới thật tìm,

Có cố tâm tìm toàn chẳng biết.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

*  *  * 

APPEL A LA MEDITATION au lever du jour

Aux premières lueurs de l'aube, la sagesse de Prajῆā pāramitā  rayonne partout,
Sans aucune pensée émise, elle traverse les trois mondes célestes.
Pour reconnaitre que la nature de l'Ainsité est équanimité,
Il suffit de pacifier scrupuleusement le mental, elle transparait aussitôt devant soi.
Cette entité est si merveilleuse qu'elle parait insondable,
Si l'on s'efforce de la poursuivre, on en est pour sa peine.
Si l'on n'émet aucune pensée, c'est une véritable quête,
Alors que si nous la recherchons, nous sommes sûrs de ne jamais la reconnaitre.

Mamo Śākyamuni Buddha.

luanhoi

 

NGHI THỨC TỌA THIỀN

 

THIỀN TÔNG VIỆT NAM

BOUDDHISME THIỀN VIETNAMIEN
 

TÁN PHẬT
Ðại từ, đại bi thương chúng sanh,
Ðại hỷ, đại xả cứu hàm thức.
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm,
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

● Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lạy)
● Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chánh pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lạy)
● Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng, bậc Hiền thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lạy)

ELOGE AU BOUDDHA

Namo Votre Honoré qui répand bonté aimante et compassion à tous les êtres vivants.
Namo Votre Honoré qui sauve avec joie et équanimité toutes les âmes.
Devant la splendeur et la solennité de votre Grâce, nous nous prosternons respectueusement devant Vous.
● Hommage solennel à tous les Buddha des trois générations et ce, jusqu’aux confins de la Sphère-du-Dharma.  (Une prosternation)
● Hommage solennel à tous les vrais Dharma des trois générations et ce, jusqu’aux confins de la Sphère-du-Dharma. (Une prosternation)
● Hommage solennel à tous les Sages de la Saṅgha des trois générations et ce, jusqu’aux confins de la Sphère-du-Dharma. (Une prosternation)

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN
TÂM KINH TRÍ TUỆ CỨU CÁNH RỘNG LỚN

Khi Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã Ba la mật đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. (1 chuông)

Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế. (1 chuông)

Này Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong tướng không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. (1 chuông)

Vì không có chỗ được, nên Bồ tát y theo Bát Nhã Ba la mật đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã Ba la mật đa, được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chơn thật không dối.

Vì vậy, nói chú Bát Nhã Ba la mật đa, liền nói chú rằng: "Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha". (Niệm 3 lần)

PRATIQUE  DE LA MEDITATION ASSISE
PRAJÑĀPĀRAMITĀ HṚDAYA SŪTRA Soutra du Cœur de la Perfection de la Sagesse transcendante

Lorsque le Bodhisattva Avalokiteśvara excella dans la pratique profonde du Prajñāpāramitā, il reconnut la vacuité des cinq skandha et se libéra de toutes les souffrances.

● Sāriputra! La forme n’est pas différente de la vacuité, la vacuité n’est pas différente de la forme, la forme n’est que vacuité, la vacuité n’est que forme. Il en est de même pour les sensations, perceptions, formations mentales et la conscience.

● Sāriputra! Puisque tous les phénomènes sont la vacuité, ils sont ainsi non nés non morts, ni souillés ni purs, ni croissants ni décroissants. Aussi, dans la vacuité, n’apparaissent ni forme ni sensations ni perceptions ni formations mentales ni conscience, ni yeux ni oreilles ni nez ni langue ni corps ni mental, ni forme ni son ni odeur ni goût ni toucher ni objet mental, ni perception visuelle ni conscience, ni ignorance ni cessation de l’ignorance, pas de vieillesse et de mort ni extinction de la vieillesse et de la mort, ni souffrance ni origine de la souffrance, ni cessation de la souffrance ni noble sentier octuple, ni sagesse ni réalisation ultime.

Ainsi délivré de toute attache, le Bodhisattva demeure dans la sagesse du Prajñāpāramitā et son esprit se libère de tous les obstacles. Sans peur, il est détaché de toutes les perceptions erronées et atteint le Nirvāṇa. Tous les Buddha du passé, du présent et du futur qui s’appuient sur le Prajñāpāramitā, accèdent également à l’Eveil le plus élevé, le plus complet et le plus parfait. Sachez donc que le Prajñāpāramitā est le grand mantra, le mantra rayonnant de sagesse, le mantra suprême, le mantra inégalable capable de soulager toutes les souffrances. Ceci est la vérité authentique et non illusoire.

C’est pourquoi nous devons aussitôt proclamer le mantra de Prajñāpāramitā :
« Gate Gate Pāragate Pārasamgate Bodhi Svāhā ».
(A réciter trois fois)

TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
Ân cần đầu cúi lễ Từ tôn.
Thềm thang Thập Địa nguyện sớm lên,
Chơn tâm Bồ đề không thối chuyển.

BA TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sanh, hiểu thấu đại đạo, phát tâm vô thượng. (1 lạy)
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sanh, thâm nhập ba tạng, trí huệ như biển. (1 lạy)
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sanh, quản lý đại chúng, tất cả không ngại. (1 lạy)

QUATRE VŒUX DE RÉALISATION SUPRÊME

Nous faisons vœu de venir en aide à tous les êtres.
Nous faisons vœu de contribuer à la cessation de toutes les souffrances.
Nous faisons vœu d’approfondir le sens ultime de tous les dharma.
Nous faisons vœu de réaliser la Voie suprême enseignée par Buddha.

DÉDICACE DES MÉRITES

Nous dédions nos mérites à la Saṅgha.
Nous nous prosternons tête baissée devant l’Honoré-du-monde.
Nous nous promettons de gravir toutes les marches des Dix Terres,
et de réaliser sans faille l’Esprit-Bouddhéité.

TROIS PRISES D’AUTO-REFUGE À SOI

●  En prenant auto-refuge dans la bouddhéité, nous prions pour que tous les êtres sensibles puissent comprendre la Voie et développer leur esprit suprême. (Une prosternation)
●  En prenant auto-refuge dans le Dharma, nous prions pour que tous les êtres sensibles puissent comprendre les trois corbeilles d’enseignement de Buddha et acquérir la sagesse aussi immense que la mer. (Une prosternation)
● En prenant auto-refuge dans la Saṅgha, nous prions pour que tous les êtres sensibles puissent servir les communautés sans avoir à craindre les obstacles encourus. (Une prosternation)
 

BÀI THƠ MỘNG

MỘNG

 Gá thân mộng,
 Dạo cảnh mộng.
 Mộng tan rồi,
 Cười vỡ mộng.

 Ghi lời mộng,
 Nhắn khách mộng.
 Biết được mộng,
 Tỉnh cơn mộng.

RÊVE

 Portant un corps de rêve,
 On erre dans un monde de rêve.
 Une fois le rêve dissipé,
 On sourit à la réalité du rêve.

 Le transcrire en quelques mots,
 Pour rappeler aux passagers en rêve,
 Une fois le rêve reconnu,
 De prendre conscience à la réalité du rêve.

 [C’est l’un des poèmes
 le plus connu et apprécié
 du grand Vénérable,
 Thiền sư Thích Thanh Từ.]

Giới Thiệu Ban Chánh Pháp - Thiền Thất Thường Lạc

Danh Mục Các Bài Dịch

1

 Lời giới thiệu - Présentation française sur site thuongchieu.net  

2

 Mộng - Rêve  

3

 Hành trạng trích từ sách Esprit Mani - Bibliographie du Maître thiền Thích  Thanh Từ  

4

 Nghi thức tọa thiền - Rituel de la Méditation Thiền Tông Vietnamienne  

  Phương Pháp Tọa Thiền - Méthode de Méditation Assise new  

5

 Nghi thức thọ trai - Cérémonie du repas à la saveur thiền   

6

 Sám hối sáu căn – Vêpres du Repentir des six sens  

7

 Sám hối ba nghiệp – Vêpres du Repentir des trois karma  

8

Phỏng vấn trên Truyền hình Pháp về Thiền Tông Việt Nam - Emission de Sagesses Bouddhistes- France 2  sur le Bouddhisme Thiền Tông vietnamien du maître thiền-Vénérable THÍCH THANH TỪ  

9

Ba Vấn Đề Trọng Đại Trong Đời Tu Của Tôi - Les Trois Questions Essentielles Dans Ma Vie De Moine _ Auteur : Moine thiền Thích Thanh Từ.

 + Câu hỏi thứ nhất – Première question :
   -Tại sao tôi tu theo đạo Phật ? – Pourquoi suis- je devenu moine bouddhiste ?
 

 + Câu hỏi thứ hai – Deuxième question :
   -Tại sao tôi tu thiền ? – Pourquoi ai- je choisi la pratique de la méditation ?
 

 + Câu hỏi thứ ba – Troisième question :
   -Tại sao tôi chủ trương khôi phục Phật giáo đời Trần ? - Pourquoi ai-je choisi de valoriser le bouddhisme sous la dynastie des Trần ?

10

 MẠCH NGUỒN PHẬT PHÁP - SOURCE ORIGINELLE DU BUDDHADHARMA
 

 +Lời nói đầu của Ban Dịch Kinh Chánh Pháp – Avant-propos du Groupe de Traduction Saddharma.  

 + Lời dẫn nhập của Hòa thượng Tôn sư - Introduction à la Source Originelle du Buddhadharma.  

 + Chương 1: Tu tập cơ bản của người phật tử – Pratiquer de base de tout bouddhiste.  

+ Chương 2: Tu trong mọi hoàn cảnh – Pratiquer le Bouddhisme en toutes circonstances.  

+ Chương 3: Hoa Sen Trong Bùn – Lotus Dans La Tourbe  

+ Chương 4: Bồ Tát Sợ Nhân, Chúng Sinh Sợ Quả – Le Bodhisattva Redoute La Cause...  

+ Chương 5: Nguồn gốc xung đột và đau khổ  

+ Chương 6: Nguồn gốc Phật Pháp  

11

TỨ DIỆU ĐẾ - Cố HT THÍCH THIỆN HOA_ Trích PHẬT HỌC PHỔ THÔNG

QUATRE NOBLES VERITES - Gd Vén. THÍCH THIỆN HOA_ Extrait Du BOUDDHISME FONDAMENTAL
 

+ Khổ đế  (5 Phần) – DUKKHA ĀRIYA SACCA (5 Parts)new

    - Khổ đế  (1/5 Phần) – DUKKHA ĀRIYA SACCA (1/5 Parts)  

    - Khổ đế (2/5 Phần) – DUKKHA ĀRIYA SACCA (2/5 Parts)  

    - Khổ đế  (3/5 Phần) – DUKKHA ĀRIYA SACCA (3/5 Parts)  

    - Khổ đế  (4/5 Phần) – DUKKHA ĀRIYA SACCA (4/5 Parts)  

    - Khổ đế  (5/5 Phần) – DUKKHA ĀRIYA SACCA (5/5 Parts)  

    - Tập đế (1/3 Phần) – SAMUDĀYA ĀRIYA SACCA (1/3 Parts)  

    - Tập đế (2/3 Phần) – SAMUDĀYA ĀRIYA SACCA (2/3 Parts)  

    - Tập đế (3/3 Phần) – SAMUDĀYA ĀRIYA SACCA (3/3 Parts)  

    - Diệt đế (1/4 Phần) – NIRODHA ĀRIYA SACCA (1/4 Parts)  

    - Diệt đế (2/4 Phần) – NIRODHA ĀRIYA SACCA (2/4 Parts)  

    - Diệt đế (3/4 Phần) – NIRODHA ĀRIYA SACCA (3/4 Parts)  

    - Diệt đế (4/4 Phần) – NIRODHA ĀRIYA SACCA (4/4 Parts)  

    - Đạo đế (1/2 Phần) – MAGGA (1/2 Parts)

    - Đạo đế (2/2 Phần) – MAGGA (2/2 Parts)


Kính thưa quý đọc giả,

Chúng tôi rất hoan hỷ cống hiến trên trang nhà thuongchieu.net những dịch phẩm của Hòa thượng tôn sư Thích Thanh Từ, viện trưởng trường phái Thiền Tông Việt Nam, dưới sự chấp thuận của Hòa thượng Trụ trì Thường Chiếu.

Đây là một kho tàng tâm linh vô giá mà Ban dịch thuật Chánh Pháp ở Thiền Tự Thường Lạc Vitry sur Seine France đã và đang ra công dịch những tài liệu quý trọng của tông môn.

Mong rằng quý khách sẽ nhớ thường xuyên đón đọc trên trang nhà.

Mặt khác, chúng tôi cũng rất hoan nghênh sự cộng tác của các dịch giả ra tiếng Pháp những tác phẩm của Hòa thượng Tôn sư và chư vị đại Tôn túc trong tông môn. Yếu tố hợp tác duy nhất là sự thống nhất ngôn từ dịch thuật theo tập Từ Vựng của Ban Chánh Pháp để đọc giả khỏi phân vân nghi vấn.

Mong rằng quý vị đọc giả hoan hỷ và hưởng được nhiều pháp lạc.

Ban Chánh Pháp

Thư tín: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.


Chers Mesdames et Messieurs les Auditeurs du Dharma,

Nous sommes très heureux de pouvoir vous présenter sur ce site thuongchieu.net les enseignements traduits en français de notre grand Maître, le Vénérable Thích Thanh Từ, doyen de l’Ecole du Bouddhisme Thiền Tông vietnamien.

Il s’agit d’un trésor spirituel inestimable que nous voulions partager avec vous. Seulement, nous ne pouvons que vous le présenter au fur et à mesure de l’avancement de travail de notre groupe de traduction Saddharma siégeant au monastère Thường Lạc à Vitry sur Seine en France.

Aussi n’oubliez pas à revisiter régulièrement notre lien sur ce site afin de découvrir d’autres nouveautés.

Par ailleurs, nous accepterons avec grande joie la diffusion des œuvres de notre Maître traduites par d’autres âmes généreuses et animées par cette même aspiration, celle de promulguer l’enseignement de Thiền Tông Vietnamien aux Amis francophones, avec la seule réserve que les termes utilisés par nos amis traducteurs soient uniformes pour la meilleure compréhension du public.

Merci de nous faire confiance et bonne lecture,

Le groupe Saddharma vous salue
Email : This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.


index.php?option=com_content&view=article&id=2756

Thiền Tự Đông Nguyên

THIỀN TỰ ĐÔNG NGUYÊN

Chứng minh chỉ đạo :  H.T Thích Nhật Quang.
Trụ trì:  Thích Đạo Thuận
Địa chỉ :  Khu phố 8, Thị trấn Madaguoi, huyện Dahuoai, Lâm Đồng.
ĐT : 0613 700 497
Thiền tự mới thành lập, hiện nay có 4 Thầy ở. 

 

Một số hình ảnh An Vi Phật - Thiền Tự Đông Nguyên

 

 

Giới Thiệu Thiền Viện Trúc Lâm Trí Đức và Thiền Viện Thường Chiếu



Giới thiệu THIỀN VIỆN TRÚC LÂM TRÍ ĐỨC

và THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU

trên Đài Truyền Hình VIỆT NAM VTV2
 

Giới thiệu Thiền Viện Trúc Lâm Trí Đức

Phát sóng lần 1:   Vào lúc 21h30 - Ngày 28/01/2011
Phát sóng lần 2:   Vào Lúc 12h - Ngày 01/02/2011

Giới thiệu Thiền Viện Thường Chiếu

Phát sóng lần 1:  Vào lúc 18h - Ngày 10/02/2011
Phát sóng lần 2:  Vào lúc 13h - Ngày 11/02/2011
Phát sóng lần 3:  Vào lúc 5h - Ngày 12/02/2011


Chương trình này cũng được phát trực tuyến trên website

 http://www.vtc.com.vn

 

 

 

MỘT SỰ NGHIỆP CỦA ĐỜI TÔI

 MỘT SỰ NGHIỆP CỦA ĐỜI TÔI

 

I. NGUYÊN NHÂN 

Hoài bảo một "CÁI MỘNG" trên 25 năm mới hoàn toàn thực hiện. 

Trong lúc du học ở Xuân Kinh 1938 đến mùa hè năm 1941, tôi được dịp may dự thính lớp Giáo Lý của Đoàn Thanh Niên Dục Đức trong một tháng, mỗi đêm giảng 2 giờ, do Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đảm trách. Tôi thích thú quá! Vì thấy bác sĩ đem phương pháp giảng giải của Tây phương mà giải thích, trình bày một triết lý cao siêu của Đông phương. Sự phối hợp cả Âu và Á làm cho người nghe rất thích thú vì hiểu được triết lý cao siêu của Đông phương qua phương pháp trình bày rõ ràng rành mạch của Tây phương. 

Từ đó tôi hoài bảo một cái mộng: "làm sao, sau này mình sẽ đóng một cây thang giáo lý" tức là bộ "Phật Học Phổ Thông" ngày hôm nay. 

II. SƯU TẦM TÀI LIỆU 

Tôi bắt đầu gom góp sưu tầm các tài liệu. Đọc trong kinh, xem trong sách, hoặc nghe những bài giảng nào có thể làm tài liệu đóng cây thang giáo lý, thì tôi đều góp nhặt để dành cả: nhứt là tài liệu của bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám giảng cho lớp Thanh Niên Đức Dục. 

III. THỜI GIAN TẬP SỰ 

Đến năm 1945, sau khi tốt nghiệp chương trình Phật pháp, tôi trở về Nam, mở trường dạy giáo lý tại chùa Phật Quang xứ Bang Chang, quận Trà Ôn. Số Tăng, Ni đến học trên 30 vị. Ngoài lớp giáo lý, chúng tôi còn mở các lớp học quốc ngữ mỗi buổi sáng, để dạy cho các em ở trong làng, số học sinh gần 150 em; dạy lớp Bình Dân Học vụ để giúp cho đồng bào mù chữ trong những buổi tối; và mở trạm y tế giúp cho đồng bào bệnh hoạn trong làng. 

Muốn làm việc lớn, trước phải làm việc nhỏ, muốn đi xa trước phải từ nơi gần. Nhơn có lớp giáo lý, số học chúng trên 30 vị, tôi bắt đầu tập sự, đem thí nghiệm chương trình Phật học phổ thông mà chúng tôi đã ôm ấp từ lâu, để chờ cơ hội tốt, một hoàn cảnh rộng rãi hơn, sẽ đem ra thực hiện. Thời gian tập sự, chờ đợi gần 8 năm trường. 

Trước nhất, tôi soạn từng dàn bài, rồi đem ra giảng dạy cho học chúng. Tôi bắt họ ký chú kỹ lưỡng. Sau khi giảng xong, tôi bảo họ làm bài đem tôi sửa, rồi viết lại thành từng tập sách nhỏ để cho tín đồ mượn xem, như quyển Đạo Phật, Tam qui, Ngũ giới, Tứ nhiếp pháp, Lục độ v.v... 

IV. THỜI GIAN THỰC HIỆN 

Đến năm 1952, đường giao thông được dễ dàng, tôi được các bạn đồng song, Hòa thượng Thích Thiện Hoà Giám đốc Phật học Đường N.V, Hòa thượng Thích Nhựt Liên Tổng Thư ký Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và Hòa thượng Thích Quảng Minh Hội trưởng Hội Phật học Nam Việt đến thăm và mời tôi về sàigòn để chung lo Phật sự. 

Quí Hòa thượng khuyên tôi: "Cái đèn treo trên cao, thế nào yến sáng cũng chiếu xa hơn". 

Vì nguyện vọng hoằng dương chánh pháp, vì muốn thống nhất Phật sự và vì tình bạn xa cách nhau trên 8 năm trường muốn sum hiệp, nên tôi hoan hỉ nhận lời. Từ đây, tôi bắt đầu thu xếp mọi công việc để chờ ngày lên đường. 

Đầu năm 1953, sau Tết Nguyên đán, ngày mồng 8 thánh Giêng, 8 thầy trò chúng tôi quảy hành lý lên đường ... Đến Sàigon vào chùa Ấn Quang, sau khi thu xếp chỗ ăn ở tạm xong, quí Thầy giao phó cho tôi hai gánh nặng, là "Giáo dục và Hoằng pháp". Vừa làm trưởng ban giáo dục GHTGNV kiêm Đốc giáo PHĐNV và vừa làm trưởng ban Hoằng pháp GHTGNV, rồi quí thầy đua nhau xuất dương. 

Suốt một thời gian trên 10 năm trường, đông xông tây đục, cả ngày chỉ lo dạy học, diễn giảng rồi huấn luyện cán bộ trụ trì và giảng viên, hết khoá Hạ đến khoá Đông, con người tôi như con vụ. 

Mặc dù công việc quá bận rộn, nhưng cái chí nguyện "đóng cây thang giáo lý" đã ôm ấp từ lâu, tôi không hề xao lãng. Ban ngày dạy học, ban đêm soạn bài, dịch kinh. Hết giờ dạy cho Tăng, Ni ở các học đường, rồi đến dạy cho lớp Như Lai Sứ giả và Cư sĩ. Ngoài ra còn làm các Phật sự khác, việc Giáo hội, việc lễ lược, tổ chức, thù tạc v.v... Một ngày đêm, chúng tôi làm việc thẳng thét 4 buổi sáng, chiều, tối và khuya. 

Khoá giảng được kết quả tốt đẹp, thính giả mỗi ngày mỗi đông, nên giảng viên thêm hào hứng và rút tỉa nhiều kinh nghiệm. Nhờ thế, giảng viên tiến đến mức chuyên môn, cầm được nghệ thuật diễn giảng, giảng rất hấp dẫn. Người nghe cũng thích thú ! Nhờ thế, chúng tôi gây được phong trào học giáo lý từ Đô thành đến các tỉnh, trong mấy năm vừa qua ở miền Nam. 

Cứ theo cái đà này mà tiến, hết khoá thứ nhất đến khoá thứ hai, rồi tiếp đến khoá thứ ba và thứ tư v.v... Bắt đầu từ năm 1953 đến 1965 là 13 năm tôi đã hoàn thành được 12 nấc thang Giáo lý; nghĩa là 12 khoá "Phật học Phổ Thông". Nếu cộng với 5 năm hoài bảo cái mộng trên và thời gian tập sự 8 năm, tất cả là 25 năm trọn. 

V. LỢI ÍCH: 

Bộ "Phật học Phổ thông" và các loại sách "Phật học tùng thư" của chúng tôi từ khi được phổ biến đến nay, đã đem lại các lợi ích như sau: 

1. Truyền bá giáo lý được sâu rộng trong quần chúng. 
2. Giúp cho rất nhiều Phật tử hiểu biết Phật pháp để tu hành 
3. Giúp cho Tăng, Ni các Phật học viện mau hiểu giáo lý 
4.  Giúp tài liệu cho quí Giảng sư và Giáo sư để giảng dạy giáo lý. 

VI. NHỮNG YẾU TỐ ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC SÁNG TÁC VÀ PHIÊN DỊCH 

1. KHẢ NĂNG 

Muốn làm công việc gì trước tiên cần phải có đủ "khả năng" về công việc ấy. Như người muốn sáng tác và phiên dịch giáo lý, tất nhiên phải có đủ khả năng về việc này, phải có một học lực khá, cả nội điển lẫn ngoại điển, tương đương với công việc, mới có thể làm được. 

2. BỀN CHÍ 

"Bền chí" là một yếu tố cần nhứt trong mọi công việc, nhứt là việc sáng tác và phiên dịch. Công việc này đòi hỏi rất nhiều sự cần cù, rị mọ, ngồi cặm cụi suốt ngày đêm trên bàn viết, từ tháng này đến năm nọ. Người không bền chí, không thể đeo đuổi được lâu dài. Nếu chỉ do hứng thú nhứt thời, thì chỉ viết hoặc dịch được một vài quyển mà thôi. 

3. SỨC KHOẺ 

Sức khoẻ cũng là một yếu tố cần thiết trong mọi công việc. Nếu làm việc gì mà thiếu sức khoẻ thì khó thành công mỹ mãn. Sức khoẻ kém, cố nhiên thân thể mỏi mệt, tinh thần bì quyện, không minh mẫn sáng suốt, không thể ngồi lâu để phiên dịch hoặc sáng tác. 

4. THÍCH THÚ 

Làm công việc gì, mặc dù có khả năng sức khoẻ và bền chí, nhưng nếu không thấy "thích thú" thì cũng khó mà thành tựu, nhứt là việc phiên dịch và sáng tác. Có cảm thấy thích thú, mới vượt qua được sự khó khăn cực khổ, mài miệt nơi bàn viết ngày đêm, không chán. 

Người sáng tác hoặc phiên dịch, khi thực hiện được một tác phẩm nào, tự cảm thấy vui mừng và thích thú, không khác gì anh nghèo cất được cái nhà mới. Phải có thích thú như thế, mới làm được việc này. 

5. TIÊU CHUẨN PHIÊN DỊCH VÀ SÁNG TÁC 

Người xưa nói: "Văn tức là người". Đúng như thế. Người tánh tình như thế nào, thì viết văn cũng như thế ấy. 

Viết văn hay diễn giảng ai cũng muốn cho nhiều người đọc và dễ hiểu. Nhưng trái lại, khi viết hay giảng, phần nhiều người ta muốn nói thật cao siêu, làm cho người đọc và nghe phải mệt trí! Như thế không khác gì người muốn đi tới mà hai chân lại bước lui. Thật ra, điều đó là do ảnh hưởng tánh tình, cũng khó mà thay đổi. 

Chúng tôi nhắm vào tiêu chuẩn: khoa học rõ ràng thứ lớp, Đại chúng phổ thông, bình dân và Dân tộc sắc thái Việt nam, nên những kinh sách, mặc dù khó đến đâu, qua sự phiên dịch hoặc sáng tác của chúng tôi, cũng đều làm cho người đọc được dể hiểu và rõ ràng. 

Theo sự kinh nghiệm của chúng tôi trên mười năm nay về việc trước tác và phiên dịch, nếu tác phẩm nào thiếu ba điểm trên Khoa học, Đại chúng và Dân tộc thì khó có thể phổ biến sâu rộng trong quảng đại quần chúng. 

6. SÁNG KIẾN 

Với "sáng kiến", công việc của chúng ta dù cũ cũng thành mới mẻ. Trong khi giảng dịch hay viết, nếu không có một đôi chút sáng kiến thì người nghe hay đọc cảm thấy khô khan, buồn nản. Trái lại, nếu chúng ta có sáng kiến thêm vào, thì người đọc cảm thấy như thưởng thức được vài phần hương vị mới lạ. Bởi thế nên "sáng kiến" không những rất cần trong việc phiên dịch và sáng tác, mà còn rất cần trong mọi công việc và mọi hoàn cảnh. 

VII. HỒI HƯỚNG 

Tôi làm được điều lợi ích gì, có bao nhiêu công đức đều hồi hướng: 

Trên đền đáp bốn ơn 
Dưới cứu giúp ba loài. 
Cầu nguyện cho: 
Mặt trời Phật thêm sáng 
Bánh xe pháp xoay hoài 
Thế giới đều hoà bình 
Nhơn dân được an lạc 
Tôi và các chúng sinh 
Đều sanh về cõi Phật.

Viết tại Dưỡng đường Đồn Đất Sài gòn
Quý Xuân Ất Tỵ (1965)

 

Sa môn THÍCH THIỆN HOA

 

 

Một số hình ảnh Lễ khánh thánh TVTL Trí Đức

Một số hình ảnh Lễ khánh thành TVTL Trí Đức

-do Phật tử Tuệ Pháp cung cấp-
 


Lễ An vị Tôn tượng Phật bổn Sư


Khán đài buổi lễ


Tháp chuông đêm 12 tháng chạp Canh Dần


Hòa thượng Ân Sư và Quí Hòa thượng chứng minh


Quang cảnh buỗi  lễ


Đại diện Phật tử phát biểu


Tặng quà lưu niệm


Tặng hoa chúc mừng


Cắt băng khánh thành Đại Hùng Bửu Điện


Ngọ trai

PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI DIỆN PHẬT TỬ

PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI DIỆN PHẬT TỬ

------------------

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,

Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư,

Ngưỡng bạch Chư tôn Hòa thượng, chư Thượng Tọa hàng Giáo phẩm Trung ương, Tỉnh Hội Phật Giáo Đồng Nai, Huyện Long Thành và địa phương,

Ngưỡng bạch Hòa thượng Viện Trưởng TV. Trúc Lâm Trí Đức,

Ngưỡng bạch chư tôn Hòa thượng, chư Thượng toạ, quí Ni trưởng, Ni sư, cùng chư Tôn đức Tăng Ni hiện diện,

Kính thưa quí vị Đại Diện Chánh Quyền các cấp và địa phương sở tại,

Kính thưa chư pháp hữu gần xa,

Thưa liệt quí vị,

Hôm nay thật là một phúc duyên vô cùng to lớn cho hàng Phật tử chúng con, trước Phật đài nghiêm tịnh, toàn thể chúng con đồng quỳ dưới chân quí Ngài, nép mình dưới bóng từ quang của Hòa thượng Ân sư, kính mừng Đại lễ Khánh thành thiền viện Trúc Lâm Trí Đức.

Nhớ lại cách đây hơn 2 năm, cũng nơi mảnh đất này, cảnh vật hết sức lạnh lẽo. Rừng điều và cao su bạt ngàn hoang vắng mỗi khi chiều về. Chúng con chưa bao giờ dám tới lui nơi đây mặc dù đã sở hữu khu đất này từ trước. Thế rồi nhờ giáo pháp vi diệu, nhờ ân đức của Hòa thượng Ân sư và Hòa thượng Viện trưởng thiền viện Trúc Lâm Trí Đức, chúng con dần dần quy hướng Tam bảo, quy hướng về con đường tu tập. Ngôi đại già lam ngày hôm nay với bóng dáng của chư Tăng Ni, với hồi chuông tiếng mõ trầm ấm ngày đêm, đã thổi hồn Phật pháp vào trong từng ngọn cỏ cành cây, vào trái tim của những người Phật tử nghèo khó nơi đây. Chánh báo này, Y báo này có được là nhờ lòng từ của quý Ngài, đã cảm hóa hàng Phật tử chúng con biết phát tâm tu tập và phát tâm cúng dường.

Chúng con thầm nghĩ nếu không gặp Phật pháp, không gặp Ân sư, không biết chúng con sẽ trôi dạt về đâu, sẽ tạo thêm những nghiệp tập gì nữa? Thật đáng sợ! Là những Phật tử doanh nhân, nhờ quy y Tam bảo, vâng lời Phật dạy chúng con biết làm lành lánh dữ, thương yêu và giúp đỡ bao người nghèo khó, chuyển hóa ba nghiệp tham sân si của mình. Nhờ thế cuộc sống nội tâm của chúng con đã thay đổi rất nhiều so với lúc trước. Phật pháp vì thế trở thành mầu nhiệm đối với hàng Phật tử chúng con, cũng là góp phần không nhỏ cho việc cải thiện xã hội, cải thiện đời sống văn minh đạo đức của mọi người.

Chúng con tự biết mình phước mỏng nghiệp dày, nên cố gắng gieo duyên với Tam bảo được bao nhiêu mừng bấy nhiêu. Thật sự từ những phút ban đầu, chúng con không biết mình có thể hộ pháp được tới đâu. Chúng con vô cùng lo lắng, vô cùng kính thương Hòa thượng Viện Trưởng khi thấy tuổi Thầy đã lớn, sức khỏe đã kém, Phật sự lại đa đoan, nhưng Thầy một lòng vì Phật pháp, vì hàng Phật tử chúng con, đứng ra gánh vác Phật sự to lớn như vầy, khi nền kinh tế hiện tại đang gặp rất nhiều khó khăn. Có lẽ chính nhờ đại tâm ấy, chiêu cảm đến hàng Phật tử khắp nơi phát tâm, cùng chung vai góp sức, nên mới có được ngôi thiền viện như ngày hôm nay. Thật là đại duyên đại phúc cho tất cả chúng con. Toàn thể hàng Phật tử chúng con xin đối trước Hòa thượng Tôn sư, đối trước chư Tôn đức Tăng Ni đê đầu bái tạ trọng ân. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ tri ân các cấp Chánh quyền đã tận tình giúp đỡ cho chúng tôi có thể hoàn thành được tâm nguyện hiến cúng đất và góp phần xây dựng thiền viện Trúc Lâm Trí Đức này.

Kính bạch chư tôn đức,

Kính thưa quí liệt vị,

Thiền viện ra đời là thêm một hóa thành để cho hàng Phật tử chúng con dừng bước phong trần. Cả một đời bị phiền não bủa vây, tâm tư loạn động với bao nhiêu toan tính muộn phiền, ngày nay đã có chiếc phao Phật pháp cứu vớt. Chúng con nguyện một lòng quay gót trở về, từ đây theo thầy học đạo, siêng tu ba nghiệp, phụng sự Tam bảo để đền ân Phật Tổ.

Phật tử chúng con xin nguyện nép mình dưới sự chỉ dạy bảo ban của Thầy Tổ, của chư tôn đức, nguyện đồng lòng tu tập, đồng lòng hộ trì Tam bảo. Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức ngày nay tuy đã làm lễ Lạc Thành nhưng công tác xây dựng vẫn chưa xong. Những giai đoạn sắp tới, chúng con luôn mong mỏi sự chung vai sát cánh của chư huynh đệ hữu duyên gần xa, bởi vì nếu chúng ta không tiếp tục nắm tay đồng hành hộ trì Tam bảo, thì nỗi lo của chư tôn đức Tăng Ni biết tỏ cùng ai? Chúng con còn nhớ Hòa thượng Ân Sư đã dạy “Tăng Ni và Phật tử là hai chúng đệ tử không thể thiếu của đức Như Lai, không thể lìa nhau mà phải nương tựa vào nhau để làm nền tảng cho Phật pháp, vững mạnh Tăng già. Chư tôn đức Tăng Ni lấy đức tu để khai hóa dẫn dắt Phật tử chúng con trên con đường chánh pháp. Hàng Phật tử tại gia cư sĩ chúng con nguyện một lòng hộ trì Tam Bảo và vâng theo sự chỉ giáo của chư tôn đức, nỗ lực tu tập để hết khổ được vui”. Đó cũng chính là những gì chúng con xin được chia sẻ với tất cả chư huynh đệ Phật tử hữu duyên.

Sau cùng chúng con kính nguyện Tam bảo gia hộ cho Hòa thượng Ân sư, chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, quý Ni trưởng, Ni sư cùng chư tôn đức Tăng Ni tứ đại nhu hòa, phúc trí nhị nghiêm, quí Ngài sống lâu nơi đời để dìu dẫn chúng sanh và chúng con trên con đường Phật pháp. Chúng tôi cũng xin trân trọng kính chúc sức khỏe tất cả Quan khách Đại diện chánh quyền và toàn thể chư vị pháp hữu, chư Phật tử hiện diện hôm nay an vui hạnh phúc, vạn sự kiết tường như ý.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
 

DIỄN TỪ CẢM TẠ

DIỄN TỪ CẢM TẠ


Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,

Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư, ngưỡng bạch chư Tôn thiền đức,

Kính thưa quí vị Đại Diện Chánh quyền,

Thưa toàn thể đạo tràng Phật tử,

Thưa liệt quí vị,

Thiền viện Trúc Lâm Trí Đức ra đời như một nhân duyên đã được ấp ủ từ sự tu tập và chuyển hóa của chư Tăng Ni cũng như quí Phật tử dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Ân sư từ bao năm qua. Đến nay ngôi phạm vũ huy hoàng, Tăng Ni tứ chúng đồng tụ hội, thật là tùng lâm hưng thịnh, Phật pháp xương minh. Giữa khung trời tịnh thanh này, đạo tràng chúng hội muôn lòng như một, tất cả đều hoan hỷ kính mừng ngày Lạc thành hôm nay.

Tuy nhiên, đại sự sẽ không thành nếu không có sự gia trì của Tam bảo, trí tuệ và tâm hạnh của Hòa thượng Ân sư, của chư tôn đức trong Giáo Hội, trong thiền phái Trúc Lâm, đặc biệt sự hỗ trợ quan tâm giúp đỡ của Chánh quyền các cấp và sau cùng là sự có mặt, đồng tâm hợp lực của chư tôn đức Tăng Ni cũng như quí Phật tử gần xa.

Trong bầu không khí trang nghiêm đầy đạo vị, thay mặt Ban Tổ Chức chúng con xin được đê đầu đảnh lễ bái tạ Hòa thượng Ân sư, chư tôn Hòa thượng Giáo phẩm Trung ương, Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai và các tỉnh bạn, Ban Quản trị thiền phái Trúc Lâm, đảnh lễ cảm niệm công đức chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, quý Ni trưởng, Ni sư cùng chư tôn đức Tăng Ni hiện diện… đã niệm tình chiếu cố và quang lâm chứng dự Đại lễ Khánh thành hôm nay, khiến cho chúng con thật vô cùng vui mừng và xúc động. Nguyện từ lực Tam bảo gia hộ cho quí Ngài tứ đại nhu hòa, thân tâm thường lạc, quí Ngài luôn là ngọn đuốc sáng soi đường cho chúng sanh và chúng con trên bước đường tìm về bến giác.

Chúng tôi xin được gởi đến quý vị Lãnh đạo chánh quyền từ Trung ương cho đến địa phương sở tại lòng biết ơn chân thành nhất. Xin được kính chúc sức khoẻ quí vị và rất mong quí vị luôn quan tâm giúp đỡ chúng tôi trong những Phật sự chung về sau này, đem lợi ích đến cho đất nước và xã hội chúng ta hôm nay cũng như mai sau, trong tinh thần đoàn kết, đạo pháp và dân tộc.

Chúng tôi xin được cảm tạ tri ân sự có mặt và đóng góp tịnh tài tịnh vật của quí đạo tràng Phật tử gần xa. Kính chúc quí vị tâm Bồ-đề kiên cố, vạn sự kiết tường như ý. Nguyện tất cả chúng ta, những người con Phật đồng hạnh, đồng tu mãi mãi là bạn pháp, cùng dìu dẫn nhau tu tập cho đến ngày viên thành Phật đạo.

Chúng tôi cũng không quên gởi lời đồng cảm sẻ chia, lòng thương mến và biết ân chân thành đến tất cả anh em Phật tử trong ban thi công xây dựng. Suốt thời gian gần 2 năm qua, anh em đã gắn bó đồng lao cộng khổ với chúng tôi, để thiền viện có được những mái ngói sừng sững uy nghiêm rực rỡ như hôm nay. Từng viên đá từng viên gạch nơi đây sẽ mãi còn in đậm đôi tay và mồ hôi của tất cả anh em. Đó chính là phần thưởng lớn nhất cho những con người tay sần da sạm trên mọi nẻo đường xây dựng, đem mái ấm đến cho muôn nhà. Kính chúc anh em luôn có đời sống ấm no và hạnh phúc.
Sau cùng chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ lực lượng an ninh bảo vệ huyện Long Thành xã An Phước và các Phật tử tham gia công tác trật tự, đã giúp cho Đại lễ Khánh thành hôm nay được thập phần viên mãn. Kính chúc sức khỏe và xin gởi lời chào thân mến đến quí vị.

Kính bạch quí Ngài,

Thưa liệt quí vị,

Mặc dù đã cố gắng hết sức, song Ban Tổ Chức chúng con không sao tránh khỏi những sơ suất tất yếu trong buổi Đại lễ Khánh thành hôm nay. Ngưỡng mong quí Ngài và chư liệt vị từ bi lượng thứ cho.
Một lần nữa chúng con xin được đê đầu đảnh lễ bái tạ. Kính chúc chư tôn đức và liệt quí vị thân tâm thường lạc.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.