headertvtc new


   Hôm nay Thứ tư, 14/01/2026 - Ngày 26 Tháng 11 Năm Ất Tỵ - PL 2565 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtc2  Mong
 Thiền Phái Trúc Lâm Việt Nam Thế Kỷ 20-21

Giỗ Tổ lần thứ 41 - THANH TỊNH


TỔ SƯ GIẢNG VỀ -THANH TỊNH-

Lễ giỗ Tổ lần thứ 41

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Cung kính ngưỡng bạch Giác linh Tổ sư,
Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư,
Kính bạch chư tôn thiền đức Tăng Ni,
Thưa toàn thể đạo tràng Phật tử
,

Hôm nay Lễ Giỗ Tổ lần thứ 41, để tưởng nhớ đến thâm ân giáo dưỡng và công đức huấn dục của Tổ sư, chúng con trích bài giảng về Thanh tịnh của Tổ sư, kính nguyện Giác linh Tổ sư từ bi chứng giám.

***

Định nghĩa:

Thanh là trong. Tịnh là sạch. Thanh tịnh là tánh trong sạch, không vướng cáu bẩn, nhơ nhớp, là tánh trầm lặng, không náo động ồn ào. Thanh tịnh là tánh đã được gạn lọc khỏi những gì xấu xa ô uế tạp nhạp, lăng xăng trong cõi đời ô trược này.

1. Thân thanh tịnh: Thân thể sạch sẽ, không chải chuốt son phấn. Áo quần phải luôn thay giặt, không rách rưới nhưng cũng không xa hoa, lòe loạt kiểu cách. Thức ăn uống giản dị, không rượu chè, trộm cướp, sát hại, dâm ô, hút sách, không cao lương mỹ vị. Chỗ nghỉ ngơi hợp vệ sinh, không giường cao nệm gấm, không trướng rũ màn che.

2. Khẩu thanh tịnh: Lời nói luôn luôn chân thật, không thêm không bớt, không ngọt như mật, không chua như dấm, không suồng sã bỡn cợt, không sừng sộ gầm thét, không hỗn hào độc dữ, không nặng nề sắc bén… Trái lại, lời nói trong trường hợp nào cũng phải trong sạch, ôn tồn, đúng đắn, lợi ích cho mọi người chung quanh.

3. Ý thanh tịnh: Ý là phần quan trọng, chi phối tất cả những lời nói, cử chỉ, hành động, đời sống của con người. Ý trong sạch thì đời sống dễ trong sạch, ý nhiễm ô thì đời sống bị xấu xa, hoen ố. Ý trong sạch là thế nào? Là không vẩn đục bởi những tánh tham lam giận dữ kiêu căng, si mê nghi ngờ. Mỗi khi ta suy nghĩ, tưởng nhớ một điều gì, mà tư tưởng ta không bị trộn lẫn bởi những tánh xấu nói trên, như thế là ý nghĩ được thanh tịnh. Ý ta không nhiễm mùi dục vọng, ý ta trong sáng như thủy tinh, vắng lặng như mặt nước hồ thu, sáng chói như mặt trời trí tuệ, thơm ngát hương từ bi, như thế là ý thanh tịnh.

4. Hành động thanh tịnh: Làm việc không vì danh lợi riêng mình. Người có hành động thanh tịnh không mưu mô tính toán, không ỷ mạnh hiếp yếu, không ỷ giàu hiếp nghèo, không ỷ thế hiếp cô. Người có hành động thanh tịnh không xu nịnh ai, không sợ hãi ai. Người có hành động thanh tịnh bao giờ cũng thẳng thắn, đường đường chính chính, không bao giờ có một hậu ý đen tối nào trong lúc làm việc.

Công năng của thanh tịnh:

Mặc dù con người có Phật tánh nhưng vẫn mê mờ và trôi lăn trong cảnh giới tối tăm đau khổ, là vì còn đầy dục vọng, nhiễm ô nên tánh Phật bị che lấp. Tánh Phật như nước trong, dục vọng như cáu bẩn làm vẩn đục nước trong. Muốn làm cho nước trong phải cần đến phèn, cũng thế muốn cho tánh Phật không bị nhiễm ô phải cần đến thanh tịnh. Thiếu đức tánh thanh tịnh thì dù cố công trì chí bao nhiêu trong việc tu hành cũng vô ích, như nấu cát mà mong thành cơm. Dù ta có làm bao nhiêu việc bố thí lợi tha mà tâm thiếu thanh tịnh thì những việc làm ấy cũng mất hết ý nghĩa cao quý và hiệu quả của chúng.

Người thanh tịnh sẽ có một đời sống nhẹ nhàng thanh thoát, tâm không bận bịu một ý nghĩ đen tối nào, thân khoan khoái dễ chịu. Người thanh tịnh đi đến đâu như mang theo một vùng ánh sáng, một làn khí trong, như tỏa ra một mùi hương mát dịu. Người thanh tịnh chẳng khác gì một đóa hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Người Phật tử phải dưỡng tánh thanh tịnh như thế nào trong đời sống hàng ngày? Tánh chất của thanh tịnh bao gồm tất cả mọi phương diện của đời sống. Cho nên, muốn dưỡng tánh thanh tịnh, chúng ta không thể chú trọng đến phần vật chất mà bỏ phần tinh thần hay ngược lại chú trọng phần tinh thần mà bỏ phần vật chất. Đừng ngụy biện rằng: “Tu là cốt ở tâm, hình thức không đáng kể. Ta thanh tịnh ở trong lòng là đủ rồi”. Nói như thế là không nhận rõ ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn cảnh.

Hoàn cảnh thanh tịnh bên ngoài giúp ta dễ thanh tịnh bên trong. Tất nhiên trong cõi đời ô trọc này, khó có cảnh hoàn toàn thanh tịnh. Nhưng trong phạm vi tương đối, ta có thể tạo ra hay tìm kiếm một hoàn cảnh tạm gọi là thanh tịnh. Ta tập sống vệ sinh, điều độ, thứ tự; tập hành động theo lẽ phải. Ta tìm kinh sách có những tư tưởng trong sáng tiến bộ để đọc, tìm thầy bạn có đạo đức để học hỏi kết giao, tìm những cảnh chùa theo đúng chánh pháp để tới lui tu dưỡng.

Trong khi chúng ta tìm được một hoàn cảnh tạm gọi là thanh tịnh, hành động những việc có tính cách thanh tịnh rồi, chúng ta đừng vội thỏa mãn, yên trí là đã tiến được trên con đường thanh tịnh. Chúng ta cần phải đề phòng những ý nghĩ nhỏ nhiệm sâu kín, đen tối, xấu xa len lén chen vào trong những công việc tốt đẹp của chúng ta, làm cho chúng ta trở thành nhiễm ô. Sau đây là vài thí dụ thường thấy hàng ngày:

Chẳng hạn khi ta cho kẻ hành khất một vài đồng, vì lòng thành thật thương xót họ. Đó là một việc thiện quý báu. Nhưng nếu bên cạnh động lực chính ấy, ta còn có ý mong cho người chung quanh biết mình là kẻ nhân từ. Như thế là bố thí mà còn bị phiền não tham danh chen vào.

Khi ta giúp đỡ ai một điều gì mà ta mong ước một ngày kia người ấy sẽ giúp đỡ lại ta, như thế là làm việc lợi tha với động lực ích kỷ.

Khi ta đến chùa vì mục đích muốn hiểu đạo và cầu giải thoát, nhưng vì đến chậm hay thiếu chỗ, ta phải đứng lạy sau người, hay ngồi nghe giảng vào hàng ghế cuối hoặc ăn uống không được trọng đãi v.v… ta đâm ra buồn phiền trách móc: “Tôi như thế này mà nhà chùa để tôi đứng sau, ngồi dưới, xem thường, khinh dễ v.v…” Như thế là đến chùa để tìm thanh tịnh mà hóa ra lại đi ôm ấp thêm phiền não ô trược.

Những thí dụ trên cho chúng ta thấy hoàn cảnh thì thanh tịnh, việc làm tốt đẹp mà động cơ thì bất tịnh, nhiễm ô. Vậy trong đời sống hàng ngày, mỗi lúc nghĩ, mỗi lúc nói, mỗi lúc làm, nằm ngồi đi đứng, chúng ta phải luôn luôn tự xét xem mình đã thanh tịnh chưa. Trong trường hợp những nhiễm ô thô thiển dễ trừ, ta hãy mạnh dạn trừ ngay. Trong những trường hợp nhiễm ô sâu xa, vi tế khó trừ, ta hãy tập phép quán “nhị không” để phá trừ ngã chấp và pháp chấp. Làm được như thế là ta đã dưỡng tánh thanh tịnh của Phật mà mỗi chúng ta đều sẵn có.

***

Kính bạch Giác linh Tổ sư,

Giờ đây trước án tiền giác linh của Tổ sư, toàn thể hàng môn hạ pháp tử, pháp tôn chúng con nguyện một lòng vâng theo di huấn của Tổ, xin suốt đời nỗ lực tu học, noi gương Tổ sư và Hòa thượng Ân sư làm tròn sứ mệnh của người con Phật, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, ngõ hầu đền đáp phần nào công đức sâu dày của Thầy Tổ.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

LỄ TƯỞNG NIỆM GiỖ TỔ

LỄ TƯỞNG NIỆM GiỖ TỔ

 

PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG SƠ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ LẦN THỨ 705 được tổ chức lần đầu tiên tại Tổ Đình Thiền Viện Thường Chiếu.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

Cung kính ngưỡng bạch trên Hòa thượng Tông chủ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử chứng Minh.

Cung kính ngưỡng bạch Thầy.

Kính bạch chư tôn đức tăng ni cùng toàn thể quý nam nữ Phật tử.

ANH 8122Hôm nay ngày mùng 1 tháng 11 năm Quý Tỵ, nhằm ngày 3 tháng 12 năm 2013, ngày kỷ niệm đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử nhập Niết-bàn. Ngài là một bậc Tổ sư khai sáng dòng Thiền nước Việt, là trang sử vàng son của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, một Thiền phái hoàn toàn Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ thứ 12 đời nhà Trần. Một vị vua anh hùng sáng đạo, rời bỏ ngai vàng xuất gia, hoằng pháp độ sinh, truyền xướng môn phong chư Tổ, hòa tấu khúc vô sanh ngút ngàn trên non Yên Tử làm vẻ vang hưng thịnh một thời, mãi cho đến ngày nay, khúc nhạc kia vẫn còn âm vang hùng hồn, là đỉnh cao ngất trời của những tâm hồn thoát tục siêu phương...  

 

Thiền môn Tổ ấn khơi niềm nhớ,

 Đối cảnh vô tâm ý chỉ Ngài.

 Giác Hoàng Điều Ngự còn vang bóng,

 Cư Trần Lạc Đạo Phú nào phai.

 

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần Thị Thiều, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu ngọ 1258, niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1.

Ngày 8 tháng 11 năm 1278, Ngài được vua cha là Trần Thánh Tông nhường ngôi, ở ngôi 13 năm, làm Thái thượng hoàng 6 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi. Ngài qua đời ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu thân năm 1308.

Bấy giờ nhà Nguyên sai sứ sang hạch tội, Trần Nhân Tông lại là một vị vua anh minh và quả quyết, mà trong nước từ vua quan đến dân chúng đều một lòng, nên từ năm 1258 đến 1287, quân Nguyên Mông hai lần sang đánh Đại Việt đều bị dẹp tan.

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, Ngài xuất gia tu hành tại núi Yên Tử và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, là đệ nhất sơ Tổ của dòng Thiền Việt Nam. Về sau Ngài được gọi cung kính là “Phật Hoàng”.

Ngài đã đem chỗ lãnh hội tông chỉ thiền tủy phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc từ nơi Thượng Sĩ Tuệ Trung, ứng dụng vào đời sống thường nhật, thể hiện cụ thể qua bài kệ Cư Trần Lạc Đạo:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên.

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích.

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

 

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên.

Đối đến thì ăn mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm.

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

 

Tinh thần "hòa quang đồng trần", của Thượng Sĩ được Ngài hấp thu và đúc kết thành tư tưởng "cư trần lạc đạo", trở thành "phong cách sống" của rất nhiều nhân vật văn hóa lịch sử đời Trần. Dưới triều đại của Ngài, từ quý tộc, cho đến những người thân phận thấp kém đều thừa hưởng đời sống an vui.

Vua Trần Nhân Tông vừa là Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, vừa là nhà lãnh đạo tối cao, vừa là nhà ngoại giao kỳ đặc cả trong những tình huống ứng xử đối nội lẫn đối ngoại, là con hiếu thuận, là cha nghiêm từ, là anh độ lượng.., lại còn vừa lo nghĩ nhiều đại sự cho thế hệ mai sau.

Có thể khẳng định, vua Trần Nhân Tông là một tác gia văn học vừa tinh tế vừa đa phong cách. Một trong những đóng góp đặc biệt của Ngài chính là những tác phẩm lớn như Cư Trần Lạc Đạo PhúĐắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, góp phần quan trọng cho nền văn hóa Thiền tông Việt Nam.

Thiền phái Trúc Lâm do Ngài sáng lập và trở thành Trúc Lâm đệ nhất Tổ, kế thừa được tinh hoa của những tông phái Thiền Tông, để trở thành một Thiền phái mang đậm sắc thái dân tộc mà đặc điểm hàng đầu là tinh thần nhập thế lạc quan.

Trúc địch xuy chi, chấn hưng Việt Nam Thiền tông, vĩnh kiếp truyền đăng tục diệm.

Lâm manh khởi đích, khôi phục Yên Tử Tổ đạo, thiên niên đức hóa lưu phương.

Sáo trúc thổi lên, chấn hưng Thiền tông Việt Nam, muôn kiếp trao đèn nối đuốc.

Chồi rừng chổi dậy, khôi phục Tổ đạo Yên Tử, ngàn năm hương đức lưu truyền.

Vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ thứ 21, Hòa thượng Tôn sư Thượng Thanh hạ Từ với hoài bão khôi phục Phật giáo Thiền tông đời Trần, cụ thể qua các thiền sư trong đó hình ảnh tiêu biểu nổi bậc nhất là đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Hàng hậu học chúng ta vô cùng diễm phúc được thừa hưởng một di sản tinh thần vô giá này, đó cũng là nhờ công đức khôi phục Thiền Tông Việt nam của Hòa thượng Tôn sư.

Nhằm thể hiện tấm lòng ngưỡng mộ và tri ân đến chư vị Tổ sư đời Trần, một số quý Phật tử với tâm nguyện của mình đã thỉnh được khối ngọc bích nhập về từ Canada, thuộc vùng mỏ ngọc nổi tiếng thế giới. Tượng được tạc theo tư thế Phật ngồi cao khoảng 1,6m, nặng hai tấn, khuôn mặt dát vàng. Đây là tượng Phật Hoàng bằng ngọc bích đầu tiên ở Việt Nam có kích thước lớn nhất.

Sau khi bức tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông hoàn thành, được đưa về an trí đầu tiên tại Thiền viện Thường Chiếu, cho hàng tăng ni Phật tử nơi đây ngày đêm chiêm bái. Thật là một niềm vinh hạnh lớn đối với Tăng Ni thiền phái Trúc Lâm nói riêng mà cũng là niềm vui chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Công đức này thật vô cùng to lớn, không thể dùng ngôn từ bút mực diễn tả hết được. Để bày tỏ tấm lòng tri ân vô hạn của quý Phật tử đã nhiệt tình kiến tạo nên tôn tượng này, cảm tạ mọi duyên lành đã thành tựu được Tôn tượng an trí nơi đây, xin nhất tâm hướng về ba ngôi Tam bảo, nguyện cầu chư Phật luôn gia hộ cho tất cả quý vị hữu duyên được sở nguyện tùy tâm, kiết tường như ý. Đồng thời, xin hướng nguyện cho mọi người chiêm bái tôn tượng đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông này được niềm tin bất thoái, phước huệ vẹn toàn.

Hôm nay, trong niềm hoan hỷ của người con Phật, lại một lần nữa, Tổ đình Thiền Viện Thường Chiếu vô cùng diễm phúc, hội đủ duyên lành được cung đón Tôn Tượng Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, an trí tại nơi đây và cũng là lần đầu tiên tổ chức lễ  kỷ niệm ngày nhập Niết-bàn của Ngài lần thứ 705. Toàn thể chư Tôn đức Tăng Ni trong đạo tràng, xin được kính cẩn nghiêng mình, bằng tất cả tấm lòng thành kính của mình, đốt nén hương lòng dâng lên cúng dường, ngưỡng nguyện chư Phật mười phương quang giáng đạo tràng, đức Phật Hoàng oai linh chứng giám cho tấm lòng thành của chúng con.

Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh này, chúng con thành kính cung thỉnh Thầy, chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng toàn thể Phật tử hướng về Tôn tượng Đức Phật Hoàng nhất tâm trân trọng dâng hương cúng dường.

 

Nam Mô Phật Bổn  Sư Thích Ca Mâu Ni. 

 

PHẬT GIÁO TRÚC LÂM VỚI NHỮNG NÉT SON TRONG LÒNG DÂN TỘC

PHẬT GIÁO TRÚC LÂM VỚI NHỮNG NÉT SON TRONG LÒNG DÂN TỘC

Thích Thông Phương
***
Yentu00(Tham luận tại hội thảo “Phật Giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác qui hoạch, bảo tồn, phát huy những giá trị của Khu di tích Yên Tử hiện nay” do Học viện Phật Giáo Việt Nam tại Hà Nội kết hợp với GHPGVN tỉnh Quảng Ninh tổ chức nhân Đại lễ tưởng niệm lần thứ 705 ngày nhập Niết Bàn và khánh thành bảo tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông vào ngày 02/12/2013 tại Hội trường lớn GHPGVN tỉnh Quảng Ninh)
***

 

I- ĐẾN VỚI MỌI TẦNG LỚP

Phật Giáo Trúc Lâm gắn liền với vua Trần Nhân Tông, một bậc tôn quí trong thiên hạ, nhưng sẵn sàng từ bỏ đời sống quyền quí, cao sang mà đi tu, chứng đạo, và đem ánh sáng chân lý giác ngộ để soi sáng lại cho tất cả mọi người khiến cùng được lợi ích. Từ trong triều đình cho đến người dân nơi thôn quê, với người trí thức thì Ngài giáo hóa theo trí thức; với người bình dân thì giáo hóa theo bình dân, cốt làm sao giúp cho người người chuyển hóa mê lầm, đi theo con đường hướng thiện, để xã hội càng đi lên.

Đức Phật Hoàng cũng như Thiền sư Pháp Loa, Thiền sư Huyền Quang, thường giảng kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, Truyền Đăng Lục, Đại Huệ Ngữ Lục…ở những chùa lớn gần thành thị cho hàng trí thức được nghe, đồng thời các Ngài cũng đem pháp Thập Thiện giáo hóa cho người dân dã, là thích ứng với từng căn cơ, không phân biệt quí tiện, sang hèn.

II- PHÁT HUY TRÍ TUỆ CHÂN THẬT NƠI MỖI NGƯỜI

Trong nhà Thiền có nói đến hai thứ Trí tuệ: Trí tuệ hữu sư và Trí tuệ vô sư. Trí hữu sư là trí do nghiên cứu, học hỏi, có thầy dạy, là trí tuệ tiếp thu từ bên ngoài mà được. Đây là trí tuệ phương tiện để dẫn vào Đạo, chưa phải là trí tuệ chân thật. Chính trí vô sư là trí tuệ do công phu tu hành chân thật mà tự tâm mở sáng. Không do ai dạy, không do từ nơi Thầy mà được. Như các nhà bác học chuyên tâm đi sâu một vấn đề, rồi bất chợt trong giây phút nào đó tự phát minh ra, tự sáng tỏ vấn đề ngoài chỗ suy nghĩ của mình.

 Cũng như Thiền sư Pháp Loa tham học với Sơ Tổ Trúc Lâm đã lâu, một hôm trình ba bài kệ đều bị Ngài lấy bút gạch bỏ hết, Sư trở về phòng đầu óc nặng trĩu, hết biết suy nghĩ gì nữa, bỗng nhìn thấy bông đèn tàn rụng, liền mở sáng trí tuệ vô sư. Lúc này không có ai dạy cả mà lại tự sáng tỏ, vượt ngoài chỗ suy nghĩ bình thường. Từ đó, Sư lấy đây làm chỗ sống và chỉ dạy cho người. Cho đến khi sắp tịch, Sư tóm tắt ý nghĩa qua bài kệ:

 

                        Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
                        Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
                        Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
                        Na biên phong nguyệt cánh man khoan

        Dịch:
                        Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn
                        Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng
                        Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi
                        Bên kia trăng gió rộng thênh thang
                                                                    (HT. Thích Thanh Từ)

 

Bên kia trăng gió rộng thênh thang, là muốn ngầm chỉ đến chỗ sống của trí tuệ chân thật kia. Chỗ này cần phải người tự thể nghiệm, phải là hành giả thật sự. Từ đó mà truyền lại cho người. Chính đây là mạch sống của chư Tổ, giúp cho người học thêm vững niềm tin mà tiến bước, đồng thời chứng thật cho giá trị cao quí của Chánh pháp Như Lai. Chính chỗ này mà vua Trần Nhân Tông sẵn sàng bỏ hết những quyền quí, cao sang, danh vọng tột bực ở thế gian để vào Đạo, tìm ra lẽ thật hi hữu này.

 III- NÂNG CAO GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG THÊM Ý NGHĨA

 Tạo nhơn duyên cho người người sống có đạo đức, trí tuệ, sáng tỏ được tâm tánh chính mình, nhận rõ lẽ thật, giả nơi con người theo tinh thần Thiền Tông. Bởi chúng ta sống mà không rõ được gì là mình, gì là tâm, thì cuộc sống này thật sự là thiếu ý nghĩa sống. Vì mình là chủ cuộc sống nhưng mình là gì lại chưa sáng tỏ.

Ở đây thì các Ngài đã thật sự sáng tỏ được trí tuệ chân thật nên hiểu rõ lẽ thực nơi chính mình bằng chính trí tuệ do thực tu, thực ngộ mà hiện bày, nên chứng thực không nghi ngờ.

 Như Sơ Tổ Trúc Lâm đã thổ lộ qua bài kệ Xuân Vãn:

 

                    Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
                    Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
                    Như kim khám phá đông hoàng diện
                    Thiền bản, bồ đoàn khán trụy hồng.

    Tạm dịch:
                    Thuở bé đâu từng rõ sắc không
                    Xuân về rộn rã nức trong lòng
                    Chúa xuân nay bị ta khám phá
                    Ngồi lặng nhìn xem rụng cánh hồng.

 

Tức là lúc trước, khi chưa hiểu đạo, thì tâm còn bị ngoại cảnh chi phối nên mỗi độ xuân về, lòng cũng theo cảnh mà rộn rã, động theo cảnh xuân, không làm chủ được. Nhưng nay nhờ công phu tham thiền, Ngài đã nhận ra chúa xuân, tức sáng tỏ được ông chủ chân thật muôn đời nơi mình, là thật sự biết rõ chính mình. Giờ đây, Ngài đã giải đáp được chính xác cho câu hỏi: “Cái gì là chính mình”, cuộc sống bây giờ mới sống có ý nghĩa và soi sáng lại cho nhiều người.

 IV- ĐEM LẠI NIỀM TỰ TIN NƠI MỖI NGƯỜI

 Là chỉ ra chân lý giác ngộ vốn có sẵn nơi mỗi người, vì ai ai cũng có tâm, tức là đều có khả năng giác ngộ để vươn lên khỏi cái chúng sanh mê lầm này, chớ không phải cúi đầu chấp nhận làm chúng sanh mãi mãi. Như trong bài kệ Cư Trần Lạc Đạo có câu:

                     Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
                    Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
                    Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
                    Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền

 

Nghĩa là kho tàng của báu Tánh Giác vốn có sẵn trong Tâm của mỗi người, cần tự nhận trở lại nơi mình, không phải tìm cầu xa xôi, cũng không phải tự khinh mình, vì: “Kia đã là trượng phu, thì ta đây cũng vậy”.

 Và Thiền là tâm thanh tịnh sáng ngời ngay trước mọi cảnh mà không bị cảnh ràng buộc, che mờ. Là sống ngay trong đời mà không mất tâm thiền. Là đem Đạo đến gần với người cư sĩ còn sống trong trần mà vượt lên khỏi trần, không phải lìa trần mới có Đạo.

 Cũng như trong bài phú Cư Trần lạc Đạo ở hội Thứ nhất đã trình bày:

 

                    Mình ngồi thành thị
                    Nết dùng sơn lâm

 

Là ở thành thị nhưng không bị thành thị làm ô nhiễm, không bị che mờ tánh sáng suốt. Như vậy là người cư sĩ cũng có thể ở trong trần mà vươn lên khỏi trần, như hoa sen trong bùn mà nhô lên khỏi bùn. Cũng như Thượng sĩ Tuệ Trung, một vị tướng, một cư sĩ sống trong đời thường nhưng tâm thiền thật sáng tỏ, đời sống thật thanh thoát đầy đạo lý, trí tuệ thật siêu xuất, khiến cho nhiều vị xuất gia còn phải đến tham học với Ngài.

V- TÓM KẾT

Đời Trần với Phật Giáo Trúc Lâm đã làm nổi bật cho nền Phật Giáo nước nhà trên nhiều phương diện và để lại những bài học quí giá cho chúng ta ngày nay rất có giá trị.

 

Mỗi người ở một góc nhìn và phát hiện ra những nét hay của riêng mình để cùng đóng góp chung lại mà làm rạng rỡ cho sự nghiệp quí báu của Tổ tông, đồng thời khiến cho bạn bè trên thế giới tìm hiểu càng thêm kính quí.

Yên Tử được gắn liền với Phật Giáo Trúc Lâm, với dòng Thiền của nước Việt và tên tuổi của vị Tổ, là ông vua nước Việt, một danh nhân của các thời đại, là một đại nhân duyên thật hi hữu, rất cần được tôn trọng và phát huy đúng mức.

 Tóm lại, học người xưa để xét lại ngày nay, và phát huy những điều hay tốt, khiến cho sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, cho ánh sáng chân lý giác ngộ của Đức Phật ngày càng soi sáng thêm trên thế gian này, giúp cho cuộc đời thêm an vui, bớt đau khổ, là trách nhiệm chung của những người con Phật.

Chúng tôi xin được chia sẻ một góc nhìn về Phật Giáo Trúc Lâm để góp phần cho ngày lễ kỷ niệm Đức Phật Hoàng viên tịch được thêm nhiều ý nghĩa.
Kính chúc hội thảo thành công tốt đẹp!

 

DIỄN VĂN LỄ AN VỊ PHẬT TẠI TVTL CHÁNH GIÁC

DIỄN VĂN LỄ AN VỊ PHẬT TẠI TVTL CHÁNH GIÁC

hinh051 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Kính Bạch trên Hòa Thượng Tôn Sư chứng minh.

Kính bạch chư Hòa Thượng, chư Tôn Đức Tăng – Ni

Kính thưa chư vị khách quý, lãnh đạo chính quyền tỉnh và các cấp địa phương.

Kính thưa chư Thiện Tín Phật Tử gần xa.

Cách đây hơn 18 tháng, lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác được long trọng cử hành cũng tại đây vào ngày mùng 8 Tháng 4 ÂL. Rồi qua ngày 18 tháng 7 ÂL mới chính thức khởi công động thổ xây dựng. Trước tiên là 3 hạng mục: chánh điện; lầu chuông; lầu trống. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, kinh tế eo hẹp, nhưng với sự nhiệt tâm ủng hộ của Giáo hội, của lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương, của chư Tôn đức, huynh đệ trong tông môn và nhất là chư thiện tín gần xa, gồm mọi thành phần đóng góp từ vật chất  đến tinh thần. Trong đó có đội thợ của anh Hùng đã làm rất nhiệt tình. Được đầy đủ những duyên lành cộng lại, giúp cho Thiền viện hiện nay có ngôi chánh điện tương đối kín đáo để thỉnh Tôn đức Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu và hai vị Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền vào an vị. Đồng thời lầu chuông, lầu trống cũng tương đối gần hoàn chỉnh để thỉnh chuông, trống vào sử dụng.

Tuy công trình chưa thật hoàn chỉnh, nhưng vì Hòa Thượng Tôn Sư tuổi cao và có chút bệnh duyên đang tịnh dưỡng và hiện thời sức khỏe Hòa Thượng đang ổn định, chúng tôi trình Hòa Thượng Trưởng ban Quản trị Thiền phái Trúc Lâm được làm lễ an vị sớm, để tiện thỉnh Hòa Thượng Tôn Sư về chứng minh và thấy qua Phật sự có ý nghĩa trọng đại này.

Dưới sự chứng minh và hỗ trợ của Ban Quản Trị, Phật sự được làm trong tinh thần hòa hợp để cùng dâng lên Hòa Thượng, nhằm bày tỏ lòng thành hướng về quê hương của Ngài, đồng thời cũng tạo duyên lành cho Tăng Ni Phật tử gần xa có thêm một nơi nữa để trở về nương tựa tu học.

Vì tôn tượng Đức Phật được thỉnh về muộn hơn ngoài ý định, việc tổ chức phải tiến hành gấp rút, công tác chuẩn bị chưa được chu đáo, nhưng hôm nay lại được sự có mặt của trên chư tôn Hòa Thượng, cho đến chư vị khách quí, và  Phật tử như thế này, là niềm khích lệ lớn lao cho chúng tôi.

Và theo dự định của Ban Hưng Công, sau lễ An vị tôn tượng Phật và Bồ Tát, sẽ khởi công tiếp xây dựng nhà Tổ, và còn lại các hạng mục Tăng đường, trai đường, khu nhà bếp, khu nhà khách nữ, cổng Tam quan nếu đủ duyên hoàn thành thì sẽ khánh thành giai đoạn I. Sau đó tiếp tục đến các hạng mục còn lại.

Kính mong tiếp tục được sự quan tâm hỗ trợ của chư tôn liệt vị và Phật tử gần xa khiến cho Phật sự chóng viên thành.

Nơi đây chúng tôi luôn nghĩ đến để tạo cho mọi người, mọi tầng lớp đều có thể đóng góp vào Phật sự, để ai đến đây cũng thấy vui vì mình cũng có phần gieo trồng phước điền trong đó, và như là trở về ngôi nhà chung.

Và giờ này, chúng con một lòng cúi đầu hướng về Hòa Thượng Tôn Sư kính lễ, ngưỡng mong Thầy chứng minh và hộ niệm cho chúng con hoàn thành Phật sự này. Chúng con đồng nhất tâm cầu nguyện Tam Bảo gia bị cho Thầy sức khỏe được ổn định, trí tuệ viên minh, thành tựu các sở nguyện.

Nguyện cho chư Tôn Đức pháp thể an khang, chơn tâm thường sáng.

Nguyện cho chư vị khách quí cùng tất cả Phật tử gần xa thân tâm thường an lạc, duyên lành ngày càng tăng trưởng

Nguyện cho duyên lành hôm nay đồng đem đến niềm vui tùy hỉ cho tất cả.

CUNG NGHINH TƯỢNG PHẬT-TVTL CHÁNH GIÁC

Vào lúc 22g30, ngày 12 tháng 10 năm 2010 (nhằm mùng 8 tháng 09 năm Quý Tỵ), sau gần 6 tháng thực hiện, tôn tượng Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã được vận chuyển về Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác tỉnh Tiền Giang trong niềm hân hoan dâng tràn của Tăng Ni và đồng bào Phật tử gần xa.

Ngay sáng hôm sau, việc lắp đặt đã được tiến hành dưới sự chủ trì chứng minh của thượng tọa trụ trì thiền viện. Đến 16g ngày 13/10/2013, việc lắp đặt đã hoàn tất một cách an ổn, tốt đẹp. Tôn tượng Đức Bổn Sư đã an vị trên tòa kim cang, thiền viện đã sắn sàng cho lễ an vị vào ngày 20/10/2013, tức là ngày 16 tháng 9 năm Quý Tỵ.

Dưới đây là vài hình ảnh về quá trình vận chuyển và lắp đặt tượng.
 

( Theo email Chánh Lạc Khiêm )

Thiền Tông Việt Nam trên đường phục hưng & hằng hóa

LỜI GIỚI THIỆU

THIỀN TÔNG VIỆT NAM

Trên đường phục hưng & hoằng hóa

thientongvn2

Viết về Người, Hòa thượng thượng Thanh hạ Từ, bậc ân sư khả kính của tất cả môn hạ đệ tử trong Tông môn thuộc thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Viết về thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ XX được khôi phục và hoằng hóa bởi một thiền sư xuất thân từ miền sông nước Hậu Giang. Đó là nội dung tập sách do Đại Đức Thích Đạt-ma Quán Hiền đã khổ công biên tập mà quý độc giả đang có trên tay.

Bằng bút pháp nhẹ nhàng thi vị nhưng không kém phần cuốn hút, biên giả khiến đọc thích thú tiếp tục giở sang trang kế, mặc dù đây là tác phẩm thuộc loại biên khảo rất dễ gây cảm giác nhàm chán. Đi vào tập sách, bên cạnh những kiến trúc vật thể khô khan như thiền đường, nhà khách, tăng đường, còn có khoảng không gian trời nước xanh mát bao la, khiến ta ngỡ như đi giữa rừng thiền:

Tất cả toàn thông, muôn lối hài hòa nhi nhiên. Không tiếng động, không mô hình, không vướng mắc. Uyên nguyên như thế, tỏa sáng trầm hùng như thế. Từ đây sức sống tuôn trào vô tận, hạnh phúc an lạc vô biên. Kẻ đứng ngoài kia với nắng gió âm thanh, chưa một lần ngoảnh mặt làm sao biết được ? Ai đã nghe tiếng thác vọng rừng thiêng, ai đã đi giữa nước mắt nụ cười, thử một lần dừng lại, nhìn xem làm gì ?

Ở đây, thanh thanh rừng già, thanh thanh nhựa sống chưa thành vóc, chẳng nên hình. Dịu mà thoảng, nhẹ mà tỏa, ngan ngát hương định, hương tuệ, hương giải thoát. Rừng thiền rắc lá vi vu sao không thành tiếng động, gió mát thanh lương sao chẳng gợi bóng trúc la đà ? Có phải tâm vật nhất như, động tỉnh bặt dấu ? Chà chà ! chớ để môi mép khua động hồn rừng, làm lụy đến muôn đời.

Thôi thì,

Hãy thử một lần bước vào. Đây khung trời không cấm địa, đầy ắp trăng sao tỏa sáng, chẳng ngăn ngại những bước chân lữ thứ quay về.

Thiền viện Thường chiếu, 15-04-2013
HÒA THƯỢNG THÍCH NHẬT QUANG
Trưởng Ban Quản Trị Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử
 

( BBT web thuongchieu.net vừa được ĐĐ Quán Hiền tặng quyển "Thiền Tông Việt Nam trên đường phục hưng và hoằng hóa, kính giới thiệu đến quí đọc giả gần xa )

 

HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ TRUNG HOA

HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ TRUNG HOA
HT Thích Nhật Quang giảng giải

luanhoi

.......... Tác phẩm Thiền sư Trung Hoa gồm các tập I, II, III là tuyển tập hành trạng chư vị thiền tổ Trung Quốc do thầy tôi, Hòa thượng thiền sư thượng Thanh hạ Từ soạn dịch. Chữ “hành trạng” nghĩa là nói về cuộc đời cũng như sinh hoạt tu học của quý ngài. Theo cú pháp thời xưa, người Trung Hoa dịch chữ “hành trạng” là công hạnh và tất cả sinh hoạt.

Sử liệu đã ghi chép rõ ràng, đầy đủ hành trạng từ đức Phật, các vị thánh tổ, lịch đại tổ sư, thiện hữu tri thức cho đến thời đại của chúng ta. Một dọc dài từ thượng tổ Ma-ha Ca-diếp ở Ấn Độ cho tới Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma ở Trung Hoa, rồi tới các bậc danh tăng thời của chúng ta đều là những tấm gương sáng cho người cầu học Phật pháp. Trong tác phẩm “Sử 33 vị Tổ thiền tông Ấn-Hoa”, có nói hành trạng của sáu vị thủy tổ Trung Hoa: Tổ Bồ-đề-đạt-ma, Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng. Các ngài là những bậc có chìa khóa mở kho tàng Phật pháp, mang đại nguyện đi vào đời, mở cửa Niết-bàn cho tất cả chúng sanh bước vào. Chúng ta không thể diễn tả, trình bày hay dùng bất cứ phương tiện gì để biểu trưng hết những công đức, việc làm vĩ đại, hành trạng của đức Thế Tôn cũng như các vị Bồ-tát, liệt vị Tổ sư.

Chư vị Bồ-tát thị hiện nơi cõi Ta bà với tâm đại từ bi cứu độ chúng sanh, nơi nào cần các ngài đều có mặt. Do đó trong đạo tràng của chúng ta luôn có sự thị hiện của vô lượng Bồ-tát và thánh nhân. Bởi không thấy được sự hiện diện của các ngài cho nên chúng ta mới siêng tu. Nếu thấy thì chắc rằng chúng ta sẽ cầu xin này kia và không chịu tu. Do đó các ngài thường thị hiện mà ẩn danh. Người tu thiền phải dẹp sạch sự ỷ lại mới nhập thiền. Bởi còn trông chờ, ỷ lại, mong ngóng thì không bao giờ gặp Phật, Bồ-tát. Chừng nào dẹp sạch hết những điều đó, liều mạng sống, liều mạng tu tập, hoan hỷ, nhẫn nại trả tất cả nợ nần cũ thì Phật, Bồ-tát hiển hiện............

Phật tử phát tâm ấn tống sách cúng dường lễ vu lan xin liên lạc:

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
ĐT: 061 8602 008 hoặc 061 3841 071 ( HT Trụ trì Thường Chiếu)

Hình ảnh TV Thường Chiếu

Hỉnh ảnh Thiền viện Thường Chiếu

Trang hình ảnh này do anh ĐÀO QUANG QUYẾT - Công ty Wonav Corp
(A2-806 - Chi Linh - Vung Tau)  thực hiện và phát tâm cúng dường cho trang web thuongchieu.net.

BBT xin cảm niệm công đức của anh Quyết và tập thể anh em đã thực hiện bộ ảnh này.   

Kính mới quí đọc giả nhấn (click) chuột để vào xem

TÁNH HỶ XẢ

HÒA THƯỢNG TỔ SƯ GIẢNG VỀ TÁNH HỶ XẢ
Lễ giỗ Tổ lần thứ 40

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Cung kính ngưỡng bạch Giác linh Tổ sư,
Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư,

Hôm nay Lễ Giỗ Tổ lần thứ 40, để tưởng nhớ đến thâm ân giáo dưỡng và công đức huấn dục của Tổ sư, chúng con trích bài giảng về Hỷ xả của Hòa thượng Tổ sư, kính nguyện Giác linh Hòa thượng Tổ sư chứng giám.

Hỷ của đạo Phật không có nghĩa là vui đùa một cách vô tư, không phải là không cho cái gì là quan trọng, không phải là phớt qua tất cả, để được vui cười một cách ồ ạt, sôi nổi rồi ngày mai ra sao thì ra. Hỷ đây không phải là buông thả cõi lòng để vui theo những cảnh dục lạc ở đời, cũng không phải là tán thành, tùy hỷ để cho người ta làm quấy, làm ác.

Hỷ của đạo Phật là vui theo những điều chân thiện mỹ, là vui vì thấy người khác tạo nhân lành, được quả tốt, là vui vì mình làm cho người và chúng sanh được vui. Cái vui ở đây phát sinh từ lòng từ bi, bình đẳng, chứ không phải vì một lý do ích kỷ nào khác, cái vui bao la rộng lớn toàn thiện, có tánh cách giải thoát, thanh tịnh, chứ không phải hẹp hòi thiển cận. Cái xả ở đây cũng không phải chỉ là sự tha thứ, khoan dung đối với những gì đã làm ta đau khổ, không phải chỉ là sự vứt bỏ ra khỏi lòng ta những bực bội, xót đau mà người khác đã gieo vào lòng ta, không phải chỉ là bỏ qua những gì trái tai gai mắt đối với ta. Xả ở đây có tánh cách tuyệt đối, nghĩa là bỏ ra ngoài tất cả, không chấp trước một cái gì, dù là vật chất hay tinh thần, dù là xấu xa hay tốt đẹp, dù là ở địa vị phàm phu hay đã chứng được quả Thánh. Nếu còn chấp trước nắm giữ một cái gì là còn cái ngã, mà còn cái ngã là còn tất cả, nghĩa là còn chưa giải thoát.

Nói như thế không có nghĩa là người tu hành phải nhắm mắt bịt tai để không thấy, không nghe gì cả, không phải là dửng dưng trước mọi sự mọi vật như đá, như gỗ, không phải là không làm gì cả, đứng khoanh tay như tượng đá. Không! Người theo hạnh xả vẫn thấy, vẫn nghe, nhưng không đắm sắc, mê thanh, không để cho lòng mình vương vấn vào cái thấy cái nghe ấy. Người theo hạnh xả vẫn làm việc, làm việc nhiều hơn ai cả, nhưng vẫn không thấy mình có làm gì, nhất là khi làm được những việc có kết quả tốt đẹp.

Nếu so sánh với tánh nhẫn nhục thì hỷ xả còn cao hơn một bậc. Tánh nhẫn nhục làm cho ta không phát ra nóng giận, bực tức, làm cho ta có sức chịu đựng những khổ nhục, đau xót ở đời, nó cản ngăn không cho cái xấu phát ra. Còn tánh hỷ xả làm cho lòng ta nhẹ nhàng thư thái, phát ra cái vui hồn nhiên trong sáng. Nhẫn nhục như người đang gánh một gánh nặng, phải luôn luôn cố gắng đi cho đến đích. Hỷ xả như người đã trút được gánh nặng, thân xác nhẹ nhàng, tâm hồn khoan khoái, vui vẻ, không bận tâm về một điều gì nữa. Nhẫn nhục như người điều phục voi dữ, luôn luôn phải đề phòng lao tâm khổ trí, để cho nó khỏi phá phách. Hỷ xả như người cỡi ngựa hay đã thuần, có thể thảnh thơi ngao du đây đó, mà không cần chú ý đến con vật mình đang cỡi.

Do đó người có tánh hỷ xả, bao giờ nét mặt cũng vui tươi, nụ cười luôn luôn nở rộng trên môi, tâm hồn sáng sủa, phóng khoáng như một gian phòng rộng, mà tất cả các cửa đều mở toang cho ánh sáng và không khí tràn vào. Người hỷ xả luôn luôn được cảm mến và được tiếp đón nồng hậu khắp nơi, vì đã gây được tín nhiệm và đem không khí hòa vui lại cho mọi người.

Riêng đối với mình, người có tánh hỷ xả không bao giờ bị phiền não quấy nhiễu, không có thù địch ngăn ngại, được nhiều trợ duyên cho nên dễ tiến bước trên đường đạo và mau chứng quả Bồ-đề.

Hình ảnh đức Bổn sư đã được người đời sau tạc lại trong các pho tượng với nụ cười hiền hòa, thanh thoát ở trên môi. Nụ cười ấy tượng trưng cho lòng từ bi, hỷ xả của Ngài. Một pho tượng không có được nụ cười ấy cũng như không có được đôi mắt tượng trưng cho trí tuệ, pho tượng ấy chưa phải là tượng đức Bổn Sư Thích Ca, vì nó thiếu mất những đức tánh căn bản đã đưa Ngài lên địa vị Phật, và đã làm cho người đời sau phân biệt được Ngài với các vị Giáo chủ khác.

Về vật chất, đức Phật trước khi xuất gia đã hoan hỷ xả bỏ những gì quý báu nhất mà người phàm phu ít có thể được: ngai vàng, điện các, ăn ngon, mặc ấm, ngọc ngà, châu báu, vợ đẹp, con ngoan…

Về tinh thần, Ngài xả bỏ tất cả những gì xấu xa mà con người có thể có, do vô minh, di truyền, tập quán, nghiệp báo gây nên. Ngài bỏ qua tất cả những ác ý và hành động nhiễu hại Ngài, của Đề-bà-đạt-đa, A-xà-thế, Vô Não, cô gái ngoại đạo độn bụng vu oan cho Ngài… Ngài đã không chấp nhứt, buồn phiền mà còn thương xót tế độ cho họ.

Ngài xả bỏ luôn tất cả những kết quả tốt đẹp mà Ngài đã thành tựu, làm tất cả mọi việc quý báu trên đời mà vẫn tự thấy không làm gì cả, với một nụ cười trên môi, một nỗi thanh thoát trong lòng. Ngài vui cái vui của người khác, vui khi thấy họ tiến nhanh trên đường giải thoát, vui như cái vui của người mẹ khi thấy con nhỏ bập bẹ nói những tiếng đầu tiên, hay bước những bước chập chững. Cái vui của Ngài không phân biệt thân sơ, không có từng bậc cao thấp, thoát ra ngoài vòng bỉ thử, bao giờ cũng hồn nhiên trong sáng. Nỗi vui ấy đã được thể hiện trong nụ cười bất tận ở trên đôi môi qua những pho tượng của Ngài, và đã làm cho tất cả Phật giáo đồ trên thế giới cảm mến, kính yêu…

Người Phật tử phải dưỡng tánh hỷ xả thế nào trong đời sống hằng ngày? Trước tiên, trong phạm vi thấp nhất, người Phật tử phải tập tánh khoan hòa độ lượng, biết tha thứ những lỗi lầm của người chung quanh. Đừng ghi vào lòng, đừng chấp nệ những lời nói, cử chỉ, hành động không đẹp đẽ của người khác đối với ta. Hãy nghĩ rằng đó là những điều sơ xuất vì vô tình hay vụng về mà ra. Nếu ta có bằng chứng về lòng xấu xa, độc ác của người muốn hại ta đi nữa, thì cũng nên tự nhủ rằng những người ấy đáng thương hơn đáng trách, vì họ thiếu sáng suốt, thiếu căn lành, và sự thiếu thốn ấy sẽ đem lại cho đời họ nhiều đau khổ lắm rồi, ta không nên làm cho họ đau khổ hơn nữa. Nếu ta ôm ấp những nỗi bực tức oán thù thì ta chỉ tạo cho ta thêm nhiều đau khổ, như người bị bắn trúng mũi tên độc mà không chịu rút ra. Ta sẽ mất ăn mất ngủ, mất thì giờ, mất bình tĩnh trong công việc làm ăn, tu học. Ta sẽ ung độc đời ta một cách khờ dại, vô ích và ung độc luôn cả gia đình, xã hội, trong ấy ta đang sống nữa.

Tiến lên một tầng cao hơn, ta phải tập biến dần tánh thù ghét ra thành tánh hoan hỷ. Thấy người khác thành công, ta không ganh ghét, dù đó là kẻ đã làm cho ta đau khổ. Trái lại, ta còn vui mừng với họ, hoan hỷ tán thán sự thành công của họ, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát.

Tiến lên một tầng cao hơn nữa, ta phải tập xả bỏ những gì ta quý báu dù là vật chất hay tinh thần. Có bỏ bớt hành lý nặng nề, ta mới đi xa được, mới lên cao được. Nếu ta ôm giữ một cái gì, thì cái ấy chỉ làm vướng chân ta, níu ta lại. Trong đời, ta thường thấy những người giàu có bao nhiêu, chức phận bao nhiêu, lại bận bịu vương vấn bấy nhiêu, như chim vướng phải lưới, càng gỡ càng mắc thêm.

Về phương diện tu hành cũng thế, những người chứng được quả này quả khác, mà chấp chặt quả ấy, thỏa mãn với sự thành công của mình, những người cố chấp như thế, không bao giờ tiến xa được. Cho nên người Phật tử phải tập xả dần, xả tất cả. Con tằm sở dĩ thành bướm bay lượn đó đây, vì nó đã rời bỏ cái kén, dù đó là một cái kén bằng tơ vàng óng ánh, ấm áp, đẹp đẽ mịn màng vô cùng. Cùng một nghĩa ấy, đức Phật có dạy: “Niệm mà không chấp có niệm mới là niệm, hành mà không chấp có hành mới là hành, nói mà không chấp có nói mới là nói, tu mà không chấp có tu mới là tu” (Kinh 42 chương).

Nhưng xả mà buồn rầu thì tốt hơn đừng xả. Xả không phải là một sự hy sinh thường làm cho người hy sinh phải đau khổ. Xả mà còn tiếc nuối, còn than thở cho cái mà mình đã bỏ đi, xả với bộ mặt buồn rầu, than khóc như kẻ đi đưa đám ma, xả như thế nào có ích gì!

Xả phải đi đôi với hỷ. Phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng như người tù khi tháo gỡ được xiềng xích. Tu sung sướng, vui mừng vì thấy mình nhẹ nhàng, khoan khoái hơn trước. Xả là một cử chỉ tháo gỡ để được giải thoát, cho nên ta vui mừng, chứ không phải là một sự trói buộc mà phải khóc than.

Phát triển được tánh hỷ xả như thế, tức là dưỡng tánh hỷ xả của Phật mà ta đã sẵn có, ở trạng thái tiềm tàng trong ta.

Giờ đây trước án tiền giác linh của cố Hòa thượng, toàn thể hàng môn hạ pháp tử, pháp tôn chúng con nguyện một lòng vâng theo di huấn của Hòa thượng, xin suốt đời nỗ lực tu học, noi gương Hòa thượng làm tròn sứ mệnh của người con Phật, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, ngõ hầu đền đáp phần nào công đức sâu dày của Thầy Tổ.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

THANH TỪ TOÀN TẬP

thanhtutoantap

LỜI DẪN
luanhoi

thanhtutoantap3Thiền tông Việt Nam luôn là mạch sống tuôn chảy trong lòng Phật giáo và dân tộc suốt từ thế kỷ thứ VI đến nay. Có lúc mạnh mẽ tuôn tràn giữa ngàn hoa đô hội, có lúc len lỏi âm thầm trong núi sâu rừng thẳm, ung dung thoát tục, khuất tịch tiêu sái. Tuy nhiên, mạch sống thiền xưa nay vẫn như vậy, không đến không đi, là dòng sinh mệnh muôn thuở của những bậc thức tâm đạt bổn.

Hòa thượng tôn sư thượng Thanh hạ Từ khi mới vào đạo cho đến hôm nay đã lấy thiền làm mạng sống, nuôi dưỡng công phu qua những giai đoạn hành thiền nghiêm cẩn. Cuối cùng ngài thấu tỏ được lời Phật ý Tổ bằng chính sự nỗ lực không ngừng. Dòng thiền Việt Nam sau gần bảy trăm năm đi vào quên lãng, đã được Hòa thượng thắp sáng trở lại. Ngài nói:

“Thiền tông là cốt tủy của Phật giáo. Bởi vì muốn chỉ chân lý hiện hữu nơi con người, song ngại người ta khinh thường và dễ quên, nên kinh điển Đại thừa nói bằng cách diễn giảng những hình ảnh thâm sâu khó hiểu, còn thiền sư dùng thuật xuất quỷ nhập thần khiến người ta mờ mịt không có lối vào. Nếu ai tháo gỡ được cây chốt bí mật ấy, tự nhiên thấy nó chân thật bình dị vô cùng. Chừng đó mới thấy Kinh và Thiền không có hai lối. Tuy nhiên Thiền tông luôn luôn tuyên bố Giáo ngoại biệt truyền, cốt dẫn hành giả thấy đến nơi sống chân thật, không mắc kẹt trên văn tự ngữ ngôn, không chết chìm trong suy tư lý luận. Nếu Thiền tông khác với kinh Phật tức không phải đạo Phật rồi. Chính vì lẽ đó, Thiền và Kinh luôn song hành để đưa hành giả đến nơi rốt ráo chân thật.”

Những năm theo học tại Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang, Hòa thượng là người siêng năng cần mẫn toàn tâm duyệt tạng. Tuy nhiên chỉ thú kinh điển Đại thừa đối với ngài lúc bấy giờ thật xa xôi diệu vợi. Về sau, nhân duyên được một Phật tử cúng dường Đại tạng, Hòa thượng xem đây là linh hồn của ngài trên khắp mọi nẻo đường tu học cũng như hành đạo. Khi về Phương Bối am, đây là thời gian tốt nhất để ngài vừa tu thiền vừa nghiên cứu kinh điển và dịch thuật. Giáo nghĩa Đại thừa và Thiền tông dần dần sáng tỏ. Các tác phẩm, dịch phẩm của Hòa thượng ra đời như: Tham Thiền Yếu Chỉ, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký, Tọa Thiền Tam Muội v.v… đã mở đầu cho sự nghiệp văn học thiền của ngài.

Rời Phương Bối về Huệ Nghiêm, Hòa thượng tiếp tục con đường hoằng pháp lợi sanh và luôn giữ hoài bão tu thiền mãnh liệt. Đến năm 1966, Hòa thượng về Núi Lớn - Vũng Tàu, dựng Pháp Lạc thất chuyên tâm tu thiền. Đại duyên đại chí khởi phát, cánh cửa Không mở toang, con đường thiền rực sáng, toàn bộ giáo nghĩa Thiền tông hoát nhiên thông thống. Hòa thượng thống khoái chống gậy xuống núi, dựng pháp tràng lập tông chỉ, tiếp tăng độ chúng.

Thiền viện Chơn Không ra đời. Con đường thiền giáo đồng hành được Hòa thượng mở ra hướng dẫn cho tăng ni Phật tử hữu duyên. Vừa hành thiền, vừa dịch thuật, vừa giảng dạy, ngài đã thật sự làm sống dậy dòng thiền Việt Nam vào cuối thế kỷ XX. Nhiều tác phẩm, dịch phẩm thiền tiếp tục xuất hiện như: Xuân Trong Cửa Thiền, Bát-nhã Tâm Kinh, Nguồn Thiền, Luận Tối Thượng Thừa, Thiền Căn Bản, Thiền Đốn Ngộ, Sử 33 Vị Tổ Ấn Hoa, Thiền Sư Trung Hoa, Bích Nham Lục v.v… lần lượt ra đời, đáp ứng nhu cầu tu thiền của tăng ni Phật tử ngày càng đông.

Năm 1974, thiền viện Thường Chiếu ra đời, Thiền tông Việt Nam bước sang một bước ngoặt mới. Tu học và lao động trở thành phương châm sống của thiền sinh. Tuy khó khăn kham khổ mà thầy trò vẫn tươi vui, tin tưởng. Cuộc sống được khai hoang từ những mảnh đất khô cằn vụn vỡ. Đó chính là sức sống thiền, tuôn chảy từ trong nguồn tâm sâu thẳm của sự tỉnh thức an nhiên. Pháp hóa của Hòa thượng cứ thế lan tỏa vào đời, Thường Chiếu trở thành tổ đình truyền bá Thiền tông Việt Nam. Cuối đông 1991 Hòa thượng cho ra đời tác phẩm Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ XX, nói lên con đường tu tập của dòng thiền Chơn Không - Thường Chiếu. Kinh sách của Hòa thượng đã trở thành cẩm nang cho hành giả tu thiền Việt Nam: Nguồn An Lạc, Hoa Vô Ưu, Quy Sơn Cảnh Sách, Bát Đại Nhân Giác, Thập Nhị Môn Luận, Kim Cang, Viên Giác, Pháp Hoa, Pháp Bảo Đàn, Lăng-già, Trung Quán, Thiền Sư Việt Nam v.v… đã được tăng ni Phật tử đọc tụng hành trì dưới sự giảng giải cặn kẽ của Hòa thượng.

Năm 1993, thiền viện Trúc Lâm ra đời, đây là đỉnh cao của hành trình khôi phục dòng thiền nước Việt. Thiền tông Việt Nam phát triển rực rỡ. Lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, tất cả các nghi thức tụng niệm và hành lễ đều được Việt hóa hoàn toàn tại thiền viện Trúc Lâm, cũng như các thiền viện trực thuộc dòng thiền của Høòa thượng. Những tác phẩm ra đời tại thiền viện Trúc Lâm như: Phụng Hoàng Cảnh Sách, Tiến Thẳng Vào Thiền Tông, Khóa Hư Lục, Tham Đồ Hiển Quyết và Thi Tụng Các Thiền Sư Đời Lý, Mười Bức Tranh Chăn Trâu, Thiền Tông Bản Hạnh, Kiến Tánh Thành Phật, Thánh Đăng Lục, Tam Tổ Trúc Lâm v.v… Có thể nói sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh và sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng đã cống hiến cho Phật giáo Việt Nam một kho tàng trí tuệ quý báu vô lượng.

Năm 1997, Ban Văn Hoá Thường Chiếu ra đời dưới sự chủ trì của ngài. Tăng ni hàng môn hạ vâng theo sự chỉ giáo của Hòa thượng ân sư, cùng nhau biên tập lại toàn bộ tác phẩm, dịch phẩm của ngài trong suốt những chặng đường hoằng truyền chánh pháp mà Hòa thượng đã tâm tâm niệm niệm vì đạo pháp vì chúng sanh. Sự nghiệp văn học của ngài được gầy dựng từ khi còn là tăng sĩ trẻ cho đến những năm gần cuối đời thật không gì có thể sánh nổi. Bởi vì ở đó là kho tàng vô giá của trí tuệ và công phu, những kinh nghiệm tu tập quý báu của một bậc thầy lớn, một thiền sư, một chân tăng thật tu thật ngộ.

Không kể đến những công trình dịch thuật, sáng tác, thi kệ về thiền tông, không kể đến những tác phẩm giảng giải thâm thúy bình dị, không kể đến những năm tháng miệt mài bên những trang giáo án dành cho tăng ni tứ chúng… Sáng giá nhất là toàn bộ cuộc đời tu tập và hành đạo của ngài. Đây mới chính là tác phẩm vô giá trong sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng. Văn là người. Mượn đầu bút xoay chuyển dòng nghiệp thức muôn đời, giúp chúng sanh chuyển mê khai ngộ, mang hạnh nguyện tự lợi lợi tha đi vào đời, cho nên toàn bộ tác phẩm của Hòa thượng cũng chính là con người của ngài. Một ngôi sao sáng trong văn học thiền Việt Nam cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Ở đó ánh lên những chất vị cao đẹp tinh khiết mà đậm đà dễ gần dễ đến của một thiền sư Việt Nam: chân chất, bình dị, trí tuệ và tròn đầy bi mẫn.

Có thể nói sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng đã đóng góp cho nền văn học Phật giáo Việt Nam nói chung và nền văn học Thiền tông Việt Nam nói riêng  một kho báu trí tuệ và kinh nghiệm tu tập vô cùng quý giá. Tăng ni Phật tử Việt Nam không thể nào nói hết lòng cảm kích tri ân đối với ngài. Thông qua kinh sách và băng giảng của Hòa thượng, người sau có thể lần mò theo dấu vết người trước, nhận được nguồn sống tâm linh của một bậc chân tăng, một thiền sư Việt Nam vào thế kỷ XXI. Từ đó noi theo tu tập ngõ hầu thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát cho chính mình.

Bên cạnh con đường thực chứng tâm linh, hoằng pháp và văn hóa là sự nghiệp độ sanh sáng chói nhất của Hòa thượng. Đây là niềm vinh hạnh và là tấm gương sáng cho tăng ni Phật tử Việt Nam. Muốn giữ gìn và rộng truyền công đức của ngài, quả là một việc làm quá sức đối với hàng đệ tử thô tâm thiển trí. Song không thể để cho pháp bảo vô giá và một đời giáo hóa của thầy tổ bị mai một, chúng tôi đã chẳng ngại tài hèn sức mọn, công phu kém cỏi, cùng nhau tận tâm tận lực biên tập và hệ thống lại toàn bộ kinh sách của Hòa thượng ân sư. Hy vọng bộ Thanh Từ Toàn Tập tái bản lần này sẽ đầy đủ và hoàn chỉnh hơn bộ Thanh Từ Toàn Tập đầu tiên đã ra mắt độc giả vào năm 2002.

Việc làm này nếu không có sự gia trì của Tam bảo, sự chỉ đạo của Hòa thượng ân sư, sự nhất tâm hòa hợp của chư huynh đệ, sự phát tâm hỷ cúng tài lực của mười phương tín thí, có lẽ Phật sự này khó có thể thành tựu. Tất cả đều vì xiển dương chánh pháp, xiển dương Thiền tông Việt Nam, vì hết lòng tưởng nhớ công ơn giáo dưỡng của thầy tổ, mà hướng tâm về pháp bảo, mong phần nào đền đáp thâm ân rộng sâu của Ân sư, thực hiện hoài bão của thầy tổ, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn.

Công đức có được chúng tôi xin dâng lên cúng dường Hòa thượng ân sư, nguyện ngài sống lâu nơi đời, là nơi nương tựa tâm linh cho tăng ni tứ chúng trên con đường tu học cho tới ngày viên mãn. Đồng nguyện hồi hướng về pháp giới chúng sanh chuyển mê khai ngộ, tịnh hóa thân tâm, mỗi mỗi đều được hàm triêm lợi lạc.

Chúng con xin thành tâm đê đầu đảnh lễ sám hối Thầy, vì những lỗi lầm sai sót trong khi chấp bút biên tập lại kinh sách và băng giảng của Thầy, vì sự hạn chế về trí tuệ cũng như công phu tu tập của chúng đệ tử. Chúng con cùng nguyện theo chân Thầy học đạo cho tới ngày thành tựu giác ngộ viên mãn mới thôi.

Xin được cảm kích tri ân các pháp hữu hoan hỷ chỉ bảo cho những sai sót khó tránh khỏi của bộ sách. Sau cùng xin cảm niệm công đức tất cả quý Phật tử gần xa đã tùy tâm ủng hộ cho Phật sự in ấn bộ Thanh Từ Toàn Tập được thành tựu viên mãn.

Thiền viện Thường Chiếu, ngày 12-12-2012
TM. BAN VĂN HÓA THƯỜNG CHIẾU
THÍCH NHẬT QUANG

- Chư Tăng Ni và Phật tử muốn phát tâm cúng dường  Ấn tống hoặc thỉnh bộ sách Thanh Từ Toàn Tập  liên lạc:
  ĐT:  0909080306 - 061.8602.008 (Thầy Đạo Huy) 

  Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

+ Có thể chuyển tiền cúng dường vào tài khoản VND:
  Số tài khoản: 3996.8899
- Tên: ĐỖ VĂN HOÀI  (HT Thích Nhật Quang)
  Ngân hàng Á Châu ACB -  Chi nhánh HỘI SỞ  TPHCM.
 
(Nhớ ghi Tin nhắn và Số điện thoại khi chuyển tiền để quí Thầy báo tin)

 

 + Tài khoản USD chuyển từ nước ngoài số:  3996.9159
  -  Swiftcode: ASCBVNVX
  - ASIA COMMERCIAL BANK
  - Tên: ĐỖ VĂN HOÀI  (HT Thích Nhật Quang)
  - Ngân hàng Á Châu ACB - Chi nhánh HỘI SỞ  TPHCM.

ACBBANK

 Xin lưu ý:  Sau khi chuyển tiền xin nhắn tin đến số điện thoại 0909080306 hoặc

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để các Thầy kiểm tra và hồi báo.

 

 newĐể nhận sách vui lòng đem theo "Phiếu theo dõi "  này  icon down (click để download)