HÌNH ẢNH TVTL CHÁNH GIÁC - NHỮNG NGÀY ĐẦU
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ bảy, 22 Tháng chín 2012 07:46
- Viết bởi chanhdao
Một số hình ảnh TVTL Chánh Giác những ngày đầu (04/12/2011)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
GIỚI THIỆU TRƯỚC NGÀY LỄ ĐẶT ĐÁ TVTL CHÁNH GIÁC
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ bảy, 22 Tháng chín 2012 02:34
- Viết bởi chanhdao
GIỚI THIỆU ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÔNG TÁC CHUẨN BỊ TRƯỚC NGÀY LỄ ĐẶT ĐÁ XD THIỀN VIỆN TRÚC LÂM CHÁNH GIÁC
![]()
Một sự kiện trọng đại có thể xem là ngày kết tinh của bao tâm nguyện, lòng khát ngưỡng của đông đảo Phật Tử ở trong và ngoài nước. không chỉ đối với những người hâm mộ và tu tập theo Thiền Tông Việt Nam do hòa thượng tôn sư thượng Thanh hạ Từ chủ trương, mà còn là niềm hân hoan vui mừng của tất cả những người con phật trong tỉnh Tiền Giang nói riêng và miền Tây nói chung. sự kiện trọng thể này chính là hoa trái đầu mùa ở miền Tây mà hàng môn hạ đệ tử của Hòa Thượng Trúc Lâm kính dâng lên Ngài, biểu hiện lòng hiếu kính đối với bậc Tôn Sư. Tâm nguyện của ngài về việc xây dựng mới một ngôi thiền viện thuộc hệ phái Trúc Lâm Yên Tử ở miền Tây giờ đây đã bắt đầu được hình thành.
Ngay những ngày cuối năm 2011, sau những nỗ lực vượt qua mọi trở ngại ban đầu của quý thầy đi tiền trạm, ngày 03 tháng 12 năm 2011, Thầy Trụ Trì Trúc Lâm Đà Lạt đã chấp thuận cho một đoàn gồm 10 Thầy, phát tâm đi xây dựng Thiền viện Trúc Lâm chi nhánh Tiền Giang.
Thời gian đầu, quý Thầy ở tạm trong nhà của các Phật tử địa phương trong khu dân cư. Công việc duy nhất của chư tăng trong những ngày này là phát hoang, dọn dẹp mặt bằng để gấp rút làm lán trại tạm trên khu đất thiền viện cho chư tăng ở. Do khu đất còn chìm ngập trong nước (hơn 1m), quý thầy phải trầm mình dưới nước để đốn tràm, dọn thực phủ để phát hoang mặt bằng. Tất cả đều quần quật làm việc dưới cái nắng như đổ lửa cộng them hơi phèn nóng bức. Chỉ một thời gian ngắn ai nấy đều đen nhẻm như hòn than! (Nhưng nụ cười vẫn luôn rạng rỡ trên môi.)
Tân Phước là huyện vùng xa thuộc tỉnh Tiền Giang được thành lập từ năm 1994. Do phần lớn diện tích nằm trên phần trũng của vùng Đồng Tháp Mười nên đất đai bị nhiễm phèn rất nặng, hàng năm có 6 tháng khô và 6 tháng nước. Đến mùa nước nổi thì chìm ngập mênh mông, chỉ di chuyển được bằng xuồng, ghe. Vùng đất hoang hóa nơi đây chỉ toàn là tràm dày đặc, mù mịt nên được mệnh danh là Tràm Mù. Nơi đây còn một khu vực rộng lớn cả hàng nghìn hecta được bảo tồn khá tốt với hệ thực vật điển hình như các loại cây tràm, cà na, bình bát, năn, bàng. Hệ động vật cũng rất phong phú với các loại chim như cò, le le, vịt trời , cá đồng, rắn, rùa, trăn ... Điều đặc biệt là khu vực sinh thái hoang sơ này chỉ cách đô thị lớn nhất nước (TP.HCM) chỉ khoảng hơn 90km.
Khu đất xây dựng Thiền Viện cách lộ Tràm Mù (tỉnh lộ ĐT867) hơn 500m, Thiền viện có 3 mặt (Tây, Nam, Bắc) giáp kênh, mặt phía Đông còn cách con kênh đào 300m, nên cũng xem như là một ốc đảo giữa đồng hoang. Do vậy, việc thi công con đường vào Thiền viện là việc làm cấp thiết trong lúc này. Trên đoạn đường này phải làm một cây cầu bê tông có tải trọng 13 tấn để bắc qua Kênh 500 (rộng 36m).
Do toàn bộ diện tích nằm trên phần trũng, thấp hơn mặt đường từ 2,5 - 3m, nước ngập mênh mông, vì vậy phải làm đê bao chung quanh cao 3,7m để bơm cát vào cho đến khi mặt bằng xây dựng cao hơn 3m. Với chiều dài 2200m, phải cần 109.890m3 đất để đắp, một khối lượng đất khổng lồ!
Khối lượng cát lấp cũng nhiều không kém, ước tính lượng cát để san lấp khu vực trọng yếu phục vụ cho lễ đặt đá và việc thi công xây dựng giai đoạn 1 (gồm tuyến đường từ lộ Tràm Mù vào đến cổng chính; 1 bãi đậu xe; khu Chánh điện tạm; khu vực làm lễ đài), vào khoảng hơn 100 ngàn mét khối. Bên cạnh đó, phải lắp đặt toàn bộ hệ thống điện, nước để phục vụ cho sinh hoạt và thi công công trình, xây dựng và lắp đặt các khu nhà tạm (bao gồm: Chánh Điện, thất Thầy Trụ Trì, Nhà Tăng, Trai Đường, Nhà ở cư sĩ Nam, Nhà Bếp, Nhà Kho, Nhà ở cư sĩ Nữ), khu nhà vệ sinh (40 cái). Toàn bộ các công tác này phải được thực hiện trong vòng 100 ngày!
Lực lượng chư Tăng chỉ vỏn vẹn 15 thầy, phải căng ra vừa chỉ đạo vừa trực tiếp làm cả ngày lẫn đêm. Thầy Trụ Trì thường xuyên có mặt để động viên, khuyến tấn chư tăng làm việc. Cũng trong thời gian này, tin vui từ Thường Chiếu lan đến, tạo thêm sức mạnh, niềm tin và sự phấn khởi cho tất cả mọi người, Hòa Thượng Tôn sư đã chính thức đặt tên cho Thiền viện là THIỀN VIỆN TRÚC LÂM CHÁNH GIÁC. Như được tiếp thêm năng lượng, tất cả đều nỗ lực tối đa để nhắm đến một mục đích : Phải hoàn thành mọi công tác trước ngày lễ đặt đá (Mùng 8 tháng 4 Nhâm Thìn)!
Đến sát ngày lễ đặt đá, chỉ còn hơn 10 ngày, một số nhà thầu đã bỏ cuộc, Thiền viện phải tự cáng đáng lấy. Lại thêm một phen nhọc nhằn! Sức người, sức của được huy động tối đa. Một số bộ phận công tác phải làm việc suốt đêm. Tuy nhiên, dẫu áp lực công việc căng thẳng như thế nhưng quý thầy vẫn luôn duy trì thời sám hối buổi chiều và tọa thiền buổi khuya (3g30 sáng).
Lễ đặt đá chỉ còn 3 ngày, nhưng lễ đài vẫn chưa dựng được vì cát nền chưa bơm đủ. Quý Thầy Thường Chiếu xuống chi viện để dựng lễ đài, tạm thời đi treo cờ và băng rôn! Mọi biện pháp “có thể” đều đem ra áp dụng, mọi sáng kiến lớn nhỏ đều được thực thi. Khẩu hiệu lúc này là DỨT KHOÁT – KIÊN QUYẾT hoàn thành cho xong, cho được tất cả các khâu chuẩn bị phục vụ lễ đặt đá theo kế hoạch đã đề ra.
Nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi của tất cả mọi người, nhờ sự gia hộ của Tam Bảo, Long Thần, Hộ Pháp; đến khuya ngày mùng 7 tháng 4 (27/4/2012), chỉ cách buổi lễ đặt đá vẻn vẹn 6 tiếng đồng hồ, mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành. Tất cả mọi người tạm thời thở phào nhẹ nhõm. Đêm nay, mọi người được vài tiếng ngủ yên giấc để chuẩn bị cho sự kiện trọng đại ngày mai, một sự kiện mà bao nhiêu công sức, bao nhiêu nỗ lực, bao nhiêu gian nan đều cương quyết vượt qua để hoàn thành trong một thời gian kỷ lục.

LỄ PHÓNG ĐĂNG TVTL CHÁNH GIÁC
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ bảy, 22 Tháng chín 2012 02:22
- Viết bởi chanhdao
|
TV TRÚC LÂM CHÁNH GIÁC |
|
Với ước nguyện cầu cho các vong linh được siêu sinh về cõi an lành, nguyện cho âm siêu dương thới và cũng để kỳ nguyện cho Phật sự lớn lao, xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác, ngôi thiền viện đầu tiên ở miền Tây có qui mô vào loại lớn nhất nước, được hanh thông, vạn sự cát tường, nhân mùa Vu Lan năm nay, Thiền viện tổ chức lễ Phóng Liên Đăng vào buổi tối ngày 16/7 năm Nhâm Thìn với các nghi thức theo truyền thống tuy đã được giản lược, cô đọng nhưng vẫn mang đầy đủ ý nghĩa. Cũng trong ngày này, Thiền viện cũng sẽ tổ chức khám bệnh phát thuốc và tặng quà từ thiện cho đồng bào nghèo trong khu vực. Về ý nghĩa của việc phóng liên đăng, trong Hô Lan Hà Truyện có chép về ý nghĩa của nghi thức thả đèn hoa sen cầu nguyện trong lễ Vu Lan như sau: “…ngày rằm tháng bảy là ngày hội của các vong hồn, các oan hồn chết oan uổng, hay nghiệp báo nặng nề phải thọ khổ ở địa ngục, không thể siêu thoát được, trong cảnh giới địa ngục âm u đen tối, không tìm được đường ra, nếu muốn siêu thoát cần phải có ánh sáng trí tuệ để dẫn đường. Đến ngày rằm tháng bảy, lễ hội Vu Lan, các vong linh nhờ các ngọn đèn liên hoa dẫn đường, nương theo ánh sánh của Phật mà vãng sanh Tịnh độ.” Đèn hoa sen là phẩm vật cúng dường quan trọng trong buổi lễ này, vì hoa đăng tượng trưng cho trí tuệ, diệt trừ u ám, lấy đèn trí tuệ để chiếu sáng chính mình cũng như mọi người, và đem ánh sáng trí tuệ của Phật soi sáng cõi u minh độ cho các âm linh siêu sanh về cõi Tịnh độ. Trong Thiên Giám Luận Đàn chép: “Đốt sáng đèn liên hoa thả xuống nước, để chiếu sáng cõi u minh, siêu độ các vong hồn ngạ quỷ.” Tại khu vực sông nước mênh mông như ở đồng bằng sông Cửu Long, vào những ngày này, từ các ngôi chùa nhỏ bé nôi xa xôi hẻo lánh của vùng nước mặn Cà Mau cho đến các ngôi tự viện lớn tại các khu đô thị, thường tổ chức lễ Phóng Liên Đăng với các nghi lễ trang nghiêm trọng thể, thu hút đông đảo đồng bào Phật tử các giới đến tham dự. |
NGHI THỨC THỌ TRAI-Thiền Thất Thường Lạc
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ tư, 29 Tháng tám 2012 09:09
- Viết bởi chanhdao
NGHI THỨC THỌ TRAI
CEREMONIE DU REPAS À LA SAVEUR THIỀN
NGHI THỨC THỌ TRAI
Xá chúng rồi ngồi vào bàn.
Duy Na tụng.
Toàn chúng vừa niệm vừa dâng cơm cúng dường chư Phật Bồ tát.
CEREMONIE DU DEJEUNER avant midi
Le moine karmadāna psalmodie au rythme du gong.
Toute l’assistance offre de la nourriture aux Bouddhas
et aux Bodhisattvas en récitant cette prière
CÚNG DƯỜNG
Cúng dường Phật pháp thân thanh tịnh Tỳ Lô Giá Na,
Phật báo thân viên mãn Lô Xá Na.
Phật hóa thân ngàn muôn ức Thích Ca Mâu Ni.
Vị lai giáng sanh Phật Di Lặc Tôn.
Thế giới Cực lạc Phật A Di Đà.
Mười phương ba đời tất cả chư Phật.
Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi,
Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền,
Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí,
Chư Bồ Tát lớn thường hộ pháp.
Đại Bát Nhã cứu cánh,
Ba đức, sáu vị cúng Phật và tăng,
Thảy đều cúng dường chúng hữu tình khắp pháp giới.
Nếu khi thọ thực, lấy vui thiền định và pháp hỷ đầy đủ làm thức ăn.
OFFRANDE DE NOURRITURE
Nous faisons une offrande de nourriture au Bouddha Vairocana, au Pur Corps du Dharma,
Au Bouddha Locanatha, au Parfait Corps de Félicité,
Au Bouddha Śākyamuni, au Corps de Transformation doté d’une multitude de manifestations.
A Tathāgata Maitreya, le Bouddha du futur,
A Tathāgata Amitābha, le Bouddha de la Terre Pure,
A tous les Bouddhas des dix directions et des trois ères du temps.
A Maῆjuśrī, le Bodhisattva de la Grande Sagesse,
A Samantabhadra, le Bodhisattva de la Grande Action,
A Avalokiteśvara, le Bodhisattva de la Grande Compassion,
A Mahasthama, le Bodhisattva de la Grande Energie,
A tous les grands Bodhisattvas voués à la protection du Dharma,
Avec la sagesse de Maha PrajñāPāramitā,
Nous offrons la nourriture aux trois vertus et aux six saveurs à tous les Bouddhas, Boddisattvas , à la Saṅgha et à tous les êtres sensibles de toutes les sphères du Dharma.
Puissions nous transformer cette nourriture en joie lors de la méditation et en félicité dans le Dharma.
CÚNG ĐẠI BÀNG
Chim Đại bàng cánh vàng
Chúng quỉ thần rừng núi
Mẹ con quỉ La sát
Cơm bảy hạt no đầy
Án mục đế tóa ha (7 lần).
DON de nourriture au Grand Aigle et aux Esprits Errants
Ô grand aigle Garuḍa aux ailes dorées,
Esprits errants des forêts, montagnes et plaines,
Esprits de famille Rākṣasa,
Nous vous offrons ces sept grains de riz sanctifiés.
Án mục đế tóa ha (7 fois).
VỊ TĂNG XƯỚNG
Phật răn chúng Tăng, khi ăn phải nhớ năm pháp quán. Tán tâm nói chuyện của tín thí khó tiêu. Đại chúng khi nghe tiếng khánh, mỗi người phải nhất tâm chánh niệm.
Le Maître énonce
Le Bouddha recommande à la Saṅgha de respecter les Cinq Objets à méditer lors de la prise de nourriture et de la savourer silencieusement pour ne pas être perturbé mentalement et physiquement. Dès que les membres de la Saṅgha entendent le son de la cloche, ils devront manger en pleine conscience.
Tay bưng bát cơm, toàn chúng nguyện
Nguyện cho chúng sanh
Pháp khí thành tựu.
Nhận người trời cúng dường.
Chacun soulève son bol et toute l’assistance récite
Nous formulons le vœu
Que tous les êtres sensibles puissent réaliser
l’essence du Dharma Et méritent cette offrande.
Ăn ba miếng cơm và nguyện rằng
Nguyện dứt tất cả các điều ác.
Nguyện làm tất cả các điều lành.
Nguyện độ tất cả chúng sanh.
Vœux à formuler en prenant trois cuillerées de riz
Je fais le vœu de cesser toute action négative.
Je fais le vœu de cultiver toute action positive.
Je fais le vœu d’aider tous les êtres à réaliser ensemble l’Eveil.
Năm Pháp Quán trong lúc thọ trai
Quán thức ăn nầy từ đâu đem đến, công của người nhiều hay ít.
Quán công đức của mình đủ hay thiếu, mà nhận thức ăn nầy.
Quán thức ăn nầy cốt dẹp tham sân si.
Quán thức ăn nầy như uống thuốc trị bịnh ốm gầy.
Quán vì thành đạo nghiệp, mới thọ nhận thức ăn nầy.
Cinq objets à méditer lors de la prise du repas :
1.- La nourriture provient de l’offrande des donateurs ayant fourni des efforts innombrables.
2.- J’évalue mes propres mérites de la pratique en vue de me rendre digne de recevoir cette nourriture.
3.- J’accepte cette nourriture afin de pouvoir continuer à œuvrer pour la suppression de l’avidité, de la colère et de l’ignorance.
4.- La prise de nourriture me sert essentiellement à éviter l’amaigrissement et les maladies.
5.- J’accepte cette nourriture dans le seul but de poursuivre ma pratique jusqu’à la réalisation de la Voie.
Ăn xong, toàn chúng đều tụng
Tâm Kinh Trí Tuệ Cứu Cánh Rộng Lớn
Khi Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã Ba la mật đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.
Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế.
Này Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong tướng không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí huệ, cũng không có chứng đắc.
Vì không có chỗ được, nên Bồ tát y theo Bát Nhã Ba la mật đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã Ba la mật đa, được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chơn thật không dối.
Vì vậy, nói chú Bát Nhã Ba la mật đa, liền nói chú rằng: "Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha".
Thọ trai đã xong, nguyện cho chúng sanh, việc làm đều được đầy đủ Phật pháp.
A la fin du repas, tous psalmodient
le PrajñāPāramitā Sūtra - Soutra du Cœur
Lorsque le Bodhisattva Avalokiteśvara se fut engagé profondément dans la pratique du Prajñāpāramitā, il réalisa que la véritable nature des cinq agrégats/Skandha est la vacuité et parvint à se libérer de toutes les souffrances.
O Sāriputra! La forme n’est pas différente de la vacuité, la vacuité n’est pas différente de la forme ; la forme n’est que vacuité, la vacuité n’est que forme. Il en est de même pour les sensations, perceptions, formations mentales et la conscience.
O Sāriputra! Puisque tous les Dharma sont la vacuité, ils sont ainsi non nés non morts, ni souillés ni purs, ni croissants ni décroissants. Aussi, dans la vacuité, n’apparaissent ni forme ni sensations ni perceptions ni formations mentales ni conscience, ni yeux ni oreilles ni nez ni langue ni corps physique ni psychisme, ni forme ni son ni odeur ni goût ni toucher ni objet mental, ni perception visuelle ni conscience, ni ignorance ni cessation de l’ignorance, pas de vieillesse et de mort ni extinction de la vieillesse et de la mort, ni souffrance ni origine de la souffrance, ni cessation de la souffrance ni noble sentier octuple, ni sagesse ni réalisation ultime.
Ainsi délivré de toute attache, le Bodhisattva demeure dans la sagesse du Prajñāpāramitā et son esprit se libère de tous les obstacles. Sans peur, il est détaché de toutes les perceptions erronées et atteint le Nirvāṇa. Tous les Buddha du passé, du présent et du futur qui s’appuient sur le Prajñāpāramitā, accèdent également à l’Eveil le plus élevé, le plus complet et le plus parfait.
Sachez donc que le Prajñāpāramitā est le grand dhāranī, le dhāranī rayonnant de sagesse, le dhāranī suprême, le dhāranī inégalable capable de soulager toutes les souffrances. Ceci est la vérité authentique et non illusoire. C’est pourquoi nous devons aussitôt proclamer le mantra de Prajñāpāramitā : « Gate Gate Pāragate Pārasamgate Bodhi Svāhā ».
A la fin du repas, nous dédions les mérites à tous les êtres pour qu’ils puissent saisir profondément l’essence des enseignements du Bouddha.
PHỤC NGUYỆN
Cơm ngày hai bửa, thường nhớ công khó khổ của kẻ nông phu. Thân mặc ba y, hằng xét nghĩ sự nhọc nhằn của người may dệt. Thuốc thang giường chõng bởi do nhín ăn bớt mặc của đàn na. Học đạo tiến tu nhờ lòng từ dạy răn của Thầy Tổ. Nguyện cho thí chủ: Ruộng phước thêm nhiều, đạo tâm thêm lớn, cùng chúng sanh khắp trong pháp giới, kẻ mất người còn đồng thành Phật đạo.
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni [Toàn chúng niệm]
Dédicace après le repas
Au cours des deux repas de la journée, nous pensons aux efforts pénibles des cultivateurs.
Détenant les trois késas, nous songeons aux peines des couturiers et des tisserands. Nous sommes nourris, soignés et nous disposons d’un lit pour dormir grâce aux efforts de privation des donateurs.
Nous sommes instruits et guidés dans la pratique de la Voie grâce à la bonté aimante de nos Maîtres.
Que tous les donateurs et tous les êtres vivants ou morts puissent agrandir leur champ de mérites, élargir leur esprit afin de pouvoir réaliser la voie de Bouddha.
Namo Śākyamuni Buddha [toute l’assitance rend hommage]
Lời Giáo Huấn
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ tư, 15 Tháng tám 2012 06:48
- Viết bởi chanhdao
Lời dâng
![]()

Cung kính
Ngưỡng bạch Thầy,
Đây là mùa Hạ lần thứ mấy trong đời tu của Thầy, chúng con nhớ rất rõ dòng thời gian chảy qua mạch sống luân lưu, từ thuở sông nước Rạch Tra róc rách vỗ vào bờ khúc hoan ca, mừng đón bậc chân tăng ra đời.
Song chỉ ngần ấy năm tháng không đủ để nói lên tuổi công đức của một bậc chân tăng trải qua nhiều đời tu hành. Nó chỉ điểm xuyết lên khoảng thời không bất tận một chút nhân duyên hữu hạn, để chúng con được gặp Thầy, gặp bậc minh sư và được tiếp độ tu hành như ngày hôm nay.
Nhân duyên này, hạnh ngộ này, thật cao thâm, thật hy hữu! Toàn thể chúng con xin nguyện trân quý gìn giữ bằng tất cả công phu tu tập của mình. Thầy đã có mặt, luôn có mặt bên cạnh chúng con như máu huyết luôn tuôn chảy trong từng sớ thịt đường gân, nuôi lớn và duy trì giới thân huệ mạng cho chúng con giữa muôn trùng nghiệp thức vây bủa.
Thuyền đại nguyện đi vào đời, Thầy đã đến với chúng sanh và chúng con tự nhiên như mẹ hiền đến với con dại. Chúng đệ tử một lòng trông mong khát ngưỡng từng giọt sữa pháp của Ân sư từ lúc mới bước chân vào đạo cho tới ngày hôm nay. Tất cả huynh đệ chúng con không ai không nhờ vào ân pháp hóa của Thầy mà vui mà sống, mà lớn lên trong từng phút từng giây.
Thường Chiếu cứ mỗi sáng sáng chiều chiều, bóng Thầy hiển hiện tươi mát trong lòng Tăng Ni. Bình minh đổ tràn xuống hoàng hôn, lung linh ánh từ tâm. Thầy đã đến và gọi chúng con lên đường. Phải nhớ là dạo chơi trong cõi mộng mà vẫn thường tại giữa thiên thu vĩnh tuyệt. Đó là hạnh nguyện, là bản hoài, là lời dạy như in của Thầy. Nhật Quang con không bao giờ dám quên.
Với chúng đệ tử, khi dạy dỗ tu hành Thầy rất mực nghiêm cẩn, lúc an ủi vỗ về Thầy quá đổi từ nhân. Ánh mắt Thầy, bóng dáng Thầy… in đậm trong lòng Tăng Ni tứ chúng một cuộc đời vì pháp quên thân. Giới và hương đức hạnh của Thầy trở thành đóa hoa tâm mãn túc, xông ướp khắp nhân sinh trái tim Bồ-tát bi trí tròn đầy.
Con còn nhớ,
Có những lần bất cẩn, chúng con đi xa về muộn, Thầy không ngủ, thức suốt trông trăng đợi đệ tử về, không một lời oán trách. Anh em chúng con kinh hãi xuất mồ hôi, dập đầu sám hối. Nguyện đời đời theo gót Ân sư, dừng bước lãng du đãng tử.
Lần ấy trở về, nhớ Thầy con thao thức hằng đêm, giận mình đáng trách, kính thương Thầy đúng bậc Tôn sư. Và từ dung ấy đã che chở trọn một đời con.
Hôm nay nhân ngày mãn Hạ, huynh đệ chúng con lại cùng nhau quây quần bên chân Thầy, mừng khánh tuế Ân sư. Và lời giáo huấn của Thầy năm xưa chợt sống lại trong lòng Tăng Ni, tiếp sức cho chúng con trên bước đường trở về cố hương vốn còn xa xôi dịu vợi.
Ngưỡng bạch Thầy,
Chúng con có Thầy là có tất cả. Thầy là nguồn sống hiện sinh, trào dâng. Để từ đó nuôi dưỡng bao thế hệ anh em chúng con lớn lên trong ngôi nhà thiền tông, mà Thầy đã một đời dày công gầy dựng.
Chúng đệ tử nguyện cúi đầu vâng giữ phụng hành giáo huấn của Thầy, để Thầy được vui, sống lâu nơi đời với chúng con và chúng sanh, cùng kết duyên tu hành cho tới ngày viên mãn.
Kính nguyện Thầy tứ đại luôn nhu hòa, trí tuệ tròn sáng, tình thương lan tỏa sưởi ấm khắp muôn phương.
Ngưỡng vọng về Thầy, chúng con kính cẩn ghi lại bài giảng mùa an cư kiết hạ của Thầy năm xưa tại thiền viện Thường Chiếu, thay cho lời chúc Hạ của Thầy đến toàn thể Tăng Ni tứ chúng trong ngày Khánh tuế hôm nay.
Cúi mong Thầy thương xót chứng tri cho lòng thành của chúng con.
Cung kính đảnh lễ Thầy,
Ngày 24-07 năm Nhâm Thìn.
Con,
NHẬT QUANG
Danh Sách Đạo Tràng Trúc Lâm
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ ba, 24 Tháng bẩy 2012 14:42
- Viết bởi chanhdao
|
DANH SÁCH CÁC ĐẠO TRÀNG TRÚC LÂM |
|
| 1 | Sùng phúc - TV Sùng Phúc , Long Biên, Hà Nội |
| 2 | Quán Sứ - Hà Nội |
| 3 | Tuệ Đức - Đống Đa, Hà Nội. |
| 4 | Hiền Trí - Đống Đa, Hà Nội. |
| 5 | Đức Hải - Chùa Nga My, Quốc Oai, Hà Nội |
| 6 | Thanh Đạo – Chùa Sen Chiểu, Sơn Tây, Hà Nội |
| 7 | Thanh Nghiêm – Chùa Mai Trai, Sơn Tây, Hà Nội |
| 8 | Thanh Minh – Hoàn Kiếm, Hà Nội |
| 9 | Phù Yên -Thiền tự Hoa Nghiêm, Chương Mỹ |
| 10 | Thái Đức - TP Thái Nguyên |
| 11 | Thanh Thái - TP.Thái Nguyên |
| 12 | Tuệ Trí - Thiền tự Long Hoa, Văn Giang, Hưng Yên |
| 13 | Phúc Minh - Chùa Đào Xá, Ân Thi, Hưng Yên |
| 14 | Hồng Ân - Chùa Hồng Ân, Tiên Lữ, Hưng Yên |
| 15 | Quang Đức - Lạc Sơn, Hòa Bình |
| 16 | Yên Tử 1 - TVTL Yên Tử, Uông Bí, Quảnh Ninh |
| 17 | Yên Tử 2 - TVTL Yên Tử, Uông Bí, Quảnh Ninh |
| 19 | Ngọa Vân Am - Long Tuyên, Hạ Long, Quảng Ninh |
| 20 | Kiên Cố - Bãi Cháy, Hạ Long , Quảng Ninh |
| 21 | Phúc Lạc - Yết Kiêu, Hạ Long, Quảng Ninh |
| 22 | Phúc Tuệ - Bãi Cháy, Hạ Long , Quảng Ninh |
| 23 | Phúc Truyền - Yên Thọ, Đông Triều - Quảng Ninh |
| 24 | Phúc Linh - TVTL Giác Tâm, Vân Đồn, Quảng Ninh |
| 25 | Giác Ngộ - Hạ Long, Vân Đồn, Quảnh Ninh |
| 26 | Phật Từ - Hạ Long, Vân Đồn, Quảng Ninh |
| 27 | Chánh Pháp - Đình Bản, Từ Sơn, Bắc Ninh |
| 28 | Thanh Thạnh - Chùa Tiêu Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh |
| 29 | Thanh Sơn - Chùa Duệ Khánh, Tiên Du, Bắc Ninh |
| 30 | Chánh Tín - Hàm Rồng, Thanh Hóa |
| 31 | Tuệ Sơn - Chùa Vồm, Thiệu Hóa, Thanh Hóa |
| 32 | Phước Hải - Tx, Phước Hải, Sầm Sơn, Thanh Hóa |
| 33 | Tây Thiên - TVTL Tây Thiên, Tam Đảo , Vĩnh Phúc |
| 34 | Thanh Tín - Tam Đảo, Vĩnh Phúc |
| 35 | Thành Phúc - Vĩnh Trường, Vĩnh Phúc |
| 36 | Thành Trí - Chùa Dọc Thông, Tam Đảo, Vĩnh Phúc |
| 37 | Thanh Tâm - Thiền Tự Giao Sơn, Tam Đảo - Vĩnh Phúc |
| 38 | Thanh Bình - Tháp Bình Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc |
| 39 | Thanh Giác - Quảnh Cư, Lập Thạch, Vĩnh Phúc |
| 40 | Thanh Huệ - Mê Linh - Hà Nội |
| 41 | Thanh Xuân - Thanh Xuân - Hà Nội |
| 42 | Thanh Ba - Chùa Thanh Ba, Phú Thọ |
| 43 | Phúc Đức - Chùa Phúc Đức, Phú Thọ |
| 44 | Phúc Hỷ - Lâm Thao, Phú Thọ |
| 45 | Phụng hoàng – TV Trúc Lâm, Đà Lạt |
| 46 | Đông Giác - Cát Tiên, Lâm Đồng |
| 47 | Đông Thiền - Cát Tiên, Lâm Đồng |
| 48 | Đông Nguyên - Madagui, Lâm Đồng |
| 49 | Đông Tuệ - Bảo Lộc, Lâm Đồng |
| 50 | Bảo Định - Buôn Hồ, Đăk Lăk |
| 51 | Viên Giác – Thiên Tự Viên Giác, Nha Trang |
| 52 | Sen Trắng – TX Ngọc Giáng, Đà Nẳng |
| 53 | Tâm Minh - Chùa Linh sơn, Tánh Linh, Bình Thuận |
| 54 | Sen Xanh – Thiền Tự Viên Minh, Phan Thiết, Bình Thuận |
| 55 | Tường Vân - Phan Rí Cửa, Bình Thuận |
| 56 | Tâm Nguyên - Phan Rí Cửa, Bình Thuận |
| 57 | Tâm Viên - Phan Rí Cửa, Bình Thuận |
| 58 | Đạo tràng Trúc Lâm Phúc Đức - Phan Thiết, Bình Thuận |
| 59 | Phật Hiền – Phan Thiết, Bình Thuận |
| 60 | Đạo tràng Trúc Lâm Chánh Thiện - Tánh Linh- Bình Thuận |
| 61 | TVTL Viên Ngộ, Phan Rang, Ninh Thuận |
| 62 | Phật Đạo – Nhơn Trạch, Đồng Nai |
| 63 | Phật Tánh – Chùa Bửu Phước, Vĩnh Cửu, Đồng Nai |
| 64 | Tuệ Phát – Nhơn Trạch, Đồng Nai |
| 65 | Tỉnh Giác – Định Quán, Đồng Nai |
| 66 | Phật Tâm – Định Quán, Đồng Nai |
| 67 | Đông Quang – Định Quán, Đồng Nai |
| 68 | Phật Thông - Huyện Bù Đăng, Tỉnh Bình Phước |
| 69 | Chánh Tâm – Bình Châu, Xuyên Mọc, Bà Rịa Vũng Tàu |
| 70 | Phật Ân – Bà Rịa Vũng Tàu |
| 71 | Bồ Đề – TV Bảo Hải, Bà Rịa Vũng Tàu |
| 72 | Bồ Đề – TV Bảo Hải, Bà Rịa Vũng Tàu |
| 73 | Huệ Nhiên - Bà Rịa Vũng Tàu |
| 74 | Phật Đăng - Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu |
| 75 | TL Phúc Trường - Thủ Dầu Một, Bình Dương |
| 76 | Thái Tuệ - Quận 8 - TP.HCM |
| 77 | Tuệ Tâm - Tuyền Lâm Quận 5, TP.HCM |
| 78 | Tâm Đức - Chùa Hưng Long , Quận 10, TP.HCM |
| 79 | Lộc Uyển - Quận 6, TPHCM |
| 80 | Đại Xã - 319 An Dương Vương, Quận 5, TP.HCM |
| 81 | Hưng Phát - Chùa Đại Hạnh, Quận 3, TP.HCM |
| 82 | Tuệ Quang - TV Tuệ Quang, TP.HCM |
| 83 | Đức Huệ - Chùa Đức Huệ, Nhà Bè, TP.HCM |
| 84 | Đạo Tràng Phật tử Phú Lâu Na - TP.HCM |
| 85 | Huệ Tánh - Gò Đầu, Tây Ninh |
| 86 | Bảo Đức - Cần Giuộc, Long An |
| 87 | An Thanh – Thủ Thừa – Long An |
| 88 | Phước Huệ – Bến Lức - Long An |
| 89 | Phật Minh – Chùa Phật Huệ, Bến lức, Long An |
| 90 | Trúc Lâm Bảo An – Chùa Bảo An, Tân An, Ninh Kiều, Cần Thơ |
| 91 | Dũng Mãnh – Chùa Vĩnh Khánh, Vĩnh Châu, Sóc Trăng |
| 92 | Phật Trí – Chùa Đại Giác, Sóc Trăng |
| 93 | Phật Châu – H. Vĩnh Châu, Sóc Trăng |
| 94 | Phật Huệ – Thiền Tự Vạn Phúc, Bạc Liêu |
| 95 | Hưng Thiền - TX. Bạc Liêu |
| 96 | Phước Hưng - P Nhà Mát- TP. Bạc Liêu |
| 97 | Vạn Phúc - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu |
| 98 | Vạn Thiện - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu |
| 99 | Vạn Thành - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu |
| 100 | Vạn Thông - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu |
| 101 | Vạn An - Vĩnh Trạch - TP. Bạc Liêu |
| 102 | Phật Duyên – Chùa Linh Quang H. Mỏ Cài, Bến Tre |
| 103 | Phật Hải - Tân Hồng - Đồng Tháp |
| 104 | Tinh Tấn – Quan Âm Cổ Tự, Cà Mau |
Mọi ý kiến góp ý, sửa đổi, bổ sung xin vui lòng email về địa chỉ: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
BBT
Nấc Thang Tiến Đạo
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ tư, 04 Tháng bẩy 2012 08:07
- LỜI ĐẦU SÁCH -
-----o0o-----
Nhìn thấy những hạt mầm gieo xuống mảnh đất không âm dương đang từng phút vươn lên, tôi vui và quên đi bao năm tháng nhọc nhằn của một tăng quê. Ngày ngày tưới tắm, ngày ngày chăm sóc, mong hạt mầm vươn lên, ra hoa kết trái hiến dâng cho đời. Những hạt mầm hôm nay và mai sau. Chắc thực. Tươi chồi sức sống.
Nếu Thường Chiếu là mảnh đất nuôi dưỡng tôi lớn lên từ tâm hạnh vô lượng của Hoà thượng Ân sư thì Trí Đức là nơi tôi nguyện noi theo gương hạnh của Thầy, xin làm người lái đò đưa khách sang sông trước khi ánh hoàng hôn vụt tắt. Những năm tháng tuổi cao sức yếu mới hiểu hết nỗi vất vả nhọc nhằn của Thầy. Con đường hoằng pháp lợi sanh cũng chính là con đường của đại hạnh đại nguyện vô ngã vị tha.
Thầy đã đến với chúng sanh bằng trái tim của người mẹ lẫn người cha, khi trìu mến bảo ban, lúc huấn dụ nghiêm cẩn. Dù mệt mỏi cách mấy, Hoà thượng vẫn chưa bao giờ thối chuyển than van. Nguồn mạch thiền tông nhờ thế mà tuôn chảy rạt rào. Công đức, tấm lòng của Thầy đã trở thành nguồn sống mãnh liệt của tất cả chúng tôi trên những chặng đường học đạo và hành đạo.
Thời gian đi qua quãng đời thơ ấu của tôi với nhiều khoảnh khắc gian nan khốn khó. Thầy đã đến và đưa tôi tới bến đỗ bình yên, dừng bước phong trần lãng khách. Bây giờ ngồi sát bên Thầy, tôi đã 70 tuổi nhưng vẫn là đứa con chưa thực sự lớn khôn. Thầy luôn ban rải ánh mắt yêu thương, độ lượng, tin tưởng và đợi chờ. Chính vì thế chúng tôi không thể nào quên, không được quên, ánh đuốc soi đường truyền đăng tục diệm phải được trao truyền mãi mãi.
Nơi đây, nhớ tưởng ân đức cao vời của bậc Thầy đã tái tạo lại một mảnh đời, có lúc tưởng chừng như vụn vỡ, xin nguyện theo dấu chân Thầy, đến với người sau bằng tất cả tấm lòng chân thành. Chỉ mong thắp sáng đèn tâm, nối nắm mạng mạch tông tuấn. Thường Chiếu xưa hay Trí Đức nay, huynh đệ chúng ta cũng chỉ một con đường duy nhất, tu học cho tới bao giờ thành Phật mới vừa lòng. Có bao nhiêu công đức xin dâng lên cúng dường Tam Bảo, cúng dường Ân sư, cúng dường mười phương pháp giới chúng sanh, nguyện đồng vui cõi thật.
Chừng ấy, tha hồ mà hoà khúc quàng xiên của Thượng sĩ thuở nọ:
Buông bốn đại chừ đừng nắm bắt,
Tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng,
Thoả nguyện ta chừ được ngã sở,
Sống chết bức nhau chừ ta vẫn như thường.
Thường Chiếu, ngày 17 - 07 - 2012
Cuối hạ Nhâm Thìn
THÍCH NHẬT QUANG
POURQUOI AI-JE CHOISI DE VALORISER LE BOUDDHISME SOUS LA DYNASTIE DES TRẦN ? Thiền Thất Thường Lạc
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ bảy, 30 Tháng sáu 2012 08:32
- Viết bởi chanhdao
POURQUOI AI-JE CHOISI DE VALORISER LE BOUDDHISME SOUS LA DYNASTIE DES TRẦN ?
Texte vietnamien du Maître thiền, Vénérable THÍCH THANH TỪ
Extrait du livre « Les Trois Questions Essentielles Dans Ma Vie De Moine »
Traduit par Diệu Anh
Revu par le Groupe Saddharma [Source]
Pendant presque dix huit siècles, du IIème au XXème siècle, l'histoire du bouddhisme vietnamien a connu des périodes fastes et des périodes de déclin. Comme nous faisons partie d'une génération descendante, nous éprouvons la nécessité de faire redécouvrir à notre époque contemporaine la meilleure période du bouddhisme vietnamien afin de le revaloriser aux yeux des moines et moniales ainsi qu’aux bouddhistes laïcs vietnamiens pour qu’ils puissent suivre la voie. Il s'agit là d'une lourde responsabilité. Ayant bien assimilé la sagesse de la pratique bouddhique au vu de la bonne utilisation des deux unités de principe et de circonstance propice, nos moines bouddhistes auront le privilège d’aborder le courant de la voie bouddhique actuelle, de repérer dans l’histoire du bouddhisme vietnamien l’épisode approprié qui peut s’adapter au rythme de la conjoncture actuelle du pays.
Nous nous efforçons de porter sur nos propres épaules cette importante tâche. C'est ainsi qu'après plusieurs années de réflexion, j'ai pris la décision de choisir le bouddhisme sous la dynastie des Trần comme une passerelle dans la reconstruction du bouddhisme du Vietnam actuel. Une telle décision s’appuie sur de nombreuses raisons.
I. REVALORISER LE BOUDDHISME VIETNAMIEN
1.1 Période De Déclin
Entre le milieu du XIXème siècle et celui du XXème siècle, au Vietnam, le bouddhisme a connu l'épisode le plus sombre de son histoire, car durant presque un siècle, notre pays était sous la domination française, interdisant tout regroupement collectif, toute religion à caractère national. Comme le bouddhisme était intimement lié au peuple vietnamien, les dominateurs déployaient tous les moyens de restriction possibles afin de déprécier la fidélité du peuple et de le soumettre. C'est ainsi que durant cette période, les éminents sages se retiraient peu à peu sans pouvoir former de futurs successeurs. Dans les pagodes, il n'y avait plus de talentueuses personnalités vertueuses pour enseigner, mais d’autres individus qui, de plus en plus nombreux, "s'abritent derrière Bouddha/Ẩn dương nương Phật", ou qui se réfugient sous "le couvert de la miséricorde/Núp bóng từ bi" comme moyen de survivre. Ecoutez ce chant populaire pour en prendre conscience:
Quelle tranquillité d'être gardien de pagode,
A psalmodier des Sūtra, invoquer Bouddha et avoir plus de vivres qu’il ne faut pour sa subsistance.
Que Bouddha ne joue pas le mauvais tour de s'en aller,
Car pagode sans Bouddha, le gardien devra aussi la déserter.
En se réfugiant dans la pagode mais sans aucune motivation de pratiquer le Dharma, ces individus sans scrupule, n'hésitent pas à commettre les pires actions. C'est en cela qu'ils causent des préjudices incalculables suscitant de nombreuses réactions ironiques et satiriques:
Pour la vie de moine, Bouddha recommande le régime végétarien,
Alors l’on peut manger de la viande de chiot et non du chien…
C'est ainsi que les pagodes se transforment en refuge familial d’individus pour qui, les seuls moyens d'existence se résument à "se mettre à l'abri, sous le couvert de la miséricorde/Núp bóng từ bi". Alors, pour exprimer les mécontentements, les profanes profèrent des railleries telles que:
L’épouse du moine s’occupe de ses affaires,
Sa tunique noire, son chapelet, sa belle maisonnette
Pour qu'il puisse mener une vie heureuse…
Durant cette période de déclin du bouddhisme vietnamien, la majorité des gens entraient en religion soit après des échecs personnels ou par dépit amoureux ou encore pour cause de maladie, de vieillesse... De tels états d'esprit influençaient fortement la vie littéraire de l'époque. Paraissaient alors en abondance des romans et des pièces de théâtre ayant pour thème la vie affligeante des religieux et religieuses de cette catégorie. Même à l'heure actuelle en 1977, certaines personnes persistent à croire que c'est le désappointement, la déception amoureuse.... qui ont motivé les jeunes gens à se faire moines ou moniales. Il n’y a ni égard ni déférence envers les moines bouddhistes. Avec un tel état d’esprit, comment pourrait-on avoir encore de la considération pour les enseignements de Bouddha ? Voilà la douloureuse question qui m'a incité à œuvrer pour la restitution du bouddhisme vécu sous la dynastie des Trần.
1.2 Le Roi Devenu Moine
En Inde un prince quittait sa famille pour la quête de la voie de la libération afin d'adoucir les souffrances des êtres vivants. De même au Vietnam un roi délaissait son trône et se retirait dans les hautes montagnes pour se consacrer à la pratique spirituelle afin de pouvoir apporter de l’aide à son prochain. Si un prince indien sacrifiait richesse et gloire, y compris le futur trône d'empereur, à la recherche de la Voie qui permettrait de délivrer les êtres vivants de toute souffrance, cette Voie devrait être sublime et transcendante.
Longtemps après, au Vietnam, le roi Trần Nhân Tông, ayant bien saisi l’essence du bouddhisme, abandonna son trône au sommet de sa gloire au profit de son fils, et se fit ordonner moine. Si le bouddhisme n'est pas sublime et extraordinaire, comment a-t-il pu amener un roi à "déconsidérer le trône doré comme une vieille sandale déchirée", à troquer le manteau royal contre l'habit de moine, et enfin à se retirer pour sa vie de moine dans la montagne ?
En Inde comme au Vietnam, le bouddhisme possède une force exceptionnelle au point de convaincre un prince et un roi de sacrifier leur vie sociale radieuse pour une vie austère vouée à la pratique de perfectionnement de soi. Au Vietnam, sous la dynastie des Trần, l'ascension du bouddhisme est prodigieuse. Deux événements marquants de cette période en témoignent : le roi lui-même et le lauréat des concours impériaux/Trạng Nguyên se retirèrent pour l’ordination bouddhique. Leur consécration a permis aux religieux de ce temps de retrouver leur dignité d'antan, tout en redorant l'emblème bouddhique. En évoquant la qualité exceptionnelle du bouddhisme à l'époque des Trần, nous n’aspirons qu’à revaloriser le bouddhisme vietnamien actuel.
1.3 Le Premier Patriarche Vietnamien Du Bouddhisme Thiền Tông
Au Vietnam, du VIIème siècle au XVIIIème siècle, la propagation du bouddhisme était assurée par les différentes lignées de Méditation/Thiền Tông. La plupart des Voies descendantes de Méditation répandues au Vietnam sont venues de Chine, telles que la lignée « Tỳ Ni Đa Lưu Chi », la lignée « Vô Ngôn Thông » et la lignée « Thảo Đường ». La plupart des maîtres fondateurs de chacune d'elles sont d'origine chinoise, ou indienne, à l'exception de la lignée « Trúc Lâm/ Forêt de bambou du mont Yên Tử » dont le fondateur Trúc Lâm Đại Đầu Đà est bien légitimement un vietnamien. Etant donné qu'un maître vietnamien est plus communicatif et mieux approprié pour prodiguer un enseignement plus adapté à ses compatriotes, il aurait répondu plus justement aux souhaits, aspirations, habitudes et besoins spirituels des bouddhistes vietnamiens.
II. L'EVEIL N'EST PAS LE PRIVILEGE SPECIFIQUE DES RELIGIEUX, LES LAÏCS PEUVENT EGALEMENT Y ACCEDER PAR LA PRATIQUE
2.1 Le Roi Trần Thái Tông (1218-1277)
Voici le premier roi de la dynastie des Trần, un roi naturellement attaché au bouddhisme. Ayant vécu des situations difficiles et douloureuses, il décida de se réfugier au mont Yên Tử en 1236 avec l'espoir de suivre l’enseignement du maître Viên Chứng qui résidait à la pagode Hoa Yên. En réponse à la sollicitation du roi, ce maître disait: "Je ne suis qu'un vieux moine vivant depuis longtemps dans ce lieu sauvage. Mes os sont devenus rigides, mon visage émacié. Je me contente de légumes et de quelques marrons pour me nourrir, de l'eau de montagne pour me désaltérer et de la forêt comme lieu de méditation. Mon esprit est aussi léger qu’un nuage ballotté par le vent. Votre majesté! qu'espérez-vous trouver en quittant votre position de maître suprême pour venir dans cet endroit montagneux et sauvage ? "
Le roi lui répondit: "Mes parents m'ont abandonné dès ma tendre enfance. Très tôt, je suis devenu un orphelin esseulé, sans appui. De plus, préoccupé par l'idée de la non-permanence des institutions royales antérieures avec leurs décadences et ascensions toujours fluctuantes, je suis venu ici, dans cette montagne reculée avec l’unique intention d'acquérir la bouddhéité et je n'espère rien d'autre. "
Viên Chứng répondit : "Bouddha ne réside pas dans la montagne, il est plutôt présent dans notre esprit. Dès que celui-ci demeure silencieux et omniscient, cette connaissance est la bouddhéité. Maintenant, si votre majesté réalise cet état d’esprit, vous deviendrez immédiatement Bouddha, sans nul besoin de chercher à l’acquérir ailleurs."
Peu après, le premier ministre Trần Thủ Độ accompagné d'un régiment royal partit à la recherche du roi. Il le retrouva au mont Yên Tử et le persuada le revenir au palais. Sur les insistances de son premier ministre, le roi demanda l'avis du maître Viên Chứng qui conseilla: "Un roi se doit de considérer le désir de son peuple comme sien. A présent, si le peuple souhaite votre retour auprès de lui, vous ne pourrez pas agir autrement. Cependant, que cela ne vous disperse pas de renforcer votre quête bouddhique en approfondissant l’étude des Sūtra."
Le roi se trouva donc contraint de revenir auprès de son peuple et de continuer à régner. Durant plus de dix années, dès qu’il disposa des moments libres, il invita d’éminentes personnalités bouddhistes à se rendre au palais pour s’enquérir de leur connaissance religieuse, en particulier sur l’essence de la méditation. Le roi racontait: « Je lis souvent le sutra du Diamant, arrivé à la phrase "Délivré de toute attache, la bouddhéité apparaît/ Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", je dépose le livre canonique, et en la murmurant, subitement l’éveil me saisit.» Aussitôt j’ai transcrit cette illumination en cantique nommé "Guide de la Méditation".
Même en pleine fonction de souverain, le roi continuait à approfondir l’enseignement bouddhique et à pratiquer la méditation jusqu'à l'Eveil. C'est une preuve suffisante pour affirmer que c'est le manque de détermination et non les circonstances multiples et préoccupantes qui rendent la pratique difficile à réaliser. Qui peut prétendre avoir des préoccupations et des responsabilités plus complexes qu’un roi, surtout un roi intensément préoccupé de l’avenir de son pays ! Etant fermement déterminé à se perfectionner, ce roi Trần est parvenu à atteindre l'Eveil. Voilà un brillant modèle exemplaire à suivre sur notre chemin du perfectionnement.
En 1257, lorsque les Mongols/Nguyên Mông envahirent notre pays, le roi Thái Tông commandait lui-même les troupes sur plusieurs fronts. Il était présent à tous les endroits périlleux, ce qui maintint considérablement le moral des soldats et les incita à combattre vaillamment. Au début de l'année 1258, leurs troupes avaient finalement combattu avec succès contre les envahisseurs et chassé les Mongols qui s'enfuirent à Vân Nam. Ce roi est un véritable maître Thiền, très imprégné du bouddhisme. Il a maintes fois écrit des cantilènes ayant pour but d'éviter d'ôter la vie des autres:
Les morts bien enveloppés dans des sacs de couverture,
Redoutaient tous la mort et aimaient la vie.
C’est pourquoi les Saints et les Sages depuis longtemps
ne souhaitaient pas voir mourir ceux qui préfèrent vivre.
Pourtant, lors de l’envahissement des Mongols, il avait dû commander ses troupes pour combattre les ennemis, il avait sûrement une raison à cela.
Après avoir cédé le trône à son fils, il se retira dans la région montagneuse Vĩ Lâm, ancienne capitale Hoa Lư, y construisit la cabane Thái Vi où il se réfugiait pour sa pratique spirituelle tout en prodiguant des conseils utiles aux habitants. Il les incitait à observer les Cinq Préceptes, dont le troisième a été commenté comme suit:
Joues discrètement parfumées, visage satiné comme une pêche épanouie.
A les voir, les yeux s’y sont rivés et l'esprit est légèrement ébranlé.
Pourtant cela n'est qu'une enveloppe charnelle malodorante,
Capable de découper les entrailles humaines sans nul besoin de couteau.
Les quatre états de naissance, vieillesse, maladie et mort, ont été souvent rappelés dans son enseignement. Dans les Sūtra, ces quatre états sont dénommés "les Quatre Monts" dont le deuxième a été décrit comme suit :
La vie humaine est tellement éphémère,
Qu'il s'agisse d'un être humain ou divin, aucun espoir de prévoir s'il mourra jeune ou vieux.
A la tombée du jour, l'ombre se couche sur les champs de mûriers
Le corps est fragile comme le jonc ou le saule en automne.
A cette époque, les cheveux de Phan Lang étaient encore noirs
Aujourd'hui les cheveux de Lã Vọng sont déjà blancs.
La vie continue à tourbillonner sans regret
Comme le soleil se couchant derrière la montagne ou l’eau qui suit son cours.
Quelques Observations Sur Le Roi Trần Thái Tông
Si l’on compare le roi Trần Thái Tông à l’empereur de Chine Lương Võ Đế, on peut mettre en valeur les caractéristiques suivantes:
Le roi Lương Võ Đế (464-549) était un fervent bouddhiste, un assidu prêcheur des sutras tel que Phóng Quang Bát Nhã/Emission de lumière de la Sagesse, un commentateur talentueux des Sūtra … Toutefois en l'an 520, le patriarche Bodhidharma/Tổ Bồ Đề Đạt Ma est venu en Chine. Il a rencontré le roi, lui a parlé de la Méditation, sans l'avoir convaincu. Bodhidharma continua alors son chemin vers le nord où il résida à la pagode Thiếu Lâm. A la fin du règne de Lương Võ Đế, Hầu Cảnh complotait pour le détrôner. Avec ses régiments, il assiégea la capitale Kiến Khang. Malgré les propositions de contre-offensive de ses ministres, le roi s'y refusa et même donna l'ordre de fermer les portes de la ville, puis se contenta de prier en vue d'éloigner l'ennemi. Il n'avait pas obtenu le résultat souhaité et finit par perdre son pays, y compris sa propre vie.
Contrairement à Lương Võ Đế, le roi Trần Thái Tông, bien qu’ayant déjà réalisé la conscience thiền, n’avait pas hésité à conduire ses troupes pour lutter contre les envahisseurs mongols, et avait réussi à chasser l'ennemi hors de son pays qui retrouva enfin la paix. Le réflexe approprié du roi Trần Thái Tông lui a apporté succès et possibilité de continuer paisiblement sa pratique de la méditation.
Voilà une démonstration probante mettant en relief la différence des résultats obtenus par ces deux rois épris de bouddhisme selon leur prise de position face à des situations similaires.
Quand la citadelle fut assiégée par l'ennemi, au lieu de haranguer ses troupes pour la défendre, le roi Lương Võ Đế les incita à la prière avec l’intention de chasser l'ennemi. Ainsi, il s’est servi de la religion pour gérer un conflit politique, ce qui a causé sa perte. Quant au roi Trần Thái Tông, il a su faire la part des choses. Il n'imposa pas les doctrines de la religion, ce qui lui permit de sauver son pays du danger. La pratique bouddhique consistant à perfectionner les vertus et à développer la sagesse relève du domaine de la religion et d’un choix personnel. Quand le pays fut envahi par les ennemis extérieurs, tout le peuple se mobilisa pour lutter. Le chef souverain fit appel au patriotisme de son peuple et commanda l’état-major pour défendre son pays. Ceci relève du domaine de la politique. Il s’avère fondamental de savoir faire la distinction entre le domaine religieux et le domaine politique. Le bouddhiste ayant pris refuge auprès des Trois Joyaux se doit d’observer les Cinq Préceptes. Il se rend fautif s'il commet un acte de tuerie car cela concerne son propre perfectionnement et relève du domaine religieux. Mais lorsque le pays est envahi, la responsabilité de chaque citoyen est de se mobiliser pour le défendre. Ainsi il aura assuré son devoir de citoyen, même si durant les batailles, il arrive que les soldats bouddhistes sont obligés de tuer leurs ennemis. Cet acte ne devrait pas être assimilé à la simple transgression du premier précepte, celui qui consiste à ne pas tuer.
Quoique le roi Trần Thái Tông ait poursuivi inlassablement sa pratique spirituelle, il a réussi durant toute sa vie à assumer sa fonction, celle de protéger et de construire son pays. En temps de guerre, il a su se sacrifier pour sauver son pays et son peuple, mais en temps de paix il n'a pas hésité à prodiguer de bons conseils à ses sujets, malgré son grand âge. Il leur enseignait la meilleure façon de défricher la terre, de créer des exploitations agricoles, tout en leur montrant la bonne pratique bouddhique afin de réaliser leur propre perfectionnement. Le bon roi Trần Thái Tông se souciait aussi bien du bien-être matériel de ses administrés ainsi que de leur confort moral et spirituel. Conscient que l'équilibre physico-psychique est la base même d'une existence réellement heureuse, le roi appliquait les principes bouddhiques à la vie courante de façon très positive.
Voilà un roi bouddhiste authentique, très imprégné de l'enseignement de Bouddha, qui possédait une connaissance profonde et vaste du Dharma, mais qui se contentait seulement de quelques principes bouddhiques de base afin d’enseigner à ses sujets les bonnes conduites dans la vie courante. Par exemple, il encourageait l'observance des Cinq Préceptes permettant d’assurer l'ordre et la sécurité dans la société. Avec des rappels incessants sur la loi de la causalité, il incitait à la pratique des bonnes actions, à l'ouverture du cœur de compassion envers les indigents, à la solidarité et à la tolérance envers autrui. En revanche, lorsqu’il s'agit de régner en tant que monarque, le roi eut recours au confucianisme pour étatiser le pays, en proférant des lois permettant la prévention ou la lutte contre les infractions. En 1238, le roi a organisé pour la première fois un concours spécial pour sélectionner les lettrés de haut niveau/Thái học sinh, cela fut réitéré une fois tous les sept ans. En 1253, il établit le concours "Les trois lauréats du grand concours impérial/Tam Khôi" : Le premier lauréat/ Trạng Nguyên, Le deuxième lauréat/ Bảng Nhãn et Le troisième/ Thám Hoa… Ayant su ainsi appliquer à bon escient les principes religieux dans les affaires de l’Etat, le roi a réussi à faire du Vietnam de son temps, un pays paisible et prospère pour longtemps.
2.2 Tuệ Trung Thượng Sĩ, Un Haut Fonctionnaire (1230-1297)
Le commandant de l'armée Trần Tung, fils de Trần Liễu, a commandé à deux reprises les troupes pour combattre les Mongols. A la fin de la guerre lorsque le pays a retrouvé la paix, il se retira au fief Tịnh Bang/Domaine paisible devenu village "Vạn Niên/10.000 ans" où il s'adonnait à la pratique de la méditation sous la direction du maître Tiêu Dao à la pagode Phước Đường. En témoignage de son respect pour lui, le roi Thánh Tông lui a décerné le titre de "Tuệ Trung Thượng Sĩ", tout en lui confiant l'éducation religieuse, en particulier la pratique de la méditation, de son fils le prince Trần Khâm. Cet homme exceptionnel méritait bien les éloges du futur roi Trân Nhân Tông. Dans un extrait du « Recueil sur les paroles célèbres de Tuệ Trung Thượng Sĩ », il écrivit : "Quel esprit et quelle tenue de Thượng Sĩ dégageant une apparence solennelle, aux gestes dénotant une droiture et une prestance surtout lorsqu’il se concentre à merveille sur la méditation sous une brise rafraîchissante au clair de lune ! Les éminents sages de l’époque disaient tous de Tuệ Trung que c'était très difficile d'estimer sa valeur, vu la profondeur de ses connaissances et la clarté de sa sagesse dans des circonstances que ce soit dans des situations favorables ou difficiles!". Des laïcs venaient solliciter son enseignement sur les principes de la méditation. Les moines également lui rendaient visite et s'enquéraient de ses précieux conseils. Cet éminent personnage enclin au bonheur de la solitude était un fort partisan de l'indépendance. Aussi l'exprimait-il clairement dans l’œuvre intitulée « Joies de vivre en harmonie avec la nature »:
Les lacs et mers ne m’ont jamais troublé l’esprit clair,
Les jours et les mois passent vite comme la flèche ou la navette.
Mes moyens d'existence se résument à la brise fraîche et au clair de lune,
La montagne verte et la mer bleue comblent mon existence.
Dès l'aube je déploie les voiles vers les océans lointains,
Le soir venu, je lève ma flûte narguant vent et nuage,
Pour remercier les Trois Joyaux qui n’ont fourni aucune nouvelle
A part la barque abandonnée sur cette plage de sable.
La vie de ce grand homme fut simple et modeste, sans gloire ni lucre, son cœur parfaitement équanime à tout moment. Le quatrain suivant "Liberté et Equanimité/Tự Tại" le montre bien:
Les liserons et les souris envahissent le terrain en l'absence de l'homme.
A l'âge avancé, je me retire parmi les monts et les forêts.
Dans ma chaumière aux portes de bois, ma vie s'écoule paisiblement.
Devant toute dualité fausse ou vraie, mon esprit demeure équanime.
Lorsque la nation fut menacée, le grand homme partit au front pour défendre son pays et sauver son peuple. En temps de paix, il se contentait de vivre en harmonie avec les principes de la méditation, de s'adonner en toute liberté aux charmes tranquilles des lacs et océans, aux délices de la liberté des contrées sauvages, mais toujours prêt à venir en aide à autrui en cas de nécessité. La belle vie de Thượng Sĩ est à l'image d'un tableau dessiné à l'encre de chine.
2.3 Le Roi Trần Thánh Tông ( 1240-1290 )
Fils du roi Trần Thái Tông, il accéda au trône en 1258, sous le règne Thiệu Long. Il suivit l'enseignement de la méditation du moine national Đại Đăng. C'est au cours de la lecture du Recueil des enseignements du maître Đại Huệ que le roi fut pris d'un accès d'émotion qu'il exprima dans cette stance:
Depuis trente ans, j’ai brisé les tuiles et perforé les carapaces de tortues.
Que de fois, j'ai transpiré au cours de séances de méditation.
Jusqu'au jour où j’ai découvert mon vrai visage
Et me suis aperçu que depuis toujours, il manquait la moitié de mon nez.
Parlant de la Méditation, le roi Trần Thánh Tông disait : " Les manifestations de l’esprit sont claires et silencieuses, sans allée ni venue, sans augmentation ni diminution, flottant sur tout phénomène grand ou petit, qu’il soit favorable ou défavorable, mouvant comme le nuage ou tranquille comme le mur, léger comme une plume ou pesant comme un rocher. L’esprit s’expose dans son intégralité sans objet ni trace à tel point qu’il nous est difficile de le sonder ; mais pour vous j’ai tâché de le décrire aussi clairement que possible " [Extrait de Thánh Đăng Lục.]
A travers ses écrits, nous voyons que le roi Thánh Tông a déjà profondément pénétré l’essence de la méditation lorsqu’il était encore sur son trône, en pleine fonction, au milieu de la Cour, sans avoir besoin de se réfugier dans la forêt ou dans la montagne pour se perfectionner, ce qui ne l'a pas empêché d'atteindre l'Eveil. C'est justement ce que le maître Viên Chứng a dit : "Bouddha est en notre esprit". A celui qui a su s’observer jusqu’aux tréfonds de son esprit atteindra un jour l'Eveil. Il est évident que se perfectionner par la pratique de la méditation ne constitue aucunement un obstacle aux préoccupations de ce monde. Tous les êtres peuvent bénéficier de cette possibilité de perfectionnement. Voilà la preuve tangible démontrant que, sous la dynastie des Trần, la pratique de la méditation a bien abouti à des résultats très positifs.
III. BUT DE LA LIGNEE DE MEDITATION TRÚC LÂM YÊN TỬ
3.1 Le Premier Patriarche Trúc Lâm (1258-1308)
Il est le fils de roi Trần Thánh Tông et de la reine mère Nguyên Thánh, nommée Trần Khâm. Devenu adulte il apprit la pratique de la méditation sous la direction du maître Tuệ Trung à qui son père l'a confié pour son éducation religieuse. Un jour, pour répondre à sa question sur "l'obligation essentielle de la méditation", Tuệ Trung disait : "S'éclairer soi-même est le devoir primordial, ne pas attendre d’aide extérieure/Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc". Ces paroles lui ont ouvert l'accès à la voie, aussi a-t-il reconnu Tuệ Trung comme son maître.
A l'âge de 21 ans (1279), il est devenu empereur sous le titre Trần Nhân Tông. A deux reprises en 1285 et en 1288, il a dû diriger ses troupes pour lutter contre les envahisseurs mongols et ramener la paix au pays. En l'an 1293, il céda le trône à son fils Trần Anh Tông et devint le Guide suprême du roi régnant/ Thái Thượng Hoàng. En 1299, il se fit ordonner moine à Yên Tử. Il portait le nom de " Le grand ascète de la forêt de bambous/ Trúc Lâm Đại Đầu Đà" et devint par la suite le premier Patriarche de cette lignée de Méditation Yên Tử. Tenant compte de l'origine de sa prise de conscience, l’Ecole de méditation Yên Tử a choisi comme guide la devise suivante : "Il est primordial de s'éclairer soi-même et de ne pas compter sur l'aide extérieure."
3.2 La Devise " Le Devoir De S'éclairer Soi-Même Sans Compter Sur Autrui" Vue A Travers La Vie De Bouddha, Son Dharma Ainsi Que Les Méthodes De Méditation Qui S’ensuivent.
3.2.1 Bouddha a établi la totalité de sa pratique spirituelle sur l’observance de la vision profonde
En l’occurrence pendant quarante neuf jours et nuits assis au pied de l'arbre Bodhi, Bouddha pratiqua la vision pénétrante et en atteignant l'Eveil, Il devint Bouddha. Le Bienheureux, fondateur du bouddhisme, a acquis l'Eveil grâce à la pratique de la vision pénétrante ; d’où le leitmotiv de "s’éclairer soi-même est un devoir primordial", et dans son accomplissement, Il ne comptait que sur lui-même, sans aucune aide extérieure ; d’où l’expression "sans compter sur autrui."
3.2.2 L'enseignement de Bouddha
Les quatre Tomes d’Āgama sūtra/Kinh A Hàm, les six cents volumes de Sūtra du Prajñā/Kinh Bát Nhã, le Sūtra du Lotus/Kinh Pháp Hoa… ne sortent pas du cadre de cette devise "S'éclairer soi-même…". Le Sūtra Āgama est basé sur la doctrine des "Quatre Nobles Vérités/Tứ Diệu Đế", et aucune des "Trente sept Rubriques auxiliaires de l’Eveil/ Ba mươi bảy Phẩm trợ đạo" n’a jamais omis de recourir à la pratique de la vision profonde. De tous les Sūtra de Prajñā, le Sūtra du Cœur est le condensé ultime dans lequel la sentence telle que "la pratique de la vision profonde des cinq agrégats permet de reconnaître leur vacuité propre" constitue la base du travail de perfectionnement. Le but exprimé dans le Sūtra du Lotus est de reconnaître la nature de Bouddha en soi. L'aventure du Misérable qui a retrouvé son richissime de père est bien l’allégorie de "l'éclairement de soi".
3.2.3 Toutes les méthodes de la Méditation Bouddhique sont basées sur la Vision profonde:
a) L'Ecole Theravāda
A l'heure actuelle, en matière de Méditation, l'Ecole Theravāda enseigne soit la Méditation sur les Quatre Etablissements de l’Attention/Thiền Tứ Niệm Xứ/Catvari-sṃṛṭiupasṭhānani, soit la Méditation de Vipassanā/Thiền Minh Sát Tuệ.
La Méditation sur les Quatre Etablissements de l’Attention comporte:
▪ L’Attention au Corps reposant sur la concentration de l'état d'impureté corporelle.
▪ L’Attention aux Sensations ayant pour trame la souffrance.
▪ L’Attention à l’Esprit basée sur son caractère impermanent.
▪ L’Attention aux Dharma/Phénomènes fondée sur leur Non-soi.
En somme la Méditation sur les Quatre Etablissements de l’Attention constitue un entraînement de l’éclairement de soi.
Quant à la Méditation de Vipassanā, elle tire profit d'abord de la parfaite conscience de la respiration, c'est-à-dire de la durée respiratoire et du rythme des inspirations et expirations… Ainsi concentré sur le mouvement respiratoire, le mental parviendra à se pacifier. Dans la foulée, le pratiquant développe sa vision profonde sur son entité physico-psychique, identifiant ainsi la non-permanence, la souffrance, la vacuité, et le non-soi comme faisant partie de la nature exacte des êtres et des phénomènes. Suivre la respiration et méditer sur la non-permanence du corps et de l'esprit… ne sont que des moyens habiles de "l’introspection permettant de s'éclairer soi-même. "
b) L'Ecole Mahayaniste est basée sur la vision profonde selon l’enseignement dans le Sūtra de Prajñā:
▪ Soit "la pratique de la vision profonde des cinq agrégats permettant de reconnaître leur vacuité propre" enseignée dans le Sūtra du Cœur.
▪ Soit "la visualisation pénétrante de tous les êtres et phénomènes qui ne sont que songes, chimères, écume, ombre, rosée et éclair…, donc illusoires et éphémères" dans le Vajracchedikā Prajῆāpāramitā sūtra/ Sūtra du Diamant/ Kinh Kim Cang Bát Nhã.
Ces deux modes de concentration de méditation ne sont autres que "l’éclairement de soi". Il en est de même pour les "Trois Méditations/Tam quán" qui ont été mises au point par le maître Huệ Văn, suite à la réalisation de sa conscience zen lors de l’étude du Madhyāmika Śāstra/Trung Quán Luận. Puis le Maître enseigna la méthode des Trois Méditations à son disciple Huệ Tư (515-577) qui fonda par la suite "l'Ecole Mahayaniste des Trois Méditations". Cette méthode s'appuie sur la fameuse stance suivante du Madhyāmika Śāstra: "Tous les phénomènes s’interpénètrent dans un réseau de multiples interdépendances. Or tout ceci découle de la vacuité. Comme ils sont aussi l’expression d’une identité apparente, il en résulte une vision de la Voie du Milieu". D’où la Méthode d’une Triple Méditation : la concentration sur la vacuité/Không quán, la concentration sur l’illusion/Giả quán et la concentration sur la Voie du Milieu/Trung đạo quán. La pratique de cette triple méditation revient également à "l’éclairement de soi".
c) Le Bouddhisme Thiền Tông repose effectivement sur le "principe de s’éclairer soi-même". Le premier patriarche Bodhidharma a prôné cette devise: "Aller directement à l’esprit de l'homme afin de découvrir la vraie nature de Bouddha en soi/ Trực chỉ nhơn tâm kiến tánh thành Phật". En effet, sans cette vision profonde, comment peut-on voir clair en soi? Et sans avoir découvert sa vraie nature, on n’aura pas la possibilité de reconnaître la bouddhéité, car effectivement Bouddha n'est pas en dehors de soi, mais dans l’esprit de chacun de nous, selon le bouddhisme Thiền Tông.
3.2.4 Pourquoi doit-on s'observer pour mieux s’éclairer soi-même ?
Le pratiquant bouddhiste se doit de connaître son corps et son esprit tels qu’ils sont. Les êtres se méprennent d’eux-mêmes car toutes leurs activités ne servent qu’à assouvir le moi alors qu’ils ignorent complètement qui ils sont. A cause de l’attachement mental provenant de l’ignorance, ils ont commis des erreurs qui engendrent des souffrances à eux-mêmes et à autrui. S’ils se donnent la peine d'éclairer leur for intérieur afin de voir les choses telles qu’elles sont, alors toutes les idées préconçues seront anéanties. Ce serait une source de paix et de bonheur pour soi et pour les autres.
La vision profonde s’opère en deux temps:
a) Reconnaître parfaitement l’impermanence du corps et du mental
Ecoutez la stance intitulée "l’auto-recommandation à soi" de Tuệ Trung Thượng Sĩ:
Les jours et les mois passent comme l'eau qui s’écoule, la fortune et la célébrité sont semblables aux nuages qui flottent.
Le souffle du feu d’incinération éteint, tout être vieux ou enfant redevient poussière.
L'esprit ainsi que son fluide mental quittent le corps comme dans un rêve.
Dans sa vie courante, l'homme se laisse manipuler comme une marionnette.
Toute la journée, il badine en cherchant à saisir les ombres…
Dans les rêves nocturnes, beaucoup d'actions se trament ; mais une fois réveillé, tout est vide.
Dans un songe, le grossier et le subtil se façonnent.
Au réveil, il n’en subsiste plus rien…
Quant au patriarche Trúc Lâm, il décrivait ses sentiments dans la stance intitulée « Joies ressenties dans une cabane en montagne »:
Des pensées bienveillantes ou malveillantes me quittent comme les fleurs tombées,
Gloire et lucre refroidissent mon cœur sous la pluie nocturne.
La pluie a cessé, la fleur est mise à nu, la montagne est silencieuse,
L'oiseau a chanté une fois et c'est déjà la fin du printemps.
Le corps composé de ses quatre agrégats ainsi que l’esprit de lucre et la gloire, le vrai et le faux sont tous impermanents et illusoires. En prenant conscience de cela, le pratiquant parachève la réalisation de l’éveil. En revanche, l'être profane ne cesse de considérer sa forme physique et son esprit discriminant comme de vraies réalités, d’où la source intarissable de souffrances. Aussi sur le chemin du perfectionnement, il est essentiel de savoir "s'éclairer soi-même" pour avoir une vision juste de toutes choses.
b) Reconnaître la vérité immuable à travers un corps impermanent
Dans la composition sur "Les louanges de l’esprit du Bouddha/Phật tâm ca" de Tuệ Trung, il y a un passage disant ceci :
Pour saisir l’esprit, ne le cherchons pas à l'extérieur,
Sa nature profonde est telle quelle, vide et silencieuse.
Le Nirvāṇa, la naissance et la mort sont reliés artificiellement,
Les souffrances et le Bodhi sont de vains adversaires.
L’esprit est Bouddha et Bouddha est l’esprit,
De tout temps resplendit cette merveilleuse instruction.
A l'arrivée du printemps, les fleurs s'épanouissent naturellement,
Au retour de l'automne, l'eau devient profonde…
Calme, calme, calme, laissons-nous aller jusqu’aux tréfonds de nous-mêmes,
La source originelle de tous les dharmas se retrouve dans l’esprit de Bouddha.
Or l’esprit de Bouddha s’identifie au nôtre,
Ainsi soit-il de tout temps.
Méditer pendant la marche mais aussi en position assise,
Une fleur de lotus illuminera le fourneau…
Le patriarche Trúc Lâm disait aussi:
Ainsi donc Bouddha est en nous, inutile de le chercher ailleurs.
Oubliant notre nature originelle, nous cherchons le Bouddha extérieur,
Finalement je me suis rendu compte que Bouddha n'est autre que "moi".....
[Extrait de la cinquième strophe de la poésie lyrique intitulée "La joie de la pratique spirituelle dans la vie courante"].
A travers les deux stances précitées, nous avons vu que l'éminent Tuệ Trung et le patriarche Trúc Lâm désignent tous les deux notre propre esprit comme la bouddhéité. Evidemment, il s’agit de l’esprit calme et omniprésent et non pas l’esprit discriminant muable et destructible. Ainsi au fond de chacun de nous, constitué par une entité physico-psychique tout à fait impermanente, il existe un esprit toujours serein et omniprésent à l'image d'une fleur de lotus d’une fraîcheur ardente dans un fourneau embrasé. Seulement la plupart du temps, nous oublions notre bouddhéité et nous recherchons le Bouddha à l'extérieur, alors qu'il nous suffit de retourner à la lumière en nous-mêmes. Nous prenons alors conscience que notre propre esprit est la bouddhéité.
IV. LA TOLÉRANCE ANIMANT LA CONDUITE DE LA LIGNÉE DE MEDITATION DES TRẦN
4.1 La Tolérance Inter-Religieuse Au Sein Du Bouddhisme
Sous la dynastie des Trần, la Méditation constitue la principale discipline enseignée, mais parallèlement la voie de la "Terre Pure/Tịnh Độ" se développe aussi librement. La voie de la "Terre Pure " présente deux aspects : Principe/Lý et Pratique/Sự.
La Pratique de la Terre Pure/Sự Tịnh Độ implique la croyance ferme/Tín à l'existence du Monde de Félicité se trouvant à l'ouest de l'univers et régenté par le Bouddha Amitābha. En invoquant avec ferveur/Hạnh le nom du Bouddha afin de le solliciter/Nguyện notre re-naissance au Monde de Félicité, alors au moment du trépas, le Bouddha Amitābha nous accueillera dans son royaume.
Le Principe de la Terre Pure/Lý Tịnh Độ prescrit que "la nature même d'Amitābha symbolise la Terre Pure" et que "l’esprit étant équanime, l’espace environnant est pur". Ce qui signifie que lorsque "notre esprit a été pacifié, la terre est calme" et que lorsque "notre nature profonde est claire, c’est Bouddha Amitābha
lui même". Le patriarche Trúc Lâm disait :
…La Terre Pure n’est autre que l’esprit pur,
Inutile de s’interroger encore sur l’Univers de l’Ouest.
Amitābha est la source de lumière rayonnante,
Inutile de chercher à renaître au royaume de la Félicité.
[Extrait de la deuxième strophe de la poésie lyrique intitulée "La joie de la pratique spirituelle dans la vie courante"].
Le Bouddhisme Thiền Tông partage le Principe de la Terre Pure et n’adhère pas à la Pratique de la Terre Pure. Le maître Vô Ngôn Thông a trouvé l'Eveil subit en écoutant le patriarche Bá Trượng qui dit : "Lorsque la Terre-Esprit est vacuité, la lumière du soleil rayonne/ Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu". Ce qui signifie que lorsque la terre de l’esprit est vacuité, l’esprit s’éclaire lui-même et le milieu environnant est calme. La lumière du soleil qui rayonne, c’est la nature propre du Bouddha Amitābha. Le terme "Amitābha" se traduit par "lumière infinie" qui, en langage zen, symbolise "la lumière du soleil qui rayonne." Ceci prouve que sur le Principe, les pratiquants de la "Terre Pure" et ceux de la "Méditation" poursuivent en effet le même objectif final.
4.2 L'origine Commune Des Trois Doctrines/Tam Giáo Đồng Nguyên
La thèse de l’origine commune de la triple doctrine fut émise sous la dynastie des Song en Chine. Au Vietnam sous la dynastie des Trần, elle a été reconnue comme un moyen d'allier les trois doctrines: le Bouddhisme, le Confucianisme et le Taoïsme. Le peuple vietnamien a subi la profonde influence de cette triple doctrine. Dans le but de rassembler le peuple tout entier, sous la dynastie Trần, l’on associait le Bouddhisme au Confucianisme et au Taoïsme. En effet, si l’entraînement de ces trois doctrines dans la pratique du perfectionnement est différent, cela ne constitue que des moyens apparents, leur but final converge. C’est ce qu’on a dit à propos de leur origine commune. Il s’agit de l’esprit de tolérance et d’humilité du bouddhisme Thiền Tông, car à cette époque, tout le monde savait que monarque et mandarins avaient presque tous suivi les enseignements bouddhistes.
V. SOUS LA DYNASTIE TRẦN, LE BOUDDHISME S'EST MONTRÉ PARTICULIEREMENNT PRAGMATIQUE ET POSITIF
5.1 Réalisme Bouddhique
La devise du bouddhisme de l’époque des Trần fut : "Tel esprit, tel Bouddha/ Tức tâm tức Phật". L’esprit "ignorant" incombe aux profanes, l’esprit éveillé au Bouddha. Bouddha n'est pas ailleurs, il réside au sein de notre cœur. Il nous suffit de laisser se décanter notre cœur tourmenté pour que l’esprit éveillé apparaisse. Au début des "Louanges de l’esprit de Bouddha/Phật Tâm Ca" le maître Tuệ Trung disait :
Bouddha! Bouddha ! Bouddha ! Impossible de l'apercevoir,
Esprit! Esprit! Esprit! Impossible de le décrire.
Lorsque l’esprit apparaît, Bouddha apparaît,
Lorsque l’esprit disparaît, Bouddha disparaît.
Méconnaître l’esprit et adorer Bouddha est chose futile,
Ignorer Bouddha et croire à l’esprit, quand saura-t-on la vérité ?
Pour distinguer l’esprit de Bouddha de l’esprit impermanent,
Attendre la prochaine venue de Maitreya pour trancher !…
Bouddha, c'est l'Eveil. Aussi est-il insensé de rechercher la réalisation de l’éveil en dehors de son esprit, car c’est seulement en soi que l’on peut reconnaître le vrai Bouddha. Si l’on délaisse son esprit pour aller chercher ailleurs Bouddha, on ira vers le Bouddha des autres et non vers le sien. Evidemment, même si le Bouddha Maitreya intervient en ce monde, Il ne pourra pas résoudre ce problème surtout si l'on persiste à prendre son esprit impermanent et muable pour Bouddha.
Aussi le patriarche Trúc Lâm disait :
Que faire ! Pourvu qu'on saisisse l’esprit, rien d'autre à faire.
En maintenant sa nature éveillée, le mental sera pacifié.
En réprimant les pensées, le mental sera étouffé sans pouvoir s’éteindre.
Cesser toute idée de soi et d’autrui, voilà la vraie nature du Diamant,
Avidité et colère disparues, l’on retrouvera la connaissance parfaite de cet esprit merveilleux… (L’Eveil complet et parfait)
[Extrait de la deuxième strophe de la poésie lyrique intitulée "La joie de la pratique spirituelle dans la vie courante"].
Le Diamant/Kim Cương et l’Eveil complet et parfait/Viên Giác symbolisent notre vrai Bouddha. Si nous désirons le découvrir, il nous faudra dominer les pensées illusoires, éliminer l’idée de soi et d’autrui, cesser la convoitise, la colère et l’ignorance. Du fait de la présence de ces pensées illusoires, nous nous attachons à l’idée de soi et d’autrui, nous attisons la cupidité, la colère et l’illusion qui constituent une sorte de voile épais nous empêchant de reconnaître notre vrai Bouddha, tel un nuage dissimulant la lune. Pacifier cet esprit troublé et agité afin qu’il puisse retrouver sa nature calme et claire qui est l’esprit de Bouddha, constitue une pratique bien pragmatique. En effet, étant conscient de la vraie nature des choses, on agit en toute connaissance de cause et on s'assure ainsi de la réussite finale, sans avoir à attendre un appui quelconque venant de l'extérieur.
5.2 Positivité Bouddhique
En l'an 1304, le patriarche Trúc Lâm fit une longue marche parmi la population afin de lui prodiguer ses conseils sur l'observance des Cinq Préceptes et la pratique des Dix Bonnes Actions. Il a donc de manière positive introduit le bouddhisme dans la vie courante de son peuple, en commençant par éduquer l'individu qui servira de modèle à son entourage familial puis social et national. Les Cinq Préceptes préconisés par Bouddha ont pour objectif :
▪ La protection de la vie humaine en respectant le précepte de ne pas tuer.
▪ La préservation de la propriété d'autrui en respectant le précepte de ne pas voler.
▪ La défense du bonheur familial en évitant l’inconduite sexuelle.
▪ La garantie du prestige et de la valeur humaine en évitant les mensonges.
▪ La protection de la santé, de la sagesse de l’esprit et de l'ordre public en interdisant la consommation de boissons enivrantes. A l'heure actuelle, on doit ajouter l'opium, l’héroïne et tout stupéfiant. Si tous les citoyens observent ces Cinq Préceptes, le pays retrouvera une paix réelle et le peuple y vivra sans crainte ni angoisse. Bien au delà, le patriarche incitait la population à pratiquer les Dix Bonnes Actions réparties en trois groupes:
▪ Au niveau de maîtrise du corps, il conseille de ne pas tuer, de ne pas voler, de ne pas s'adonner à la luxure.
▪ Au niveau de maîtrise des paroles, il recommande d'éviter les mensonges, les médisances, les méchancetés, les paroles fallacieuses.
▪ Au niveau de pacification du mental, il enseigne la maîtrise de la colère, de l'avidité et de l’ignorance. Celui qui réussit à maîtriser ses gestes, ses paroles et ses pensées selon les Dix Bonnes Actions deviendra un sage. Un bouddhiste qui respecte les Cinq Préceptes tout en pratiquant les Dix Bonnes actions contribue à rendre la société meilleure et pacifique. Ainsi le bouddhisme pourra transformer réellement une situation malheureuse en situation heureuse, un être médiocre en un homme sage.
VI. LE CHEMIN POURSUIVI PAR LE BOUDDHISME VIETNAMIEN D'AUJOURD'HUI
Si d'aventure quelqu'un demande à un moine bouddhiste vietnamien à quelle lignée bouddhique il appartient, il sera certainement surpris car il ne saura que répondre. Pourquoi ?
6.1 Sa Pratique De Perfectionnement Se Résume A Deux Séances De Prières Quotidiennes
Depuis plus d'un siècle, au Vietnam les religieux résidants des pagodes s'évertuent à pratiquer deux séances de prières quotidiennes : une séance en début de soirée et une autre très tôt le matin. Au cours de la séance du soir, ils psalmodient le Sūtra Amitabha, suivi de la récitation du mantra invoquant la re-naissance dans l’Univers de l’Ouest/Chú Vãng Sanh, enfin ils évoquent le nom du Bouddha Amitābha. Très tôt le matin, ils récitent le mantra Śuraṃgama/Chú Lăng Nghiêm ou les dix mantras de la Compassion incommensurable ou Karamika/Đại Bi Thập Chú… Le jour où ont lieu des cérémonies spéciales telles que la prière pour les vivants/Cầu an et la prière pour les défunts/Cầu siêu, alors ils récitent d'abord le dhārani de la Compassion incommensurable, puis ils psalmodient le Sūtra adéquat. Avec de telles pratiques, on ne saurait dire à quelle lignée appartiennent ces pratiquants. Néanmoins la majorité des adeptes croient appartenir à la lignée de la Terre Pure, étant donné que celle-ci préconise la psalmodie du Sūtra Amitābha ainsi que l'invocation du nom de Bouddha Amitābha
. En revanche, la récitation du dhārani de la Compassion incommensurable et du mantra Śuraṃgama font plutôt partie des pratiques du Tantrisme tibétain/Mật Tông. Par ailleurs, l'examen consciencieux de l’emploi du temps des deux séances de prières quotidiennes y souligne la place prioritaire au Tantrisme tibétain.
Quelle est l'origine de cette pratique de la double séance de prières ? En se basant sur la préface du livre "L’équation des deux séances de prières réunies/Nhị Khóa Hiệp Giải", on sait qu'elle est née en Chine sous la dynastie des Qing/Nhà Thanh. L'empereur Thánh Tổ de la dynastie des Qing prénommé Khang Hy (1662-1772) par décret royal, invita le vénérable Ngọc Lâm Thông Tú (1614-1675) ainsi qu'un certain nombre d'autres vénérables éminents à se réunir en vue d'une préparation du livre "Nhị Thời Khóa Tụng/Double séance de prières quotidiennes". A cette époque, les moine et moniales résidants des différentes pagodes en Chine étaient tenus de se servir de ce livre comme support de leur pratique. Les Qing, descendants de l’ethnie Mãn Châu, occupaient le nord de la Chine, proche de l'Himalaya. Ils avaient bénéficié de l'influence du bouddhisme tantrique tibétain reconnu pour ses récitations de mantras. Aussi ce roi obligeait-il les vénérables rédigeant le livre "Nhị Thời Khóa Tụng" à privilégier la pratique du Tantrisme tibétain. Bien que l'instruction de ce livre se veuille impartiale, on y voit la prédominance de la pratique du Tantrisme tibétain sur celle de la Terre Pure.
Ce livre a paru vers la fin du XVIIe siècle au début du XVIIIe siècle, période de décadence du bouddhisme chinois. On ne connaît pas exactement la période de son introduction au Vietnam, mais on sait que vers la fin du IXXe siècle jusqu'à la fin du XXe siècle, dans presque dans toutes les pagodes vietnamiennes, on a recours à deux séances quotidiennes de prières comme directive commune dans la pratique encore dénommée : "Les deux temps de prière/Hai thời công phu". Il y a un adage qui dit : "le soldat craint l'escalade de la montagne, le novice redoute le Śuraṃgama". Même à l'heure actuelle en 1977, les moines qui s’occupent de la cérémonie de l’ordination des Novices/Śrāmaṇera ont toujours testé les postulants sur leur connaissance du mantra Śuraṃgama/Chú Lăng Nghiêm.
Les doctrines de la Terre Pure et du Tantrisme tibétain s'appuient sur l'aide extérieure. L'invocation du Bouddha Amitābha procure l'espérance d'être recueilli par le Bouddha Amitābha dans son royaume de la Terre Pure. Quant à la récitation des mantras et dhāranis, elle vise l'obtention de l’aide des Dragons célestes/Long Thiên, des Protecteurs de la Loi/Dharmapāla/Hộ Pháp, ou des Devas de Diamant/Thần Kim Cương pour épurer la rétribution karmique… Cet état d'esprit convenait parfaitement à la situation de notre pays de ce temps, l’époque pendant laquelle le Vietnam se trouvait sous le joug de la domination française. Cette colonisation française a fait perdre au peuple vietnamien toute confiance en lui même, étant donné que la mère-patrie désignée est la France. Aussi les vénérables bouddhistes vietnamiens ont-ils jugé convenable d’appliquer "Double séance de prières/ Nhị Thời Khóa Tụng" comme base de la pratique en corrélation avec la situation contemporaine.
Maintenant la situation a changé, le Vietnam a reconquis son indépendance, le peuple vietnamien a retrouvé sa propre confiance, sa valeur nationale, et pourtant le bouddhisme vietnamien continue à conserver la même pratique anciennement importée. Cette attitude est-elle appropriée à la progression nationale et à la reprise de confiance du peuple vietnamien de nos jours? Telle est la question qui a hanté fortement mon esprit depuis des années.
La doctrine de la Terre Pure exige trois principales conditions: la foi/Tín, la pratique/Hạnh et le vœu inébranlable/Nguyện. La foi, c'est croire fermement à l'existence du royaume de Félicité où Bouddha Amitābha est en train d'enseigner le dharma, et quiconque évoque sincèrement son nom sera assuré de renaître dans son royaume au moment du trépas. La pratique consiste à invoquer Bouddha Amitābha avec ferveur et assiduité. Le vœu inébranlable est la profonde aspiration de pouvoir renaître au royaume de la Terre Pure après la mort. Ce vœu ne sera exaucé qu'à deux conditions: l’attachement affectif au Monde de Félicité/Hân et l’éloignement de la vie ici-bas/Yểm. Puisque la Terre Pure est un monde paradisiaque et que le monde Sahā/Ta Bà comporte beaucoup de souffrances, quoi de plus séduisant de pouvoir quitter un monde de souffrances pour un monde de béatitude? Voilà le sens primordial de la pratique de la "Terre Pure". Au moment où la nation est mobilisée pour bâtir un pays riche et puissant, si nous autres, les religieux bouddhistes sommes las de cette vie de souffrance sur terre, comment pourrons-nous avoir le moral pour participer à la reconstruction du pays ? Le bouddhisme vietnamien n'aurait-il pas su s'adapter à la situation actuelle ?
Nous préconisons de revaloriser le bouddhisme Thiền Tông de la dynastie Trần. Pour cela, nous proposons essentiellement le sens "d’adaptation aux circonstances/Khế cơ" du bouddhisme afin de guider l'adepte bouddhiste dans sa pratique du perfectionnement en corrélation avec le rythme de la société. La devise "Tel esprit, tel Bouddha/Tức tâm tức Phật" de Thiền Tông génère une grande confiance au bouddhiste. Cette confiance nous donnera l’énergie nécessaire pour nous élancer plus haut et assurera le succès dans nos actions. En même temps, elle nous permettra de nous rendre compte que l'Eveil et le Nirvāṇa sont parfaitement accessibles dès cette vie. Ecoutons le sixième patriarche Huệ Năng :
…Le Dharma est en ce monde,
Ecarté du monde, il n’y aura pas d’éveil.
Rechercher l’éveil hors de ce monde,
Reviendrait à chercher la corne du lapin…
[Extrait du Sutra de l’Estrade du Trésor de Dharma, deuxième chapitre Prajῆā Pāramitā]
Le dharma est en ce monde, il est impossible d'atteindre l'Eveil en dehors du monde. Aller chercher l'Eveil ailleurs, c'est comme chercher la corne du lapin. Bouddha a réalisé l’Eveil au pied de l'arbre Bodhi en ce monde. C'est aussi en ce monde que les Arahats, ayant pris conscience des causes et effets de la naissance et de la mort, ont réussi à se libérer du cycle des renaissances et morts… C'est également en ce monde que les Pratyeka-Bouddha/Duyên Giác ont réalisé l’Eveil grâce au Principe de l'Interdépendance conditionnée… Pourquoi ne pas nous appliquer à la pratique ici même au lieu d'aller ailleurs? Ceci fait partie du pragmatisme et de la force de Thiền Tông que nos ancêtres ont déployés pour la pratique de leur perfectionnement.
6.2 Involontairement, Les Moines Sont Devenus Des Spécialistes Destinés Aux Prières
Le but essentiel de toute personne ayant quitté sa famille pour entrer en religion est de trouver l'Eveil et la libération de soi. Mais la longue période de vie en communauté a fini par atténuer peu à peu cette détermination. Le devoir d'un novice est d’apprendre à réciter par cœur les Sūtra, à manipuler cloche et gong de bois, à travailler sur la voix pour mieux psalmodier la prière, à bien faire rythmer des éloges aux Bouddhas au son du gong … Plus tard, une fois bien entraîné, il a le devoir de célébrer les cérémonies religieuses sollicitées par les adeptes. Tant qu'il n'y a qu'un petit nombre de demandes, il est en mesure d'assumer correctement son travail. Mais si les sollicitations des adeptes augmentent considérablement, le moine est sans arrêt occupé à célébrer les rituels religieux, alors il ne lui reste guère beaucoup de temps à consacrer à sa pratique d’Eveil et de Libération. De plus, il lui faut apprendre à gérer les dons et cadeaux. Toutes ces préoccupations finiront par lui faire oublier le vœu solennel de départ lors de son ordination. C'est ainsi que, inconsciemment, le moine au départ si résolument engagé à suivre la bonne voie est devenu à la longue malgré lui un moine à prières. C’est vraiment navrant! Pourtant Bouddha disait : "Même si la récitation des Sūtra est nombreuse, mais non suivie de pratique, elle n'apporte aucun bienfait au moine, tout comme le gardien de troupeaux engagé seulement pour surveiller les bêtes du propriétaire. En revanche, si le moine récite peu les Sūtra mais s’efforce, après les avoir bien assimilés, de mettre en pratique l'enseignement à travers ceux ci, cela lui permettra de maîtriser l'avidité, la colère et l’ignorance. Son esprit pacifié deviendra alors équanime et libéré de tout attachement au monde. Qu’il soit ici ou ailleurs, il pourra profiter des avantages d’un moine bouddhiste " [Dhammapada Sutta/Kinh Pháp Cú N°s 19, 20].
Un moine bouddhiste qui se contente de ces rituels de prières en guise d'activités bouddhiques quotidiennes, a involontairement projeté le bouddhisme dans un ciel nébuleux aux nuages flottants. Je suis persuadé que cela ne doit pas être ainsi. Le bouddhisme est une pratique réaliste et efficace dans la vie des humains. Le bouddhisme est une thérapie contre les souffrances humaines, une méthode d'enseigner aux êtres les moyens de progresser vers la sérénité et le bonheur. Aussi devrons-nous nous référer directement aux racines du bouddhisme et non pas nous attacher à ses branchages touffus. Nous espérons ainsi trouver des êtres compréhensifs qui partageront notre conviction.
VII. RECONNAÎTRE LES MERITES DES ANCIENS SANS ÊTRE INFÉODÉ AU MODÈLE ANCIEN
Raviver le bouddhisme Thiền Tông de la dynastie Trần nécessite un regard tourné vers le passé. En effet, du point de vue de la tradition, le présent ne saurait exister sans le passé. Puiser les richesses expérimentales des Anciens pour les appliquer dans la situation présente est très bénéfique. En revanche, obliger nos contemporains à se conformer strictement au modèle ancien s’avèrerait obsolète. Nous avons sélectionné de beaux préceptes du bouddhisme de la dynastie Trần et nous les présentons aux moines et moniales ainsi qu’à tous les bouddhistes laïcs contemporains afin qu'ils puissent choisir ceux qui soient profitables pour leur pratique. Nous ne voulons nullement imposer ce modèle ancien du bouddhisme aux pratiquants d'aujourd'hui. En effet, nous devons avoir une vue avisée, juste et compréhensive des préceptes des Anciens afin de recueillir les modèles de réussite appropriés à la situation actuelle, et savoir les utiliser à bon escient selon leur origine sociale.
CONCLUSION
Nous ravivons le bouddhisme Thiền Tông de la dynastie des Trần en vue de rehausser les valeurs de la pratique bouddhique de nos jours, tout en dissipant les méprises qui ont dévalorisé le bouddhisme. Par ailleurs, nous révélons sa valeur intrinsèque aux yeux de tous pour que chacun puisse en prendre conscience et l’appliquer à sa propre vie. Cette démarche a pour but d’accéder à la sérénité et au bonheur. Devant une telle méprise limitant le bouddhisme à un mysticisme vide de sens et l’enseignement de Bouddha à une pratique occulte, nous ne voulons qu’offrir au bouddhisme vietnamien sa valeur d’antan. Pour ce faire, notre travail consiste à raviver la flamme bouddhique afin que les responsables du bouddhisme vietnamien puissent choisir en toute transparence la voie la mieux adaptée à la situation actuelle du pays. Aussi n’aspirons-nous qu’à contribuer modestement à l’édification de la Maison Bouddhique Vietnamienne, ne serait-ce qu’en y apportant une brique ou un simple caillou.
FIN
TẠI SAO TÔI CHỦ TRƯƠNG KHÔI PHỤC PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN ? - Thiền Thất Thường Lạc
- Chi tiết
- Được đăng ngày Thứ bảy, 30 Tháng sáu 2012 08:28
- Viết bởi chanhdao
TẠI SAO TÔI CHỦ TRƯƠNG KHÔI PHỤC PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN ?
Trích từ tập BA VẤN ĐỀ TRỌNG ĐẠI TRONG ĐỜI TU CỦA TÔI
HT Thiền sư THÍCH THANH TỪ [Bản dịch]
Chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam đã ngót mười tám thế kỷ, từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ hai mươi, trong thời gian này trải qua lắm lần thăng trầm. Ngày nay là con cháu trong nhà, chúng ta phải chọn một chặng nào thích ứng với hoàn cảnh hiện tại làm sáng tỏ lên cho hàng Tăng, Ni và Phật tử Việt Nam noi dấu, đó là một trọng trách rất nặng. Tinh thần khế lý khế cơ của Phật giáo giúp Tăng sĩ chúng ta dễ thấy lối đi, dễ nhận ra chặng đường nào thích hợp để ứng xử nhịp nhàng với xã hội đương thời.
Chúng tôi tự đặt cho mình trọng trách phải gánh vác việc này. Vì vậy qua nhiều năm ưu tư tôi khẳng định lấy Phật giáo đời Trần làm cái móc để xây dựng Phật giáo Việt Nam hiện thời. Đã quyết định, chúng tôi phải có lý do.
I- NĂNG CAO GIÁ TRỊ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1.1 Thời Suy Đồi Của Phật Giáo Việt Nam
Từ giữa thế kỷ mười chín đến giữa thế kỷ hai mươi là thời kỳ suy đồi của Phật giáo Việt Nam, có thể đoạn này là cái móc đen tối nhất. Sự suy đồi này cũng có lý do của nó, ngót một thế kỷ Pháp xâm chiếm và đặt ách cai trị nước ta. Kẻ cai trị không cho phép một đoàn thể, một tôn giáo nào có tinh thần dân tộc được vững mạnh. Thấy Phật giáo gắng liền với dân tộc Việt Nam, chúng dùng đủ cách hạn chế, hạ uy tín, cuối cùng triệt tiêu. Vì vậy, thời gian này các vị đạo cao đức trọng dần dần mai một mà không đào tạo được những người kế thừa. Chùa chiền không còn người tài đức giáo hóa duy trì, những kẻ “Ẩn dương nương Phật” hoặc “Núp bóng từ bi” làm kế sống từ từ xuất hiện. Ta hãy nghe câu ca dao này thì thấy rõ:
Yên thân làm sãi ở chùa,
Tụng kinh niệm Phật oản thừa sãi xơi.
Bụt lành đừng hạ xuống chơi,
Chùa không có Bụt, sãi thời cũng đi.
Đã không quyết tâm tu hành mà ở chùa, những kẻ này còn điều dở nào mà chẳng dám làm, thời nhân thấy những tệ hại này mỉa mai châm biếm.
Đi tu Phật bắt ăn chay,
Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.
Ngôi chùa biến thành gia đình cho những kẻ “Núp bóng từ bi” làm kế sống. Thế nhân bực bội phải thốt ra những lời:
Vợ Sư sắm sửa cho Sư,
Áo đen tràng hạt, mỹ lư tày vành.
Để Sư sướng kiếp bành bành...
Thời gian này người tu ở chùa, đa số đều do thất chí vì thi rớt, thất tình vì bị người bạc đãi, già nua, bệnh hoạn... Vào chùa làm Tăng, Ni, cho nên những cuốn tiểu thuyết, những tuồng cải lương khi đề cập đến người tu đều liệt vào hạng người này. Mãi đến nay (1997) thấy người nam nữ trẻ tuổi đi tu, vẫn có những người bảo: “Cậu này, cô kia thất tình đi tu”. Người đời xem tu sĩ Phật giáo không ra gì thì làm sao họ biết quí trọng Phật pháp. Đây là vấn đề đau sót thôi thúc chúng tôi chủ trương khôi phục Phật giáo đời Trần.
1.2 Ông Vua Đi Tu
Ở Ấn Độ ông Hoàng Thái Tử xuất gia tìm đạo giải thoát cứu khổ chúng sanh. Ở Việt Nam một ông Vua xuất gia vào núi tu hành để cứu nhân độ thế. Vị Thái Tử không màng giàu sang danh vọng kể cả tương lai ngôi vị Hoàng đế, trốn đi tu tìm cho ra mối đạo giải thoát để cứu khổ chúng sanh. Đạo giải thoát này phải cao siêu tột đỉnh, Ngài mới vứt bỏ ngôi vị cao sang nhất đời.
Sau này ông Vua Trần Nhân Tông thấm nhuần được Phật pháp, đang ở ngôi vị bậc chí tôn của toàn dân mà chối bỏ giao lại cho con, xuất gia tu Phật. Phật giáo nếu không cao siêu, kỳ đặt thì làm sao lôi cuốn hấp dẫn được ông vua dám “xem ngai vàng như dép rách”, đổi chiếc áo ngự bào mặc áo nâu sòng làm người xuất gia vào núi tu hành.
Giá trị Phật giáo ở Ấn Độ thật siêu xuất, giá trị Phật giáo Việt Nam cũng phi thường, mới đủ sức thuyết phục một ông hoàng, một ông vua đi tu. Ở Việt Nam, đời Trần ông vua đi tu Phật, ông Trạng Nguyên đi tu Phật, chúng ta thử xét giá trị Phật giáo đời Trần cao siêu đến ngần nào. Phật pháp đã cao siêu, người tu cũng đáng kính cho nên Phật giáo rất thịnh hành trong thời này. Chúng tôi nhằm khôi phục Phật giáo đời Trần cốt nâng cao Phật giáo Việt nam hiện nay.
1.3 Ông Tổ Thiền Tông Người Việt Nam
Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ mười tám do Thiền tông lãnh đạo truyền bá. Các hệ phái Thiền tông hầu hết từ Trung Hoa truyền sang như: Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường..., những vị Tổ đứng đầu mỗi hệ phái đa phần người Trung Hoa, Ấn Độ. Chỉ có phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, ông Tổ đầu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà chính thực là người Việt Nam. Ông Tổ Việt Nam mới thông cảm tâm tư nguyện vọng phong tục tập quán của người Việt Nam, giáo hóa mới thích ứng nhu cầu người Phật tử Việt Nam.
II. KHÔNG CHỈ RIÊNG NGƯỜI XUẤT GIA MÀ CƯ SĨ CŨNG NGỘ ĐẠO
2.1 Vua Trần Thái Tông (1218-1277)
Đây là ông vua đầu nhà Trần. Bẩm tánh hâm mộ tu Phật, gặp duyên trắc trở đau buồn, ông liền trốn lên núi Yên Tử xin tu (1236). Thiền Sư Viên Chứng trụ trì chùa Hoa Yên, thấy ông liền hỏi:
“Lão tăng ở lâu nơi sơn dã, xương cứng mặt gầy, ăn rau đắng cắn hạt dẻ, uống nước suối dạo cảnh rừng, lòng như mây nổi theo gió đến đây. Bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ nghĩ đến nơi quê hèn rừng núi, chẳng hay bệ hạ mong cầu điều gì mà đến đây?”.
Vua đáp:
“Trẩm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước thịnh suy không thường, cho nên Trẩm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác”.
Viên Chứng bảo:
“Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng lẽ mà biết gọi là chân Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài”.
Thái sư Trần Thủ Độ dẫn quan quân đi tìm, đến núi Yên Tử gặp vua, ông quyết thỉnh vua về cho được. Vua hỏi ý sư Viên Chứng, Sư đáp:
“Phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng xao lãng”.
Vua đành phải trở về tiếp tục công việc trị dân. Hơn mười năm khi rảnh rỗi, vua mời các bậc kỳ đức đến hỏi đạo tham thiền. Vua thuật lại:
“Trẩm thường đọc kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, trong khoảng để quyển kinh xuống ngâm nga, bỗng nhiên tự ngộ. Liền đem sở ngộ này viết thành bài ca, để tên là Thiền Tông Chỉ Nam”. [Những đoạn dẫn trên đều trích trong bài tựa T.T.C.N].
Đang lúc ngự trên ngai vàng cai trị muôn dân, vua vẫn nghiên cứu Phật pháp và tham thiền được ngộ đạo. Đủ nói lên rằng, chỉ thiếu quyết tâm tu học, đừng đổ cho hoàn cảnh đa đoan bận rộn khó tu. Ai đa đoan bận rộn bằng ông vua đầy nhiệt tình lo cho đất nước, thế mà quyết tâm tu liền ngộ đạo. Đây là tấm gương sáng để chúng ta học tập theo.
Đến năm 1257 giặc Nguyên Mông xâm lăng đất ta, vua Thái Tông đích thân chỉ huy nhiều mặt trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ nức lòng chiến đấu. Kết quả quân ta đánh tan quân xâm lược, giặc Nguyên Mông tháo thân chạy về Vân Nam đầu năm 1258. Một ông vua Thiền sư hết lòng mộ đạo, đã từng làm kệ khuyên người đừng sát sanh:
Cánh lông mai vảy trọn hàm linh,
Sợ chết tham sanh nào khác tình.
Từ trước Thánh hiền lòng chẳng nỡ,
Đâu đành để chết vẫn tham sinh.
Tại sao ông lại cầm quân đánh giặc giết hại biết bao sanh mạng, chắc phải có lý do.
Sau khi nhường ngôi cho con, ông lui về lập Am Thái Vi ở vùng rừng núi Vĩ Lâm, cố đô Hoa Lư để an dân lập ấp và lo tu hành, cùng khuyên dạy dân chúng tu. Khuyên người dân giữ năm giới, ông nói kệ về giới thứ ba:
Má thoảng hương mai, mặt nhụy đào,
Thấy rồi mắt dán, ý nao nao.
Thảy đều một đãy da hôi thúi,
Thầm cắt ruột người chẳng dụng dao.
Ông luôn đem bốn tướng sanh, già, bệnh, chết nhắc nhở mọi người. Bốn tướng này trong kinh gọi là Bốn núi. Ông nói kệ núi thứ hai:
Con người kiếp sống tợ phù du,
Thọ yểu người trời chớ vọng cầu.
Bóng ngã nương dâu, chiều sắp đến,
Thân như bồ liễu tạm qua thu.
Phan Lang thuở nọ còn xanh tóc,
Lã Vọng ngày nay đã bạc đầu.
Cuồn cuộn việc đời trôi chẳng đoái,
Vầng ô gác núi, nước trôi xuôi.
Nhận Định Về Vua Trần Thái Tông
Đem vua Trần Thái Tông so sánh với vua Lương Võ Đế ở Trung Hoa, chúng ta thấy có những nét đặc thù. Vua Lương Võ Đế (464-549) là con người rất sùng Phật, ông từng giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã và sớ giải các kinh... Song khi Tổ Đạt Ma sang Trung Hoa năm 520 gặp vua, Tổ nói thiền, vua không lãnh hội, Tổ lên miền bắc ở tại chùa Thiếu Lâm. Đến cuối đời vua Lương Võ Đế bị giặc Hầu Cảnh kéo quân vây hãm thành Kiến Khang, quần thần xin xuất quân chống giặc, vua không cho, lại ra lệnh bế cửa thành, tụng kinh cầu nguyện cho giặc lui. Kết quả giặc chẳng lui, mà ông bị mất nước và phải chết.
Trái lại, vua Trần Thái Tông là người ngộ được Thiền Tông, khi giặc Nguyên Mông xâm lăng vua chỉ huy cầm quân đánh giặc, giặc thua rút lui về, đất nước thái bình, vua mới ngồi yên tu thiền.
Hai thái độ của hai ông vua đồng là kính mộ đạo Phật, mà xử sự mỗi bên mỗi khác. Vua Võ Đế bị giặc hảm thành không cho quân chống cự, lại ra lệnh trong thành tụng kinh cầu nguyện cho giặc lui. Đây là đem tôn giáo áp đặt trên chánh trị nên phải mắc họa. Vua Thái Tông tách bạch phân minh phần nào thuộc tôn giáo, phần nào thuộc chánh trị, nên cứu được đất nước khỏi lâm nguy. Tu theo Phật giáo là trau giồi đạo đức rèn luyện tâm linh là việc riêng của mỗi người Phật tử, tức là lãnh vực của tôn giáo. Giặc ngoại bang xâm lăng tổ quốc, toàn dân đứng lên chống giặc, người lãnh đạo cổ động lòng yêu nước của dân và đứng ra chỉ huy đánh giặc là lãnh vực chánh trị. Phân ranh lãnh vực tôn giáo, lãnh vực chánh trị là vấn đề rất thiết yếu. Người Phật tử thọ tam quy trì ngũ giới, nếu phạm giới sát sanh là có tội, đó là phần tu hành riêng của Phật tử, thuộc lãnh vực tôn giáo. Đất nước bị xâm lăng, toàn dân đứng lên chống giặc là trách nhiệm của mỗi công dân, thuộc lãnh vực chánh trị. Dù trong cuộc chiến có nhiều Phật tử giết nhiều sinh mạng kẻ thù, không thể đem tội sát sanh đặt vào chỗ này được.
Vua Trần Thái Tông là một ông vua ham tu ngộ đạo mà trọn đời lo bảo vệ đất nước và xây dựng đất nước. Khi nước nhà bị địch họa, nhà vua liều mình cứu nước, lúc đất nước thái bình tuy tuổi già vẫn dạy dân khai hoang lập ấp và chỉ dạy họ tu hành trau dồi đạo đức. Nhà vua không những lo cho dân được cơm no áo ấm, còn lo cho dân có đức hạnh và biết gạn lọc tâm linh. Một con người được hai phần vật chất và tinh thần ngang bằng nhau thì cuộc sống mới thật sự an vui hạnh phúc. Nhà vua sử dụng Phật giáo trong cuộc sống rất là tích cực.
Nhà vua là một người Phật tử thuần thành thâm hiểu Phật pháp rất uyên bác mà chỉ đem Phật giáo áp dụng trong đời sống nhân dân bằng những pháp dạy dân giữ gìn năm giới để đem lại an ninh trật tự cho xã hội, dạy dân tu lý nhân quả để dân biết tránh ác làm lành, dạy dân mở rộng lòng từ bi để giúp người neo đơn cùng khổ và bao dung đoàn kết với mọi người. Song muốn bảo vệ chế độ quân chủ, ông phải dùng Khổng giáo để cai trị đất nước, dùng luật pháp răn đe và trừng trị tội phạm. Cụ thể là năm Thiên Ứng Chính Bình thứ nhất (1238) nhà vua cho mở khoa thi Thái học sinh, từ đây cứ bảy năm thi một lần. Đến năm Thiên Ứng Chính Bình thứ mười sáu (1253) mở khoa thi Tam khôi -Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa... Chính nhờ nhận định khách quan của nhà vua, nên dùng mỗi tôn giáo đúng vị trí của nó, nhà nước được thái bình thạnh trị lâu dài.
2.2 Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1279)
Tướng quân Trần Tung, con Trần Liễu đã hai phen cầm quân đánh giặc Nguyên Mông. Sau khi giặc tan nước nhà thái bình, ông lui về ở phong ấp Tịnh Bang đổi tên làng Vạn Niên. Ông học thiền và ngộ đạo với Thiền sư Tiêu Dao ở Tịnh xá Phước Đường. Vua Thánh Tông quí kính ông nên tặng hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ và gởi Thái Tử Trần Khâm đến học thiền với ông. Trong quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, vua Trần Nhân Tông tán thán: “Ôi tinh thần sắc vận của Thượng Sĩ thật trang nghiêm, cử chỉ thẳng thắn uy đức, Thượng Sĩ bàn huyền nói diệu trong lúc gió mát trăng thanh. Những hàng thạc đức đương thời đều bảo Thượng Sĩ tin sâu hiểu rõ, thuận hạnh nghịch hạnh thật khó lường được”. Chẳng những cư sĩ đến học thiền bởi Thượng Sĩ mà Tăng Sĩ cũng đến tham vấn. Con người của Thượng Sĩ thật tiêu dao phóng khoáng, đọc tác phẩm “Vui Thú Giang Hồ” của Thượng Sĩ Thấy rõ.
Tâm xưa hồ hải chửa từng khuây,
Ngày tháng như tên lại tợ thoi.
Gió mát trăng thanh sinh kế đủ,
Non xanh nước biếc nếp sống đầy.
Sáng sớm giương buồm băng nước thẳm,
Chiều nâng sáo thổi cợt gió mây.
Tạ Tam nay đã không tin tức,
Để chiếc thuyền trơ bãi cát này.
Cuộc sống của Thượng Sĩ đơn giản đạm bạc, không màng danh lợi, nội tâm lúc nào cũng sung mãn an vui. Đọc bài thơ "Tự tại" sẽ thấy:
Bìm chuột không nhơn mãi mãi xâm.
Lui về, già gởi chốn sơn lâm.
Nhà tranh cửa gỗ đời thanh thoát.
Không đúng không sai tự tại tâm.
Khi quốc gia hữu sự Thượng Sĩ xông pha trận mạc cứu nước cứu dân, lúc nước nhà thái bình Thượng Sĩ sống thong dong tự tại trong đạo lý thiền, ai cần thì giúp, không cần thì vui thú nơi hải hồ, thảnh thơi chốn sơn dã. Đời của Thượng Sĩ thật đẹp như bức tranh thủy mặc.
2.3 Vua Trần Thánh Tông (1240-1290)
Vua là con của Thái Tông lên ngôi năm Mậu ngọ (1258) đổi niên hiệu là Thiệu Long, vua học thiền với Quốc Sư Đại Đăng. Một hôm đọc Ngữ Lục của Thiền Sư Đại Huệ. Vua cảm ngộ làm kệ:
Đập ngói dùi rùa ba chục niên,
Mấy phen xuất hạn bởi tham thiền.
Một phen thấu vỡ gương mặt thật,
Lỗ mũi xưa nay mất một bên.
Vua Thánh Tông nói về thiền: “Dụng của chân tâm tỉnh tỉnh lặng lặng, không đi không đến, không thêm không bớt, vào lớn vào nhỏ, mặc thuận mặc nghịch, động như mây hạt, tĩnh như tường vách, nhẹ như sợi lông, nặng như tảng đá, sạch trọi trơn bày lồ lộ chẳng thể đo lường, hoàn toàn không dấu vết, ngày nay vì anh biện biệt rành rẽ rõ ràng”. (Trích Thánh Đăng Lục).
Qua đây chúng ta thấy vua Thánh Tông thấu suốt lý thiền, trong lúc còn đang làm hoàng đế. Nhà vua không tìm nơi non cao rừng vắng, mà ngự tại triều đình để tu vẫn được ngộ đạo. Đúng như lời Thiền sư Viên Chứng nói “Phật tại tâm mình”, nếu người biết xoay lại tâm mình thì có ngày ngộ đạo. Quả là tu thiền không trở ngại mọi công tác ở thế gian, có ai mà không tu được. Đây là một bằng chứng thiền học đời Trần rất tích cực.
III. CHỦ TRƯƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
3.1 Sơ Tổ Trúc Lâm (1258-1308)
Ngài là con vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng Thái Hậu, tên là Trần Khâm. Khi lớn lên vua cha cho Ngài theo học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Một hôm Ngài hỏi Thượng Sĩ về “Bổn phận tông chỉ thiền”, Thượng sĩ đáp: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc [Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, không từ bên ngoài mà được]”. Nghe qua, Ngài thông suốt được lối vào và thờ Thượng sĩ làm thầy.
Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng đế (1279), hiệu là Trần Nhân Tông. Quân Nguyên Mông xâm lăng nước ta, Ngài phải cầm quân đánh đuổi giặc đến hai lượt (1285 và 1288), giặc rút lui đất nước thái bình. Đến năm Quí Tỵ (1293) Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Năm Kỷ Hợi (1299) Ngài vào núi Yên Tử xuất gia tu hành lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà và làm Sơ Tổ phái Trúc Lâm Yên Tử. Do chỗ sở ngộ ban đầu của Ngài, nên lấy câu “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, làm kim chỉ nam cho phái thiền Trúc Lâm Yên Tử.
3.2 Câu Phản Quan Tự Kỷ Bổn Phận Sự, Bất Tùng Tha Đắc”, Nhìn Xuyên Suốt Từ Đời Tu Của Đức Phật Qua Giáo Lý, Đến Các Pháp Thiền.
3.2.1 Đời tu của đức Phật hoàn toàn soi sáng lại nội tâm của mình
Suốt bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ Đề, Ngài quán chiếu nội tâm được giác ngộ thành Phật. Đức Phật là cội nguồn của Đạo Phật, do quán chiếu nội tâm mình được chứng đạo, nên nói “Phản quang tự kỷ bổn phận sự”. Trọn đời tu Ngài không cầu xin trông cậy cái gì khác bên ngoài, nên nói “Bất tùng tha đắc”.
3.2.2 Giáo Lý Phật Dạy
Bốn bộ Kinh A Hàm, sáu trăm quyển Kinh Bát Nhã, Kinh Pháp Hoa... cũng không ngoài lối tu “Phản quan” này. Kinh A Hàm lấy pháp Tứ Đế làm căn bản, mà Ba mươi bảy phẩm trợ đạo không phần nào chẳng quán chiếu lại mình. Kinh Bát Nhã lấy Bát Nhã Tâm Kinh làm trọng tâm, mà “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” là nền tảng tu hành. Kinh Pháp Hoa mục đích nhận ra Tri Kiến Phật của mình, hình ảnh chàng cùng tử trở về tìm cha là ý nghĩa “Phản quan tự kỷ”.
3.2.3 Các Pháp Thiền Đều Tu “Phản Quan Tự Kỷ”
a) Thiền Nguyên Thủy hiện nay hoặc tu thiền Tứ niệm xứ, hoặc tu thiền Minh sát tuệ.
Pháp thiền Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, đều là soi sáng lại chính mình.
Pháp thiền Minh sát tuệ thì trước dùng hơi thở, biết rõ hơi thở ra vào dài ngắn, lạnh ấm... Nhờ nương hơi thở tâm được định. Kế dùng trí tuệ quán sát thân tâm là vô thường, khổ, không, vô ngã biết đúng như thật. Theo dõi hơi thở và quán sát thân tâm vô thường... đều là “Phản quan tự kỷ”.
b) Thiền Đại thừa quán chiếu theo Kinh Bát Nhã, hoặc “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” của Bát Nhã Tâm Kinh, hoặc quán “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quán” của Kinh Kim Cang Bát Nhã. Cả hai lối quán này đều là “Phản quan tự kỷ”. Cho đến pháp “Tam Quán” của Thiền sư Huệ Văn do đọc Trung Quán Luận ngộ được. Sư đem pháp này dạy cho đệ tử là Thiền sư Huệ Tư (515-577) thành lập phái thiền Đại Thừa “Tam Quán”. Pháp quán này y cứ bài kệ trong Luận Trung Quán là: “Nhân duyên sở sanh pháp, Ngã thuyết tức thị không, Diệc danh vi Giả danh, Diệc danh Trung Đạo nghĩa”, lập thành ba pháp quán: Không quán, Giả quán, Trung Đạo quán. Trong ba pháp này, cũng là “Phản quan tự kỷ”.
c) Thiền tông hẳn căn cứ vào “Phản quan tự kỷ”. Cội gốc Thiền tông là “Phản quan tự kỷ”. Câu “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” là châm ngôn của Thiền tông do Tổ Đạt Ma tuyên bố. Không phản quan làm sao kiến tánh, không kiến tánh thì đâu được thành Phật. Bởi Thiền tông chủ trương Phật tức tâm, ngoài tâm không có Phật.
3.2.4 Tại sao phải phản quan tự kỷ ?
Người tu Phật phải biết đúng như thật nơi thân tâm mình. Chúng sanh mê lầm nên mọi sinh hoạt đều để phục vụ cho mình, mà sự thật không biết mình là gì. Do mê lầm sanh ra kiến chấp sai lạc tạo không biết bao nhiêu tội lỗi, làm khổ mình và làm khổ mọi người. Soi sáng lại thân tâm mình thấy đúng như thật thì mọi kiến chấp đều phá vỡ đem lại sự an lạc cho mình và mọi người.
Soi sáng thân tâm mình chia làm hai phần:
a) Thấy rõ thân tâm vô thường
Trong bài văn Trữ Từ Tự Răn, Thượng sĩ nói:
Ngày tháng nước chảy, giàu sang mây trôi.
Gió lửa tan rồi, trẻ già thành bụi.
Hồn phách lìa sắc thân như mộng,
Cuộc mưu sinh, con rối kéo lôi,
Hằng ngày đùa, đưa tay bắt bóng...
Trong mộng tạo tác, thức rồi đều không,
Trong mộng tạo, sanh thô sanh tế,
Tỉnh giấc rồi, không mảy tóc kẽ tơ...
Đến Tổ Trúc Lâm, trong bài Sơn Phòng Mạn Hứng cũng nói:
Phải quấy niệm rơi theo hoa rụng,
Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm.
Mưa tạnh, hoa trơ, non vắng lặng,
Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.
Thân tứ đại hòa hợp, tâm danh lợi phải quấy đều vô thường hư dối, người tu thấy rõ như vậy là thức tỉnh giác ngộ. Thế nhân lúc nào cũng thấy thân vật chất là thật, tâm nghĩ phải quấy danh lợi là thật, nên mê muội khổ đau. Soi sáng thân tâm thấy đúng như thật là điều kiện tối thiết yếu trên đường tu.
b) Nhận ngay nơi thân vô thường có cái chân thường
Bài Phật Tâm Ca của Thượng sĩ có đoạn nói:
... Muốn tìm tâm, đừng tìm ngoài,
Bản thể như nhiên tự rỗng lặng.
Niết bàn sanh tử buộc ràng suông,
Phiền não bồ đề đối địch rỗng.
Tâm tức Phật, Phật tức tâm,
Diệu chỉ sáng ngời suốt cổ kim.
Xuân đến, tự nhiên hoa xuân nở,
Thu về, hiện rõ nước thu sâu...
Lặng lặng lặng, chìm chìm chìm,
Cái tâm muôn pháp là tâm Phật.
Tâm Phật lại cùng tâm ta hợp,
Lẽ ấy như nhiên suốt cổ kim.
Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,
Trong lò lửa rực một hoa sen...
Tổ Trúc Lâm cũng nói:
Vậy mới hay! Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa.
Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,
Đến biết hay chỉnh Bụt là ta...
[Phú Cư Trần Lạc Đạo- Hội Thứ Năm.]
Qua hai đoạn dẫn trên, chúng ta thấy rõ Thượng sĩ và Tổ Trúc Lâm chỉ thẳng tâm mình tức là Phật. Song phải là tâm lặng lẽ hằng nhiên, chớ không phải tâm đối đãi sanh diệt. Trong thân tâm vô thường sanh diệt có tâm lặng lẽ hằng nhiên, như trong lò lửa cháy rực có hoa sen tươi thắm. Tại vì chúng ta quên tâm Phật của mình, chạy tìm Phật ở bên ngoài. Một khi chúng ta biết quay trở lại tâm mình thì sẽ thấy tâm mình tức là Phật.
IV. TINH THẦN BAO DUNG THIỀN ĐỜI TRẦN
4.1 Bao Dung Nội Giáo
Đời Trần tuy lấy Thiền tông làm chủ đạo truyền bá, song cũng có Tịnh độ đồng thời hoạt động. Tịnh độ có sự Tịnh độ và lý Tịnh độ.
Về sự Tịnh độ thì phải tin có cõi Cực Lạc ở phương Tây, đức Phật A Di Đà là giáo chủ cõi này. Nếu người chí thành niệm Phật và tha thiết cầu sanh về cõi Cực Lạc khi lâm chung được Phật A Di Đà đón về Cực Lạc.
Về lý Tịnh Độ là “Tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh độ” hay “Tâm tịnh thì độ tịnh”. Tức là tâm mình thanh tịnh là tịnh độ, tánh mình sáng suốt là Phật Di Đà. Tổ Trúc Lâm nói:
…Tịnh Độ là lòng trong sạch,
Chớ ngờ hỏi đến Tây Phương.
Di Đà là tánh sáng soi,
Mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc
[Phú Cư Trần Lạc Đạo -Hội Thứ Hai]
Thiền tông thừa nhận lý Tịnh Độ, không thừa nhận sự Tịnh Độ. Thiền sư Vô Ngôn Thông nghe Tổ Bá Trượng nói: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”, liền ngộ đạo. Đất tâm nếu không, là tâm tịnh độ tịnh. Tuệ nhật tự chiếu, là tự tánh Di Đà. Vì A Di Đà dịch nghĩa là Vô Lượng Quang, nhà thiền gọi là Tuệ nhật tự chiếu. Đứng về lý Tịnh Độ cùng Thiền tông cứu cánh không hai.
4.2 Tam Giáo Đồng Nguyên
Thuyết tam giáo đồng nguyên xuất phát từ đời Tống ở Trung Hoa, nhà Trần ở Việt Nam cũng chấp nhận thuyết này để dùng hòa Tam giáo. Tam giáo Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo (Đạo giáo). Người dân Việt Nam chịu ảnh hưởng Tam giáo rất sâu đậm. Nhà Trần muốn đoàn kết toàn dân, đứng về Phật giáo Thiền tông dung hợp Khổng giáo và Lão giáo. Chủ trương rằng Tam giáo về ứng dụng tu hành có khác nhau, song đó chỉ là hình thức phương tiện, đến cứu cánh đều gặp nhau, nên nói Đồng nguyên. Đây là tính bao dung khiêm tốn của Phật giáo Thiền tông, ai không biết vua quan thời này hầu hết đều tu theo Phật giáo.
V. PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN THỰC TẾ TÍCH CỰC
5.1 Thực Tế
Phật giáo đời Trần chủ trương “Tức Tâm tức Phật”. Tâm mê là chúng sanh, tâm giác là Phật. Phật chẳng ở đâu xa, ngay nơi tâm mình, khéo tu lóng lặng tâm mê thì tâm giác hiện bày. Tuệ Trung Thượng Sĩ làm bài Phật Tâm Ca, đoạn đầu nói:
Phật! Phật! Phật! Không thể thấy,
Tâm! Tâm! Tâm! Không thể nói.
Nếu khi tâm sanh là Phật sanh,
Nếu khi tâm diệt là Phật diệt.
Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu,
Diệt Phật còn tâm khi nào biết.
Muốn biết Phật tâm, sanh diệt tâm,
Đợi đến sau này Di Lặc quyết...
Phật là giác, rời tâm tìm giác làm gì có, ngay nơi tâm nhận ra Phật mới là Phật thật. Bỏ tâm tìm Phật là Phật của ai, không phải là Phật của mình. Tuy nhiên, nếu nhận tâm sanh diệt là Phật, đợi đến Phật Di Lặc ra đời cũng không giải quyết được.
Tổ Trúc Lâm nói:
Biết vậy! Miễn được lòng rồi chẳng còn phép khác.
Gìn tánh sáng, tánh mới hầu an,
Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.
Dứt trừ nhân ngã thì ra tính thực Kim Cương.
Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác...
[Phú Cư Trần Lạc Đạo- Hội Thứ hai]
Kim Cương, Viên Giác là Phật thật của ta, muốn thấy Phật thật phải nén niềm vọng, trừ nhân ngã, dứt tham sân si. Bởi vọng niệm nên chấp nhân chấp ngã, khởi tham sân si, không thấy được Phật thật. Như mây che kín không thấy được mặt trăng sáng. Chuyển hóa tất cả tâm mê loạn, chỉ còn tâm thanh tịnh sáng ngời, tâm này là Phật. Sự tu như vậy rất thực tế, vì thấy rõ cái gì nên bỏ cái gì nên theo, nắm vững sự thành công và thất bại trong tay mình, không cầu mong trong đợi thế lực bên ngoài.
5.2 Tích Cực
Năm Giáp Thìn (1304), Tổ Trúc Lâm đi dạo trong nhân gian, khuyên dân chúng giữ ngũ giới và tu Thập thiện. Đây là tích cực đem Phật giáo vào nhân gian, trước xây dựng con người, cá nhân tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì quốc gia tốt. Vì bảo vệ sanh mạng con người, khuyên giữ giới không sát sanh, bảo vệ tài sản của người, khuyên giữ giới không trộm cướp, bảo vệ hạnh phúc gia đình, khuyên giữ giới không tà dâm, bảo vệ uy tín và giá trị con người, khuyên giữ giới không nói dối, bảo vệ sức khỏe, trí tuệ và trật tự xã hội, khuyên giữ giới không uống rượu. Hiện nay thêm hút á phiện xì ke, ma túy. Người dân trong nước đều giữ được năm giới thì đất nước thật sự thái bình, dân chúng vui vẻ hát ca, không còn gì phải lo sợ. Tiến lên, Ngài khuyên tu Thập thiện, tức là thân không sát sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng không nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt; ý bớt nóng giận, tham lam và si mê. Người thân miệng ý khéo tu mười điều lành sẽ trở thành bậc hiền nhân. Người Phật tử khéo tu Ngũ giới và Thập Thiện là đóng góp một phần cho quốc gia xã hội được tốt đẹp an vui. Được vậy, đạo Phật mới thật sự chuyển cảnh khổ thành cảnh vui, chuyển con người phàm tục thành con người thánh thiện.
VI. ĐƯỜNG LỐI TU CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY
Là tu sĩ Phật giáo Việt Nam, nếu bị người hỏi: “Hiện nay thầy tu theo tông phái nào của Phật giáo?”. Chắc chắn tu sĩ này sẽ ngẩn ngơ không biết đáp thế nào. Tại sao vậy?
6.1 Lấy “Nhị Thời Khóa Tụng” Làm Công Phu Tu Hành
Chùa chiền Việt Nam hơn một thế kỷ này đều lấy hai thời khóa tụng làm công phu tu tập. Trong hai thời, đầu hôm tụng kinh Di Đà, sau tụng chú Vãng Sanh, tiếp niệm danh hiệu Phật A Di Đà; buổi khuya tụng chú Lăng Nghiêm, hoặc Đại Bi Thập Chú.... Nếu hôm nào có đám cầu an cầu siêu thì tụng chú Đại Bi trước, tụng kinh sau. Công phu tu hành như vậy, biết thuộc tông phái nào. Thế mà đa số nói tu theo Tịnh Độ. Tụng kinh Di Đà và niệm danh hiệu Phật A Di Đà thuộc về Tịnh Độ tông, tụng chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm thuộc Mật tông. Nhận xét chín chắn thì hai thời khóa tụng Mật tông chiếm ưu thế.
Hai thời khóa tụng xuất xứ từ đâu? Căn cứ lời tựa quyển Nhị Khóa Hiệp Giải thì xuất xứ từ đời nhà Thanh ở Trung Quốc. Vua Thánh Tổ nhà Thanh hiệu Khang Hy (1662-1772) ra sắc lệnh mời Hòa Thượng Ngọc Lâm Thông Tú (1614-1675) cùng một số Hòa Thượng hợp tác soạn “Nhị Thời Khóa Tụng”, buộc Tăng, Ni các chùa ở Trung Quốc trong thời này phải ứng dụng tu theo. Nhà Thanh thuộc dân tộc Mãn Châu ở miền Bắc Trung Quốc, gần dãy núi Hy Mã Lạp Sơn chịu ảnh hưởng Phật giáo Tây Tạng chuyên tu Mật tông. Nhà vua buộc các Hòa Thượng soạn “Nhị Thời Khóa Tụng” đặt nặng Mật tông hơn. Tuy Nhị Thời Khóa Tụng là chủ trương Tịnh, Mật đồng hành, song nghiên hẳn về Mật.
Nhị Thời Khóa Tụng ra đời khoảng cuối thế kỷ mười bảy đầu thế kỷ mười tám là thời kỳ Phật giáo Trung Hoa đang xuống dốc. Không biết Nhị Thời Khóa Tụng du nhập vào Việt Nam lúc nào, chỉ biết từ cuối thế kỷ mười chín đến cuối thế kỷ hai mươi, hầu hết các chùa Việt Nam đều lấy hai thời này làm công khóa tu hành. Ai vào chùa tu đều bị bắt buộc phải thuộc hai thời khóa tụng gọi là hai thời công phu, nên có câu “Đi lính sợ trèo ải, ở sãi sợ Lăng Nghiêm”. Thậm chí đến nay (1997) những tu sĩ Phật giáo đến Đàn giới xin thọ giới Sa Di, ban giám khảo đàn giới vẫn khảo hạch xem thuộc chú Lăng Nghiêm không.
Tịnh và Mật là hai pháp tu trông cậy vào tha lực, niệm Phật được Phật A Di Đà đón về Cực Lạc, trì chú được Long Thiên, Hộ Pháp hay Thần Kim Cương gia hộ cho tiêu nghiệp… Thích hợp với thời điểm đất nước Việt Nam bị xâm lăng cuối cùng nội thuộc nước Pháp. Từ đây người dân thuộc địa mất hết lòng tự tín, mẩu quốc Việt Nam ở trời Tây. Vì thế, chư tôn đức trong Phật giáo Việt Nam chấp nhận “Nhị Thời Khóa Tụng” làm nền tảng tu hành cho ứng hợp với hoàn cảnh đương thời, thế là hợp lý.
Song ngày nay đã khác, nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, người Việt Nam là dân tộc anh hùng, lòng tự tín đã dâng cao. Thế mà, Phật giáo Việt Nam vẫn giữ lối tu theo lề lối cũ, có thích hợp với lòng tự tín của toàn dân, có nhịp nhàng tiến kịp tinh thần vươn lên của đất nước chăng? Đây là chỗ nhiều năm trăn trở nhức nhối của chúng tôi.
Pháp tu Tịnh độ đòi hỏi phải đủ ba điều kiện: Tín, Hạnh, Nguyện. Tín là tin có cõi Cực Lạc ở phương Tây, có Phật A Di Đà đang giáo hóa nơi ấy, nếu ai niệm danh hiệu Ngài khi lâm chung sẽ được Ngài đón về Cực Lạc. Hạnh là thực hành pháp trì danh niệm Phật. Nguyện là phát nguyện sau khi chết được vãng sanh về cõi Cực Lạc. Nguyện này muốn được thành tựu phải đủ hai điều: Hân và Yểm. Hân là ưa thích cõi Cực Lạc. Yểm là chán ngán cõi Ta Bà. Cõi Cực Lạc là vui, cõi Ta Bà là khổ, chán ngán cõi khổ, cầu sanh về cõi vui, là tinh thần thiết yếu của pháp tu Tịnh Độ. Khi nước ta vận động toàn dân xây dựng đất nước giàu mạnh, mà người tu Phật chúng ta chán ngán cõi này là đau khổ thì còn tinh thần đâu xây dựng đất nước. Phải chăng Phật giáo Việt Nam không ứng dụng yếu lý “Khế cơ” cho thích hợp hoàn cảnh hiện thời.
Chúng tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần, cốt yếu sử dụng tinh thần “Khế cơ” của đạo Phật, hướng dẫn người Phật tử tu hành nhịp nhàng theo bước tiến của xã hội. Câu “Tức tâm tức Phật” trong Thiền tông là đem lại sức tự tín mãnh liệt cho người Phật tử. Có tự tín, chúng ta mới có sức mạnh vươn lên, có tự tín chúng ta mới khẳng định sự thành công trong công tác của mình. Đồng thời nhận rõ Giác ngộ và Niết bàn ngay nơi thế gian này. Ta nghe Lục Tổ Huệ Năng nói:
...Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác.
Ly thế mích Bồ Đề,
Kháp như cầu thố giác...
[Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm thứ hai Bát Nhã]
Phật pháp ngay trong thế gian này, không thể rời thế gian tìm được sự giác ngộ. Nếu rời thế gian tìm giác ngộ, giống như tìm sừng con thỏ. Đức Phật giác ngộ tại cội Bồ Đề trong thế gian này. Các bậc A La Hán giác ngộ nguyên nhân và kết quả sanh tử, và giải thoát sanh tử cũng trong cõi thế gian này... Duyên Giác giác ngộ “Lý nhân duyên sinh” cũng trong thế gian này… Tại sao chúng ta không ngay đây mà tu, lại cầu mong đến nơi nào cho xa xôi? Đây là thực tế và sức mạnh của Thiền tông, tổ tiên chúng ta đã ứng dụng tu hành.
6.2 Vô Tình Thầy Tu Trở Thành Thầy Tụng
Người chân chính xuất gia tu hành, buổi đầu ai cũng quyết tâm cầu giác ngộ giải thoát. Song ở chùa thời gian lâu sự quyết tâm ấy phai nhạt từ từ. Vì vào chùa phải học thuộc lòng kinh để tụng, khi tụng phải rành chuông mõ, phải tập tụng âm thanh cho hay, còn phải học tán, học đẩu... Khi tụng kinh rành rồi phải đi cúng đám cho Phật tử, chùa ít Phật tử còn đở, chùa đông Phật tử thì đi đám liên tục, còn thời giờ đâu nghĩ đến giác ngộ giải thoát. Cộng thêm Phật tử cúng kính tiền bạc vật dụng nhiều, phải lo gìn giữ tiêu phí, còn nhớ đâu bản hoài lúc sơ phát tâm. Thế là từ thầy tu phát tâm chân chánh, lâu dần biến thành thầy tụng thầy cúng, thật rất đau lòng! Phật dạy:
“Dù tụng nhiều kinh mà buông lung không thực hành thì chẳng hưởng được phần lợi ích của Sa Môn, khác nào kẻ chăn bò thuê lo đếm bò cho người.
Tuy tụng ít kinh mà thường y giáo hành trì, hiểu biết chân chánh, từ bỏ tham, sân, si, tâm hiền lành thanh tịnh, giải thoát, xa bỏ thế tục, thì dù ở cõi này hay cõi khác, người kia vẫn hưởng ích lợi của Sa Môn”.
(Kinh Pháp Cú số 19, 20)
Tu sĩ Phật giáo mà chỉ lấy tụng cúng cầu nguyện làm Phật sự, là vô tình đã đưa Phật giáo lên lơ lửng trên hư không và tạo cho Phật giáo dáng vẻ mờ mờ ảo ảo không thể giải thích được. Tôi dám khẳng định rằng Phật giáo không phải thế, mà thực tế hữu hiệu trong cuộc sống hiện tại của con người. Phật giáo là những phương thuốc trị tâm bịnh của chúng sanh, là phương pháp dạy con người sống vươn lên và an vui hạnh phúc. Chúng ta phải nhìn thẳng cội gốc của Phật giáo, đừng vạch tìm cành lá chi li. Mong sẽ có những tri kỷ thông cảm điều này của chúng tôi.
VII. HỌC CÁI HAY CỦA NGƯỜI XƯA MÀ KHÔNG NỆ CỔ
Chúng tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần là cái nhìn trở lui về quá khứ. Đứng về mặt truyền thống không thể chỉ có ngày nay mà không có những ngày xưa. Lấy những kinh nghiệm hay của người xưa ứng dụng trong hoàn cảnh hiện nay thì hữu ích. Bắt người nay rập khuôn theo người xưa là nệ cổ lạc hậu. Chúng tôi chắt lọc những cái hay của Phật giáo đời Trần trình bày cho Tăng, Ni, Phật tử hiện nay xem thấy điều nào thích hợp áp dụng được thì áp dụng, không phải đem cái khuôn của Phật giáo đời Trần bắt buộc người thời nay rập theo. Chúng ta phải có cái nhìn chín chắn công bằng và thông cảm đối với hoàn cảnh của người xưa, lượm lặt những cái hay đưa đến thành công của người xưa, trên đường đạo cũng như đường đời, điều nào ứng dụng được hữu ích trong hoàn cảnh chúng ta hiện nay thì ứng dụng.
KẾT THÚC
Chủ trương khôi phục Thiền Tông đời Trần là cốt nâng cao giá trị người tu Phật hiện nay, dẹp tan những điều hiểu lầm đánh giá đạo Phật quá thấp. Đồng thời vạch ra những giá trị cố hữu của đạo Phật, khiến mọi người hiểu rõ, nếu cần đem ứng dụng vào cuộc sống thì thật sự được an vui hạnh phúc. Cảnh giác những hiện tượng sai lầm đưa đạo Phật vào chỗ huyền bí vô nghĩa, khiến chánh pháp phải lu mờ, trả Phật giáo trở về với giá trị bản hữu của nó. Việc làm của chúng tôi mang tính cách khơi sáng ngọn đèn Phật giáo Việt Nam để những người có trách nhiệm trong Phật giáo thấy rõ lối đi cho nhịp nhàng với hoàn cảnh hiện tại của đất nước. Chúng tôi không ước mong gì khác hơn là được đóng góp một hòn gạch, một viên đá để xây dựng lại ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.
POURQUOI AI-JE CHOISI LA PRATIQUE DE MEDITATION - Thiền Thất Thường Lạc
- Chi tiết
- Được đăng ngày Chủ Nhật, 10 Tháng sáu 2012 08:41
- Viết bởi chanhdao
POURQUOI AI-JE CHOISI LA PRATIQUE DE MEDITATION ?
Texte vietnamien du Maître thiền, Vénérable THÍCH THANH TỪ
Extrait du livre « Les Trois Questions Essentielles Dans Ma Vie De Moine »
Traduit par Diệu Anh [Source]
Revu par le Groupe Saddharma
Après mon entrée dans les ordres, j'ai étudié consciencieusement tous les Textes Anciens de l’enseignement de Bouddha, les Etudes et Commentaires des Patriarches ainsi que l'Historique de la vie du Bouddha. J'ai pu me rendre compte qu'après avoir quitté son palais et sa famille, le prince Siddhārtha partit à la recherche de la Vérité. C'est par la Méditation qu'il est parvenu à atteindre l'Eveil et à devenir Bouddha. Par ailleurs dans la plupart des Sūtra du Bouddha et des Śāstra des Patriarches, l'enseignement est principalement basé sur la Méditation. Je me demandais pour quelle raison mon Maître enseignant et mon propre Maître ne m'ont appris que la pratique de la "Terre Pure"/Tịnh Độ" ? Cette interrogation me poussa à réfléchir longuement. A mesure que mes études religieuses avançaient, j'ai mieux pénétré les paroles de Bouddha et des Patriarches, ce qui m'a permis d'apprécier les bienfaits de la pratique de méditation qui m'a finalement séduite. Tandis que la majorité des moines vietnamiens suivent la Voie de la "Terre Pure", pourquoi ai-je décidé de choisir pour moi-même la Voie de la Méditation ? Il y a en effet bien des raisons qui me poussaient à la suivre.
I. LES RAISONS JUSTIFICATIVES DE MON CHOIX
1.1 Bouddha lui-même
Après s'être enfui du palais pour la quête spirituelle, le prince Siddhārtha a eu comme premier maître Alāra Kālāma. Celui-ci lui enseignait les Quatre États de Méditation/Tứ Thiền, à savoir : la méditation primaire/Premier jhāna/Sơ Thiền, la méditation secondaire/Deuxième jhāna/ Nhị Thiền, la méditation tertiaire/Troisième jhāna/Tam Thiền et la méditation quaternaire/Quatrième jhāna/Tứ Thiền. Après un temps d’entraînement, le prince a acquis ces quatre degrés de méditation. Toutefois constatant que ce résultat ne correspondait pas exactement au but recherché, Il quitta son maître et s'en alla trouver un deuxième maître Uddaka Rāmaputta/Uất Đầu Lam Phất. Ce dernier lui enseigna la pratique de Concentration mentale sur les quatre sphères sans limite/Tứ vô biên xứ định, à savoir :
a/ Concentration sur la sphère du néant sans limite /Không vô biên xứ định / Ākāśanantyātana-Samādhi..
b/ Concentration sur la sphère de la conscience sans limite /Thức vô biên xứ định / Vijānanantya-yatana-Samādhi.
c/ Concentration sur la sphère de la non-existence /Vô sở hữu xứ định / Akincanyāyatana-Samādhi.
d/ Concentration sur la sphère de ni cognition et de ni non-cognition /Phi tưởng phi phi tưởng xứ định / Naisvasamjhāna Samjnāyatana- Samādhi.
Pendant un laps de temps, il s'est perfectionné jusqu'à acquérir le plus haut niveau du monde sans forme. Mais estimant que le résultat ne lui avait pas encore permis d'atteindre son but, il fit de nouveau ses adieux à son deuxième maître et s'en alla.
A la fin, c'est au pied de l'arbre Bodhi, après avoir médité pendant quarante neuf jours et nuits qu'il atteignit l'Eveil et devint Bouddha le quarante neuvième jour. Ce résultat tant espéré, il l’a obtenu par la pratique de la méditation, et ce depuis le début de sa quête jusqu'au moment de son Eveil. Ainsi le Maître suprême du bouddhisme a passé sa vie à pratiquer la Méditation. Il a enseigné de nombreuses méthodes de perfectionnement, mais la méditation reste la base de son enseignement. De nos jours, en pratiquant le bouddhisme tout en nous privant de la pratique de la méditation, allons-nous à l'encontre de la voie choisie par Bouddha ?
1.2 Les Moines éveillés/Thánh Tăng
Du temps du Bouddha étaient présents les Arahats/A La Hán ayant reçu l'enseignement direct de Bouddha. Ils ont effectué leur perfectionnement en méditation et ont acquis les quatre degrés des Auditeurs/Thinh Văn, à savoir le premier degré de Śrotāpanna /Tu đà Hoàn, le deuxième degré de Sakaḍāgāmin/ Tư đà Hàm, celui de Anāgāmin/Non Retour/A na Hàm et celui d'Arahat/Saint/A la Hán. Les disciples de Bouddha ont réussi aussi à parvenir à l’Eveil grâce à la méditation. Maintenant, nous désirons aussi progresser vers cette voie de l’Eveil, mais si nous refusons de pratiquer la méditation, comment pourrions-nous y parvenir ?
1.3 Les Patriarches
Depuis le Patriarche Kaśyapa/Ca Diếp au Patriarche Huệ Năng/Hui-Neng, il y a trente trois patriarches indiens et chinois qui ont atteint l'Eveil grâce à la méditation. En tant que patriarches se succédant, ils propageaient la méditation comme pratique de réalisation de l’Eveil. Même au Vietnam depuis le VIIè au XVIIIè siècle, les patriarches des trois régions du Nord, du Centre et du Sud ont tous pratiqué la méditation, puis transmis la méthode à leurs disciples et hérité ainsi successivement du rôle de Patriarche. A présent, pour nous, ce serait trahir leur mémoire que de vouloir renoncer à la pratique de la méditation.
J'ai pris la ferme décision de pratiquer la méditation avec un profond et fidèle respect à l'égard de Bouddha, des Moines éveillés et des Patriarches de l’Inde, de la Chine et du Vietnam qui m'ont donné cet exemple. Depuis plus de deux mille ans, ils ont sans interruption propagé la doctrine bouddhique en se basant sur la pratique de la méditation, comment pourrais-je ne pas suivre le même chemin pour me perfectionner et pour la propager à mon tour par la suite, moi qui débute dans la génération postérieure à la leur? Je suis intimement persuadé que le chemin sur lequel je me suis engagé actuellement est en accord avec l’enseignement de Bouddha et des anciens Patriarches. Cependant, sur le sol vietnamien, je me trouve isolé aussi bien dans la pratique de méditation que pour sa diffusion. Malgré tout, j'ai bon espoir que des personnes compréhensives viendront se joindre à moi afin de perpétuer ma tâche encore inachevée.
II. LE BUT
2.1 La raison incitant le Prince Siddhārtha à devenir moine.
Dès sa première occasion de prise de contact avec les différentes couches de la population, le prince Siddhārtha a pu se rendre compte de l'existence de la souffrance à travers la naissance, la vieillesse, la maladie et la mort des êtres humains. Il en eut le coeur serré. Tant de questions hypothétiques concernant les conditions humaines se bousculaient dans son esprit, des questions telles que "Qui étions-nous avant d'être ici bas ? Où irons-nous après la mort ? Que faire pour se libérer du cycle de renaissances et de morts ? Voilà les trois questions dominantes qui occupent totalement son esprit. Dorénavant, à force de tourner et retourner ces questions insolubles dans sa tête, plus rien n'a de valeur à ses yeux: grandeur, faste, palais doré et tour rose ne sont que désirs éhontés. L'inquiétude le gagne peu à peu. Il devient taciturne et délaisse la nourriture à tel point que ni la présence de sa belle épouse, ni celle de son adorable fils ne suffisent à dissiper son malaise. Ces trois problématiques l'oppressent et le chagrinent. Tant qu'elles ne sont pas résolues, Il ne trouvera pas la tranquillité. Enfin Il se décida de quitter le palais et de se faire moine, laissant derrière lui le roi son père, la reine mère, son épouse, son fils, son peuple et son trône. Il erra en solitaire dans la forêt à la recherche d'un maître capable de lui enseigner la bonne Voie. D'abord Alāra Kālāma, son premier maître lui enseigna les quatre degrés de méditations :
● Le premier degré ou Méditation primaire/Sơ Thiền lui permet de se détacher des Cinq désirs/Ngũ dục pour parvenir à la béatitude/Ly sanh hỷ lạc.
● Le deuxième degré ou Méditation secondaire /Nhị thiền dont la concentration du calme mental engendre la joie et la béatitude/Định sanh hỷ lạc.
● Le troisième degré ou Méditation tertiaire/Tam thiền amène l'abandon de la joie en procurant la béatitude sublime/Ly hỷ diệu lạc.
● Enfin le quatrième degré ou Méditation quaternaire/Xả niệm thanh tịnh évacue toutes pensées et perceptions. L’esprit sera donc en parfaite équanimité.
Après quelque temps de pratique, le prince est parvenu à acquérir ces quatre états de méditation. Mais se rendant compte que ces résultats ne répondent pas expressément à ces trois questions essentielles qui le tourmentaient depuis longtemps, Il se résigne à se séparer de son maître et à continuer sa quête. Avec son deuxième maître Uddaka Rāmaputta/Uất Đầu Lam Phất, Il apprend les quatre méthodes de la concentration mentale sur les Sphères sans limite/Tứ vô biên xứ định à savoir la concentration sur la sphère du néant sans limite/Không vô biên xứ định, la concentration sur la sphère de conscience sans limite/Thức vô biên xứ định, la concentration sur la sphère de non-existence/Vô sở hữu xứ định et la concentration sur le plus haut niveau de la sphère de ni cognition et de ni non-cognition/Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
Le prince a ainsi magistralement réussi à atteindre le niveau le plus élevé de ces quatre méthodes de concentration. Mais à bien y réfléchir, ces réussites n'ont pas élucidé ces trois questions énigmatiques qui pesaient lourdement sur son cœur. Il quitta de nouveau son maître à la recherche d'une réponse à ses questions. Découragé, Il pense que l'ascèse en est peut-être la solution. Alors il s'est mis à pratiquer l'ascétisme jusqu'à l’épuisement physique, et s'est rendu compte à la fin que la mortification n’a fait que détruire sa santé sans pour cela aboutir au résultat attendu. Dorénavant, Il abandonne l'ascétisme en réglant sa vie au rythme d'un repas par jour en faisant l'aumône et réserve le reste de son temps à la méditation. Arrivé au pied de l'arbre Bodhi, un endroit idéal propice à la méditation assise, il s'y installe pour méditer après avoir préparé un siège constitué de brins d'herbe desséchés. Puis prenant l'arbre Bodhi à témoin, Il fait le serment de ne jamais quitter cet endroit avant d'avoir réussi à atteindre l'Eveil, au risque d'y laisser ses os.
2.2 Le résultat
Au pied de l'arbre Bodhi, après quarante neuf jours de méditation nuit et jour, dans la nuit du 49è jour, Il acquiert d'abord le pouvoir surnaturel lui ravivant la mémoire des vies antérieures/Túc mạng minh. Cela signifie qu'Il se souvient parfaitement de ses existences antérieures, de ses précédents lieux de naissance, de ses parents, de ses précédentes professions, comme si c'est arrivé la veille. Ainsi il a résolu la première question : "Qui étions-nous avant cette existence ci ?". Un ensemble des Sūtra "Mes existences antérieures/Bổn sanh kinh" dans lesquels Bouddha a raconté ses vies antérieures est conservé actuellement dans les grandes Corbeilles Pali et Chinoise.
Ensuite, Il acquiert le pouvoir de la vue céleste/Thiên nhãn minh/Sanh tử trí/la vision de la métempsycose, c'est-à-dire qu'Il a la vision claire de la renaisssance des autres selon leur karma, comme si, d'en haut à l'étage, Il regarde leurs allées et venues au carrefour. En effet, selon le karma positif ou négatif de chacun, après sa mort, l'être humain renaîtra dans l'un des six mondes -enfer, monde des petas ou âmes errantes, monde des animaux, des humains, des génies ou asura et monde des divins. C'est ainsi que la deuxième question fondamentale est résolue : "Quel sera notre sort après la mort, ou bien où irons-nous après la mort?". Bouddha l'a expliqué clairement dans le Sūtra de "la voie karmique selon les dix actes méritoires/Kinh thập thiện nghiệp đạo."
Vers 3 heures, à l'apparition de l'étoile du matin, Il acquiert l’Illumination après avoir évacué les dernières impuretés qui souillaient son esprit/Lậu tận minh. A ce stade, Il a pénétré la cause première de la naissance-mort et l'origine de la cessation du cycle de mort-renaissance. Ainsi sa troisième question cruciale "Que faire pour échapper au cycle des renaissances?" est élucidée. Enfin le prince s'est débarrassé du fardeau, Il proclama sa joie : "J'ai atteint le parfait Eveil et deviens Bouddha".
Au Parc des Gazelles, pour la première fois, il aborda sa première prédication à l'attention des cinq frères du groupe Koṇḍaῆῆa/Kiều Trần Như. Il s'agit des "Quatre Nobles Vérités/Tứ đế" à travers lesquelles Bouddha indique clairement que les causes de la naissance et de la mort/Tập đế conduisant à la souffrance provoquée par la naissance, la vieillesse et la mort/Khổ đế, que la voie acheminant à la libération/Đạo đế est la cause ayant pour effet l'effondrement du cycle des renaissances et morts/Diệt đế. Ceci est la réalité, la vérité merveilleuse sans erreur possible nommée les "Quatre Nobles Vérités/Tứ diệu đế". Dès cet instant, le prince Siddhārtha a réalisé sa Voie et devient Śākyamuni Buddha.
III. LES DIFFERENTES METHODES DE PERFECTIONNEMENT
3.1 La Méditation Theravāda/Thiền Nguyên Thủy
Ce sont des méthodes méditatives enseignées par Bouddha dans l’Āgama sūtra/Kinh A hàm.
3.1.1 Le Sūtra des Quatre établissements de l’attention (Pháp Tứ niệm xứ ou Catvari-sṃṛṭiupasṭhānani, Satipaṭṭhāna sutta)
La pratique au cours de laquelle l’on concentre son attention sur quatre points à visualiser :
a) La concentration sur l'état d'impureté corporelle (Quán thân bất tịnh) :
La visualisation des impuretés appartenant au corps peut s'effectuer de deux façons :
▪ Examiner que le corps humain est un composé de trente six éléments impurs tels que cheveux, poils, dents, ongles, peau, muscles, nerfs, os, glaires, salive, sang, pus, sueur, urine... tous plus ou moins souillés et répugnants.
▪ Visualiser un cadavre dans différents stades de décomposition: de couleur bleu-verdâtre au début, peu à peu ce dernier devient boursouflé, craquelé et finalement décomposé en dégageant de la puanteur. Cette observation du corps dans le corps a pour but la guérison de l'attachement au corps physique.
b) La concentration sur les sensations (Quán thọ thị khổ) :
Revient à visualiser que toutes les sensations constituent la souffrance, quoique dans les Sūtras Bouddha ait dit qu'il existe trois sortes de sensations douloureuses, agréables et neutres, c'est-à-dire n'apportant ni souffrance ni plaisir… Comme toutes ces sensations sont impermanentes, elles sont souffrantes. Cette vision profonde permet de lutter contre l’attachement aux sensations.
c) La concentration sur la non-permanence de l’esprit (Quán tâm vô thường) :
Consiste à bien opérer la vision profonde sur les différents états de notre mental, positif ou négatif, en se rendant compte qu'ils sont éphémères, impermanents, et ne possèdent donc pas de nature propre. Etant donné que tous ces états de l’esprit sont en perpétuel mouvement de va et vient, tantôt présent tantôt absent, leur nature n'est certainement pas réelle. Il convient de ne pas nous y attacher. Cette vision pénétrante permet de se libérer de l'attachement aux états affectifs et émotionnels comme relevant du "moi".
d) La concentration sur le non-soi des phénomènes (Quán pháp vô ngã) :
Procède par la vision profonde de tous les dharma jusqu'à accepter l'évidence de l'Interdépendance conditionnée entre tout phénomène, qu'il s'agisse des Quatre éléments/Tứ đại, des Cinq agrégats/Ngũ uẩn, des Six organes des sens/Lục căn ou des Six objets de connaissance/Lục trần. Aucun élément n'a d'existence propre, d’où le Non-soi/vô ngã. Cette vision pénétrante vise à nous dissuader d'attribuer à chaque dharma une nature propre.
3.1.2 La Méditation sur les Cinq domaines de l’esprit /Pháp Ngũ đình tâm quán.
a) Vision profonde sur l'impureté du corps afin de refréner les désirs charnels.
b) Vision profonde sur la compassion comme antidote à la colère.
c) Vision profonde sur l’Interdépendance pour éviter l'illusion.
d) Vision profonde sur la non-dualité afin d’arrêter l’attachement à soi/Chấp ngã.
e) Vision profonde sur la respiration pour dissiper l’agitation mentale/Tâm tán loạn.
3.2 La Méditation Du Mahāyāna
Il s'agit des pratiques de méditation issues des Sūtra et des Commentaires/Kinh Luận) de la tradition Mahāyāna ou du Grand Véhicule.
3.2.1 Le principe des Trois types de Méditation/Pháp tam quán relevant du Sūtra de l’Eveil parfait et complet/Kinh Viên Giác
a) Samatha (Xa ma tha) ou concentration mentale en traduction chinoise, cela signifie méditation du Calme mental. Le Sūtra dit : "Celui qui désire obtenir l’Eveil parfait doit garder son esprit clair et silencieux comme ligne de conduite face aux événements inopportuns…"
b) Samāpatti (Tam ma bát đề). Selon la signification chinoise "quán đẳng chí", il s’agit d’un stade de méditation dans laquelle le pratiquant parvient à surpasser les états de somnolence et d’agitation/Đẳng, et le mental est pacifié et équanime/Chí. Le Sūtra dit : "Celui qui désire obtenir l’Eveil parfait, devra reconnaître avec l’esprit clair et équanime toute illusion provenant du mental, des organes des sens et de leurs objets de connaissance…"
c) Dhyāna (Thiền na) en traduction chinoise signifie "Tĩnh lự"; Tĩnh signifie le calme, la concentration, Lự les pensées, la connaissance. Le Sūtra dit "Celui qui aspire à l’Eveil parfait veille à garder son esprit calme et éveillé, débarrassé de toute illusion et de toute forme afin de retrouver instantanément le calme ou de s’accommoder à la vision d’extinction complète de tous les phénomènes"
3.2.2 Les Trois méditations de l'Ecole Thiên Thai /Palais du ciel.
Le grand Maître Trí Giả vivant au Mont Thiên Thai se basait sur le Sūtra "Les vœux solennels du Bodhisattva Anh Lạc/Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp", chapitre "La pratique de la vision profonde des Sages et des Saints/Phẩm Hiền Thánh Học Quán" pour établir le principe des Trois méditations de l’unicité de l’esprit/Nhất tâm tam quán.
a) Concentration sur la vacuité /Không quán.
C'est se concentrer sur l’unicité de l’esprit en faisant abstraction de toute nature, de toute forme, ne se voyant ni à l'intérieur, ni à l'extérieur, ni au milieu, d'où l'appellation "vacuité".
b) Concentration sur l’illusion /Giả quán.
Elle se base sur la méditation que tout dharma est un tout et qu’une pensée unique englobera tous les dharma car leur nature propre est illusoire et éphémère.
c) Concentration sur le juste milieu /Trung quán.
Consiste à abandonner toute notion de dualité dans l’esprit. Une pensée n’est ni vacuité ni illusion, d’où notion de juste milieu.
3.3 La Lignée Du Bouddhisme Thiền Tông Patriarcale/Thiền Tông.
A l'Assemblée Linh Sơn sur le mont sacré des Vautours, Bouddha brandit une branche de fleur de lotus en direction des Auditeurs, s'arrêtant devant Mahā Kaśyapa/Ma Ha Ca Diếp qui se contenta de sourire. Alors Bouddha annonça : "Je possède le trésor de la vision, le Dharma authentique, l’esprit merveilleux, le Nirvāṇa, le sublime dharma qui se situe au-delà des Ecritures et qui se transmet spécifiquement en dehors des enseignements. Aujourd’hui, Je le confie à Kaśyapa …"
En Chine, le 28e patriarche Bodhidharma/Bồ Đề Đạt Ma venu de l'Inde a déclaré : "Aucune dépendance à l'égard des écritures, la transmission spéciale se fait en dehors de l’enseignement. En allant directement à l’esprit de l’homme, l’on découvre la bouddhéité en soi".
Voilà l’essence de la lignée de Méditation bouddhique patriarcale dont les patriarches successifs ont assuré la transmission. En voici quelques images représentatives :
● Après que Bodhidharma l'eût accepté comme disciple, le patriarche Huệ Khả posa cette question à son maître: "Maître, mon esprit est tourmenté, veuillez bien m'apprendre à le pacifier". D'un regard direct, Bodhidharma lui dit : "Montrez le moi afin que je puisse le pacifier". Après vaine recherche, Huệ Khả avoua: "Je ne le trouve pas". Alors le maître affirma: "J'ai déjà tranquillisé votre esprit". Immédiatement Huệ Khả prit conscience du chemin d'accès et se prosterna devant son maître. En quoi consiste ce dogme "Retrouver son esprit" ? - Effectivement, il s’agit d’un moyen habile qui désigne directement l’esprit humain !
● Un jour, le novice Đạo Tín rencontra le troisième patriarche Tăng Xán, il s'empressa de le solliciter: "Vénérable, veuillez avoir l’indulgence de m'enseigner la méthode de libération". En l’observant avec de grands yeux, le patriarche demanda: "Qui vous a attaché?" Đạo Tín répondit : "Personne ne m’a attaché". Alors le patriarche lui souffla : "Pourquoi donc aspirez-vous à la libération? Đạo Tín réalisa alors sa conscience thiền et se prosterna devant le maître.
C'est vraiment un art d'enseignement unique en son genre qui, sans avoir recours à aucun autre moyen, désigne directement l’esprit humain. C'est pourquoi on le dénomme "Méthode directe de la Méditation/Thiền trực chỉ". Plus tard, le maître Đức Sơn dit aussi: "Mon école n'utilise ni mot, ni parole, ni dharma pour enseigner".
Une telle pédagogie exige du maître une dextérité dans son instruction, de l'élève un esprit vif pour que les résultats puissent aboutir rapidement, d'où la dénomination de "Méthode subite de la Méditation/Thiền Đốn Ngộ". A première vue, il nous a semblé que cela n'a aucun lien avec les Ecritures ou Enseignements de Bouddha, mais une profonde pénétration du principe montre qu'il est la quintessence même du bouddhisme. Durant quarante neuf années, Bouddha enseigna l'essentiel pour guider l'être humain vers la libération du cycle des renaissances et morts. Mais "libérer quoi?", il s'agit juste de retrouver notre "visage originel/Bản lai diện mục" sans quoi la libération n'a pas de sens, c’est-à-dire sans sujet ni objet.
Comment faire pour reconnaître son visage originel de tous les temps? Après avoir reçu "l'habit et le bol" traditionnels des moines transmis par son maître, le sixième patriarche Huệ Năng se rendait à Thiều Châu, mais il avait été poursuivi par Đạo Minh qui essayait en vain de récupérer cet héritage. L'échec de cette tentative eut fini par faire changer les intentions de Đạo Minh qui sollicitait finalement à Huệ Năng son enseignement. Le patriarche lui suggéra de se calmer puis dit : "Faisant abstraction de toute pensée bonne ou mauvaise, quel est le vrai visage originel du vénérable Đạo Minh? Réalisant subitement sa conscience thiền, ce dernier se prosterna devant son maître. Voilà la toute première leçon du 6e patriarche Huệ Năng donnée à son disciple : désigner directement cette bouddhéité inhérente en chacun de nous.
3.4 Discernement
Les différentes méthodes de Méditation précédemment abordées sont représentatives de tout un ensemble de méthodes de méditation. Je me contente de les présenter globalement sans expliquer clairement chaque méthode de perfectionnement. Mon intention est juste de les exposer afin de prouver leur existence. Quant à la pratique même de la méditation, nous estimons qu'elle sera à la charge des spécialistes en la matière.
Le Bouddhisme Theravāda/Thiền Nguyên Thủy sert d'antidote contre les maladies des êtres humains. Ainsi selon la nature de la maladie dont l'individu souffre, Bouddha prescrit le remède adéquat pour le guérir, c'est-à-dire prescrire le médicament approprié à la maladie. C'est une pratique très réaliste et facile à réaliser, sans recourir à de lointains mystères. Il s'agit d'une lutte en face à face, tel un général face à l'ennemi sur le champ de bataille. Gagner ou perdre dépend du talent du guerrier, de sa détermination et de sa perspicacité de découvrir la cache des ennemis. Au fur et à mesure de l'avancement du perfectionnement, le résultat obtenu est visible, sans devoir attendre le verdict d'une quelconque décision extérieure. Tout comme le guerrier poursuivant l'ennemi sait pertinemment que la bataille est gagnée à chaque étape parcourue, sans nul doute ni interrogation. Les Sūtra disent : "Que l'on soit avide, coléreux ou ignorant, l’on reconnaît ses défauts, et si l'on n'est pas avide, coléreux ou ignorant, l’on s'en rend compte également."
Le Bouddhisme Mahayaniste/Thiền Đại Thừa dépasse le stade de la dualité. Elle est vaste, sans attache comme l'immensité du ciel et de l'océan. Être conscient du caractère illusoire de l'existence humaine, de la chimère de tout phénomène et continuer de croire à l'existence réelle des êtres et des choses, c'est faire preuve d’ignorance, tout comme la distinction entre deux extrêmes est une attitude dualiste, antagoniste et restreinte, donc encore liée au cycle des renaissances et morts.
Il est superflu d'aborder la libération, face à l'immensité du ciel et de l'océan où il n'y a ni création ni destruction. Pour celui qui débute dans la voie, cette forme de pratique paraît étourdissante et vertigineuse, comme si au pied d'une haute montagne, on vise son sommet. Pourtant, si nous avons le courage de nous lancer impétueusement vers l’avant, à l’arrivée du sommet, la montagne nous offre une vue panoramique captivante en même temps que la caresse du bon vent frais venu de l'océan. Une fois arrivé au sommet, cette impression de notre petitesse corporelle s'estompe et notre regard ne sera plus délimité par les montagnes et les océans.
Le Bouddhisme Thiền Tông, c’est prendre l'envol de l'oiseau, c'est franchir un ponceau sans rampe. Aussi le passant peureux et hésitant n'osera pas avancer d'un pas, seul l'être courageux pour qui la vie et la mort n'excèdent pas le poids d'un duvet, risque de s'y aventurer. Plus la situation est mystérieuse, plus elle se montre évidente; plus c'est merveilleux, plus c'est authentique; plus c'est magique, plus c'est simple; plus c’est lointain, plus c’est tout proche. A la question "Où est la voie ?", la réponse est "Sous vos talons". A la question "En quoi consiste le trésor des miens ?", la réponse est "C'est ce que vous venez de poser". Un cri, un bâton, un clin d'œil, un froncement de sourcils, un écho, une flammèche... révèlent tous la présence de leur auteur. Lâm Tế disait : "Les enseignements de Hoàng Bá sont rarissimes". Il suffit de ne pas oublier sa tête pour son ombre, de ne pas courir après l'écho et de méconnaître la voix, mais plutôt poser un regard direct comme celui de Huệ Khả qui découvrit la voie d’accès ou comme Đạo Tín qui prit conscience de sa liberté.
Le Bouddhisme Thiền Tông a joué un rôle très important dans la propagation du bouddhisme au Vietnam depuis plus de dix siècles, du VIIe au XIXe siècle. Quoi de plus naturel que le liquide nourricier de Thiền Tông circule dans mes vaisseaux, nourrisse mes fibres et m'incite à m’intéresser à cette pratique, étant moi-même foncièrement bouddhiste pratiquant. Bien que je respecte toutes les méthodes de méditation précitées, je ne peux m’empêcher de choisir Thiền Tông, étant donné que ma nature est vietnamienne.
IV. L'OUBLI DE SOI
4.1 La Poursuite Des Six Organes Des Sens Derrière Les Six Objets De Connaissance.
Quotidiennement nos six organes des sens poursuivent sans relâche les six objets de connaissance. Ainsi les yeux recherchent les formes, les oreilles captent les sons et les voix, le nez sent les odeurs, la langue goûte les saveurs, le corps apprécie le contact, l'esprit suit les objets mentaux. Que de bousculades et de disputes afin de satisfaire aux exigences des ces six organes des sens qui sont aussi reconnus comme un tonneau percé! Jusqu’à quand pourrons-nous le remplir? Penser à satisfaire les six sens, c'est comme si l'on veut chercher la lune au fond d'un puits. Dans cette poursuite effrénée, plus on récolte de satisfaction, plus vite on oublie soi-même, puisque le phare n'éclaire que le devant, laissant forcément le derrière dans l'obscurité.
Au cours de l'Assemblée où Bouddha enseigna le Śuraṃgama Sūtra/Kinh Lăng Nghiêm, en levant son bras en direction d'Ārya Ānanda/A Nan Đà et lui demanda : "Est-ce que vous le voyez ?" Réponse d’Ārya: " Oui l’Honoré! je le vois". Puis Bouddha baissa son bras en disant : "Maintenant, vous voyez?" Réponse: "Non, je ne vois pas". Alors Bouddha le réprimanda : "Vous suivez l’objet extérieur et vous oubliez vous-même". Ensuite Bouddha enjoignit son fils, Ārya Rāhula/La Hầu La de sonner la cloche, puis il demanda à Ānanda : "Entendez-vous le son de cloche ?" Réponse d'Ānanda : "Oui, je l'entends". Au moment où le son de cloche avait cessé de résonner, Bouddha posa la même question à Ānanda qui répondit : "Non, l’Honoré, je ne l'entends pas". De nouveau Bouddha réprimanda : "Vous oubliez vous-même en poursuivant autre chose ".
En réalité, le bras de Bouddha fait office de l'objet extérieur face à la faculté de vue d'Ānanda, le fait de lever ou baisser le bras représente la présence ou l’absence de l’objet, tandis que la vision d'Ananda n’a disparu en aucun moment. En donnant une réponse affirmative au mouvement de levée du bras et une réponse négative lorsque le bras est baissé, Ānanda a fait preuve d'oubli de soi pour l'objet extérieur. Il en est de même pour le son de cloche, lequel fait office de l'objet extérieur face à la faculté d'entendre, qui demeure toujours présent, quelle que soit la réponse positive ou négative d'Ānanda. En effet, les formes et couleurs, les sons... font partie des objets externes tandis que voir, entendre… est le propre de la personne elle-même, du "soi". Il est bien regrettable d'oublier "soi-même" pour les objets extérieurs à soi.
Au cours d'une promenade dans le jardin, voyant un envol de canards sauvages, Mã Tổ s'adressa à Hoài Hải : "Qu’est ce que c’est cela ?" Réponse: "Ce sont des canards sauvages". Quelques minutes plus tard, Mã Tổ s'enquit : "Où sont-ils ?" Réponse : "Ils ont déjà disparu". Alors Mã Tổ pinça fortement le nez de Hoài Hải qui hurla de douleur puis dit: "Pourquoi ne dites-vous pas que cela disparaît?" C'est ainsi que subitement Hoài Hải a pris conscience du thiền. Plus tard, chaque fois qu'il recevait des visiteurs adeptes de la méditation, il exhibait souvent le plumeau en interrogeant : "Qu’est ce que c’est ceci? ".
A la dynastie des Song, le maître Cảnh Thanh ayant remarqué une trace blanche sur le plancher, questionna son assistant : " Qu'est ce que c'est ? " Réponse: "C'est une trace blanche", le maître se contenta de soupirer : "L'être vivant poursuit les choses extérieures en s'oubliant soi-même". Un autre jour, ayant entendu des coassements des grenouilles terrifiées, le maître questionna : "C’est quoi ce bruit?" Réponse: "C'est le coassement des grenouilles pourchassées par les serpents". Alors le maître soupira : "Des êtres souffrants et la souffrance des êtres".
A travers ces deux anecdotes, nous comprenons mieux la signification de la phrase: "Oublier soi-même au profit des choses extérieures". En effet, les canards sauvages se sont envolés hors de notre vue, mais la faculté de la vue demeure. Si nous reconnaissons cette authenticité en nous, nous pourrons atteindre l'éveil. Quant au coassement des batraciens pourchassés par le reptile, le maître Cảnh Thanh l'a bien entendu, pourquoi a-t-il encore questionné son assistant? La réponse innocente de ce dernier a fait soupirer le maître: "Des êtres souffrants et la souffrance des êtres". L'appel de détresse des batraciens exprime la souffrance des êtres vivants; et le fait d’entendre les cris du batracien sans se rendre compte de sa connaissance auditive fait partie du lot des êtres souffrants. L'homme poursuit obstinément les six objets de connaissance au point de s’oublier soi-même. C'est ainsi qu'il se ligote et se laisse entraîné dans le cycle des renaissances, avec la vaine conviction de prendre soin de lui-même, alors qu'en réalité il s'est oublié complètement.
4.2 Attachement A L’entité Physico-Psychique Comme Un Véritable "Soi".
Nous sommes tous persuadés que cette forme physique constitue notre corps et que ce mental souvent agité est bien le nôtre. Un examen approfondi devra s’opérer afin de voir si cette vision est bien fondée.
Bouddha a dit que notre corps physique est constitué à partir de quatre éléments fondamentaux: le composant solide provenant de l'élément Terre, le composant liquide provenant de l'élément Eau, la chaleur venant de l'élément Feu, le mouvement venant de l'élément Vent. Il suffit qu'un de ces quatre éléments fasse défaut pour que le corps physique cesse de fonctionner. Ces quatre éléments dénommés éléments internes requièrent l’apport continuel des éléments externes afin de fortifier et de maintenir en vie ce corps. L’équilibre d’approvisionnement se fait par l'intermédiaire de l'alimentation adéquate et de la respiration régulière. Tout obstacle interrompant ce déroulement fragilise le corps et augmente les risques de maladies plus ou moins graves pouvant le mettre en péril. De nos jours, la médecine a reconnu que ce corps est constitué par une multitude de cellules classées en plusieurs sortes ayant chacune une fonction spécifique capable d'assurer le bon fonctionnement de ce corps. Ces cellules subissent elles-mêmes des transformations qui conditionnent la croissance et la dégradation de l’organisme. Etant donné que le corps est constitué à partir de ces quatre éléments ou à partir des cellules, le vrai "moi" n'existe pas, même après examen global ou détaillé de ce corps. Puisque le "moi" n'est pas vraiment contenu dans ce corps, c'est stupide et illusoire de croire à l'existence du "moi" et en conséquence à tout ce qui appartient au "moi". Tenant compte de cette non-existence du "moi", Bouddha désigne ce corps comme étant le "non-soi". A l'heure actuelle la médecine a beaucoup progressé. Elle a permis par exemple de guérir l'anémie par une transfusion de sang du même groupe, ou bien de greffer des organes sains en remplacement des organes endommagés permettant ainsi de sauver tant de vie humaine grâce à des dons d'organes. Se basant sur ces exemples et en supposant que le sang fait partie du "moi", une fois transfusé dans un autre corps où aura lieu le mélange des deux sangs du donneur et du receveur, le sang mélangé a perdu son caractère égotiste. Il en est de même pour d'autres organes vitaux. De plus le progrès moderne a rendu possible la fabrication de cœurs artificiels en matière plastique ou autre, très souvent utilisés dans des greffes cardiaques. Dans ces cas, le patient qui a bénéficié d'un tel cœur n'est plus complètement lui-même, de ce fait admettre que ce corps fait partie du "moi", c'est faire preuve d'absurdité.
De même il est aussi inconséquent de considérer un mental affairé ou agité comme le sien! Notre esprit devra être unique et omniprésent à travers le temps. Présentement il est sollicité de toute part par toute sorte d'émotions occasionnées par des pensées diverses : bonne/méchante, vraie/fausse, intention bonne /mauvaise, amour/aversion… Lequel de ces états émotionnels fait partie intégrante du "moi" ? Si nous identifions ces pensées variables et inconstantes comme le "moi", lorsque nous n’émettons pas de pensée, le "moi" ne devra pas exister! Or, nul ne peut accepter que l’absence de pensée équivaut à la disparition de "moi", car même sans réfléchir, le "moi" est bien présent. Il arrive que lors du vagabondage du mental, dès que l'individu cherche à situer le point d’émergence de ses propres pensées, celles-ci se sont subitement volatilisées. La disparition de ces pensées, un produit de l'esprit prouve en fait qu'elles ne sont pas réelles. Par conséquent, le "moi" dont elles font partie est une utopie, une chimère. A vrai dire, notre esprit n’est pas un composium de tout, tantôt présent tantôt absent, et surtout il n’est pas une notion illusoire. Cela mérite un examen plus approfondi.
Ainsi admettre que cette forme physique soit notre "moi", que ce tohu bohu de mental fasse partie intégrante de notre "moi", alors que pour le non-vrai, l’illusoire est admis comme le "moi", prouve que le "moi" authentique a été masqué. Cela revient à "oublier soi-même". Pour pouvoir dissiper cet obscurcissement afin de découvrir le "moi" authentique, la pratique de la méditation s'impose.
V. S'OBSERVER SOI-MÊME / PHẢN QUAN TỰ KỶ
C’est s'éclairer soi-même afin de guérir la maladie de "l'oubli du soi", de supprimer toute affliction masquant la connaissance, d’écarter les opinions préconçues, les idées fixes empêchant de voir la vérité.
5.1 A Libérer Des Afflictions Qui Nous Obscurcissent.
Les soucis et tracas perturbent et voilent le cœur intime tout en empêchant l'intelligence de s’éclairer. Il existe plusieurs sortes d’afflictions dont les "Cinq empêchements" tels que la cupidité, la colère, la torpeur, l’agitation, le doute et la pensée négative qui sont les plus basiques. Ils sèment pas mal de troubles et d'obstacles aussi bien aux religieux qu'aux laïcs. Toutefois, pour un individu ayant su s’observer soi même, ils ne représentent qu'un sombre nuage, un amas de brouillard ou encore un tour d'illusionniste ne suscitant d’aucune crainte. Si l'on se donne la peine d’observer profondément la nature propre de ces troubles, alors ils se dissipent, tandis qu’une erreur d'appréciation sur leur nature véritable peut être la source d'incalculables impulsions dévastatrices. "Eclairer soi-même" est comparable à l'épée de la Sagesse ou au miroir magique faisant dissiper toutes souffrances fantomatiques. En revanche, celui qui s'oublie en poursuivant tout phénomène extérieur offre aux faiseurs d’afflictions la bonne opportunité de bien développer leurs activités négatives.
5.2 A Détruire Les Opinions Préconçues Et Les Idées Fixes
La société et la famille au sein desquelles nous vivons nous ont inculqué des mœurs et coutumes qui, une fois brassées avec les sentiments personnels, finissent par former, modeler des opinions préconçues, des idées fixes, lesquelles sont à l'origine des erreurs pouvant devenir dangereuses pour l'être humain lui-même et pour l'humanité. Ainsi, du moment que l'on est convaincu que Monsieur A est bon, que Monsieur B est mauvais, même si A commet d'impair énorme, A demeurera impeccable. Par contre pour B, quoiqu'il fasse, ce sera toujours inconvenant. Dès le début, si telle chose est considérée comme vraie et telle autre non-vraie, l'être humain a tendance à apprécier celui ou celle qui partage son avis et à réprouver celui qui n'est pas du même avis, l'accueil étant favorable aux partisans et hostile aux antagonistes. Des idées arrêtées telle que sa propre religion est bonne et que les autres sont mauvaises… constituent des germes de séparation et d'animosité. S'éclairer soi-même, c'est annihiler les remparts des idées fixes, c'est supprimer les murs d'opinions préconçues afin de laisser pénétrer la lumière de la vérité permettant une vision juste des êtres et des choses, tels qu'ils sont en réalité, sans modèle imposé les réduisant à l’uniformité. Nous les verrons tels qu'ils sont tout simplement, sans comparaison ni ajout, diminution et contrainte.
Citons quelques exemples :
● Un jour en déplacement, le maître Nam Tuyền ainsi que Qui Tông et Ma Cốc ont aperçu un tigre accroupi au milieu du chemin. Ma Cốc dit : "A quoi ressemble cet animal ?" Qui Tông répond : "A un chien". Ma Cốc dit qu'il ressemble "à un chat". Pour Nam Tuyền : "c'est tout simplement un tigre". Un tigre reconnu en tant que tel, c'est-à-dire un tigre. Voilà il s’agit de la vision thiền.
● En se rendant à une ville, le maître Quế Sâm, ainsi que les maîtres Trường Khánh et Bảo Phước ont vu un carré de pivoines. Tout de suite Bảo Phước s'exclama: "Voilà de jolies pivoines". Alors Trường Khánh commenta : "Ne laissez pas votre regard rivé sur la fleur". Quant à Quế Sâm, il se contente de soupirer: "Quel dommage pour une fleur !". Une fleur, c'est une fleur. Pourquoi chercher à l'embellir, à l'entourer de sollicitude et se priver ainsi tout simplement de sa présence?
● Devant une grande assemblée de moines, le maître Vân Môn brandit un bâton en disant: « Ce bâton est réel pour les profanes, et "rien" selon les Dviyāna /Deux véhicules /Nhị Thừa. Pour les Pratyeka-buddha /Eveillés solitaires /Duyên Giác), il constitue "l’illusion", alors que les Bodhisattva, ils le considèrent comme "vide dans sa propre nature, la vacuité ". Quant au maître thiền, il voit le bâton tel qu’il est », c’est à dire simplement le bâton sans chercher à l'analyser, à le pénétrer, l’esprit étant totalement libéré de toutes idées préconçues ou opinions arrêtées.
5.3 La Découverte De L’être Authentique En Soi
Plus l’on cherche à voir plus profondément en soi-même, plus l’on découvre la vérité en l'homme. Le Sūtra du Cœur dit : "Avalokiteśvara Bodhisattva/ Bồ Tát Quán Tự Tại excella dans la pratique profonde du Prajñāpāramitā, il reconnut la vacuité des cinq agrégats/skandha et se libéra de toutes les souffrances." Reconnaître profondément que l’homme à travers sa forme physique et son entité psychique telles que les sensations, perceptions, formations mentales et la conscience, n’a pas de nature propre, cela nous aide à surpasser toutes les souffrances de l’existence. De nos jours, tant de souffrances s'abattent sur notre tête qu'il est difficile de la relever, car nous croyons que notre corps ainsi que notre esprit existent réellement. Le fait de reconnaître que ce corps n'a pas de nature propre fera basculer tous les chagrins et souffrances dans le néant. Ainsi la découverte de la nature illusoire de l'être humain permet de se débarrasser enfin de toute atteinte de la souffrance.
C'est un événement merveilleux et inimaginable que de découvrir la vraie authenticité de l'homme. Dans le Sūtra du Lotus/Saddharma Pundarika/Pháp Hoa, il est décrit l’oubli de notre vraie nature à travers le personnage d'un misérable délaissant son père pour une vie errante, malheureuse et affamée. Un jour il s'est souvenu de son père et s'est remis à sa recherche ; il finit par retrouver son père devenu richissime à présent. Mais la richesse et la gloire de son père l'effraient, aussi il n'ose pas se montrer et se faire reconnaître. De son côté, ayant reconnu son fils, le père emploie des moyens habiles pour amener son fils à accepter d'être son employé d'abord, puis il le reconnaît officiellement à la fin comme son héritier avant de lui léguer tout son héritage. Un tel événement a surpris, stupéfié et terrifié ce misérable fils. Désormais sa vie errante et malheureuse prend fin. Cet individu ne savait pas qu'une fortune inestimable l'attendait pendant qu'il vivotait dans la misère. Il lui suffisait de s'y reconnaître et de retourner chez soi. L'histoire de la pierre précieuse cousue au pan de l’habit par son ami, à l'insu du pauvre homme, en guise de cadeau utile, traduit également la même idée.
Au cours d'un déplacement à cheval le maître Úc de Trà Lăng à l’époque des Song en Chine traversa un pont, son cheval se coinça une patte dans une planche défectueuse et renversa le maître. Tout de suite celui-ci acquit l'éveil subit et composa ce quatrain:
Je possède un brillant joyau
Enfoui depuis longtemps dans le monde de misères.
Aujourd'hui, débarrassé des poussières,
Il brille et éclaire partout montagnes et océans.
Il existe bien d’autres anecdotes intéressantes que je ne pourrais pas toutes vous citer.
VI. LE BUT DE LA MEDITATION ET DE LA SCIENCE
Le but de la Science est d'asservir la nature à l'homme, alors que la Méditation a pour but de découvrir l'homme véritable afin de délivrer les êtres vivants de la souffrance. Servir l'homme et secourir l'homme sont analogues quoique leur direction diffère. Essayons de les analyser plus profondément.
6.1 La Méditation En Position Assise Est-Elle Une Attitude Négative ?
A l'heure où le temps compte pour de l'argent ou même de l'or, il existe encore des pagodes dans lesquelles des moines se tenaient assis, immobiles durant toute une partie de la journée. Une personne non avertie pourrait penser qu'ils gaspillent inutilement leur temps. En effet de nos jours, l'homme se lance éperdument après les jouissances, il s'efforce de tirer le maximum de profits possibles afin d'assouvir ses propres besoins. Pour y parvenir et même arriver en gagnant, il s'est précipité dans des courses folles, des bousculades redoutables au point de s'oublier lui-même, tout en étant convaincu de travailler pour soi, de se préoccuper pour sa propre condition, en ramassant tout pour soi. Pourtant, si quelqu'un lui pose cette question : "Connaissez-vous qui vous êtes ?’’, il sera sidéré, car il ignore tout de lui-même. En s’ignorant lui même, son travail, ses préoccupations, ses démêlés deviennent ainsi insensés. Tandis que le moine étant assis en méditation, silencieux, vise à s'éclairer et à découvrir son véritable "soi". Une fois reconnu soi-même, la vie prendra plus de valeur et le travail davantage de sens pour lui.
Le bouddhisme admet que l'homme est le plus important et que les événements extérieurs ne sont que secondaires. Si l'homme est doué et bon, son environnement l’est aussi. En revanche si l’homme est médiocre et mauvais, les événements extérieurs le sont également, puisque l'environnement dépend de l'homme. Aussi le monde environnant ne peut être façonné que par la volonté de l’homme. Dans le langage bouddhique, l’homme représente "la rétribution principale/Chánh báo", les phénomènes extérieurs "la rétribution secondaire/Y báo". En effet, la maison dépend de son propriétaire. Pour bien comprendre les fondements de construction d’une maison, il est bon de connaître d’abord la personnalité du propriétaire. Le bouddhisme conçoit que, pour connaître l'univers, il faut d'abord connaître l'homme. La méconnaissance de la nature humaine conduit à la connaissance imprécise de l'univers. Le Bouddha a complètement pénétré la nature humaine après son Eveil, et du même coup il a pu saisir les lois de l'univers. La Méditation assise est propice à la découverte de la Vérité sur l'homme. Ceci est un point essentiel. Aussi est-il impensable de dire que la méditation assise est négative!
6.2 La Science A La Conquête De La Nature A-T-Elle Atteint Son Etat Suprême ?
L'univers est immense et illimité. En revanche, la vie humaine est tellement courte, la compréhension humaine limitée, comment l'homme peut-il prétendre connaître à fond l'univers ? De nos jours, nombreux sont ceux qui considèrent la science comme le sauveur de l'humanité, en apportant bien-être, confort et satisfaction aux besoins de l'homme. Le développement vertigineux de la science nous incite à la méfiance, quel sera donc l'avenir de l'homme ?, se demande t on incessamment.
En effet, la science est un couteau à double tranchant, d'un côté elle nous procure beaucoup d'avantages et de commodités, de l’autre elle nous amène à la destruction.
Actuellement, nous voyons partout des magasins gorgés d'ustensiles, d'appareils ultra modernes et sophistiqués, les routes bondées de voitures rutilantes. Mais en même temps se multiplient dans le monde des caches d'armes meurtrières, des bombes atomiques dévastatrices, des bombes à hydrogène, des bombes bactériennes, chimiques etc… prêtes à exploser dès l'enclenchement. Il est à craindre que la science ne cause plus de frayeur et d'angoisse à l'humanité qu'elle ne procure du bonheur aux humains. Dans ce cas, devrions-nous nous réjouir ou nous inquiéter face aux prodigieux progrès de la science ?
6.3 La Méditation En Coopération Avec La Science
Loin de mes intentions de vouloir expressément chercher à semer la panique, le désespoir, le désenchantement dans votre esprit en décrivant ces observations, je voudrais émettre quelques suggestions nous permettant de trouver ensemble un moyen efficace pour essayer de soigner le mal du siècle.
La science progresse trop rapidement. Les pays avancés rivalisent entre eux en spéculant sur la science, dans une course effrénée sans égale. Il arrivera un jour où la surproduction nécessite des compétitions en vue de trouver des débouchés, d'où rivalités entre les différentes nations qui en sortent soit vainqueur, soit vaincue. Etant donné que chaque pays avancé possède ses propres armes pouvant anéantir facilement l'ennemi, si le pouvoir gouvernemental se trouve entre les mains des dirigeants violents et surexcités, à quelles conséquences catastrophiques pourrait-on s'attendre? Il me semble que le meilleur remède efficace pour guérir cette maladie du siècle sera de toute évidence la coopération étroite de la Science avec la Méditation. En s'élançant à la conquête de l'univers, il est bon de se réserver un peu de temps pour s'asseoir tranquillement et s'éclairer soi-même. L'équilibre entre ces deux états extrêmes apporte de la vraie paix à l'homme. De plus les armes dangereuses laissées entre les mains des individus violents, impulsifs risquent de provoquer d'incalculables conséquences graves. En revanche, ces mêmes armes confiées à des êtres pondérés et compatissants constituent une source d'innombrables avantages. Il est plus à craindre la cruauté humaine que les armes terrifiantes proprement dite. Ne sera-t-il pas judicieux d'offrir un cœur compatissant et un esprit serein à l'ami possédant les armes dangereuses? A condition que le donneur soit un être vraiment vertueux et clairvoyant, maître de lui et qui affectionne tout le monde. Si l'on souhaite voir l'humanité de demain vivre dans la joie et le bonheur, il faut que la vertu et la science s'équilibrent.
CONCLUSION
Rien n'est plus précieux en ce monde que "la vie elle même". Aucune connaissance du monde n'est plus importante que la connaissance de "soi". Toute sa vie durant, Bouddha n’accomplit que ces deux tâches: "Chercher à reconnaître ce qui n'est pas réel et ce qui est vrai en soi et pouvoir enseigner aux êtres la pratique de la vision profonde leur permettant de reconnaître clairement la vraie nature de soi." Cette méthode qui consiste à réaliser une introspection jusqu’aux tréfonds de soi afin de mieux s’observer n’est autre que la pratique de la Méditation. L'essentiel pour l'homme est la reconnaissance de soi-même, et cela vaudra mieux que la connaissance entière des cinq continents et de l’univers. Il n’est pas une chose ordinaire que de sacrifier toute sa vie pour rechercher et découvrir cette énigme capitale. Guider les êtres vers cette quête est primordial. Conscients de l'urgence et de l'importance de cette recherche, nous sommes déterminés à consacrer toute notre vie afin de pouvoir réaliser la Méditation bouddhique Thiền Tông, et d’aider les autres êtres à s’accomplir également dans cette Voie. Voilà tous nos vœux et espérances.
Các bài khác...
- TẠI SAO TÔI TU THIỀN - Thiền Thất Thường Lạc
- Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Giác
- POURQUOI SUIS-JE DEVENU MOINE BOUDDHISTE - Thiền Thất Thường Lạc
- TẠI SAO TÔI TU THEO ĐẠO PHẬT - Thiền Thất Thường Lạc
- Lời Tác Bạch
- Hạnh Hương Ngọa Vân Am -11/2011
- Video - du maître thiền - Thiền Thất Thường Lạc
- Ý NGHĨA PHẬT GIÁNG TRẦN
- NGHI THỨC SÁM HỐI 3 NGHIỆP - Thiền Thất Thường Lạc
- NGHI THỨC SÁM HỐI 6 CĂN - Thiền Thất Thường Lạc


















Ngày 16 tháng 7 Nhâm Thìn tới đây, nhằm ngày 01/9/2012, tại Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác sẽ tổ chức Lễ Phóng Liên Đăng, trong khuôn khổ lễ Vu Lan - PL 2556, để cầu nguyện cho các vong linh oan hồn, uổng tử. Được biết, khu vực hiện đang chuẩn bị xây dựng Thiền viện, vốn là chiến trường xưa, nổi danh qua tên gọi Cánh Đồng Hoang thuộc vùng trũng sâu của Đồng Tháp Mười. Ngay từ những năm cuối thế kỷ thế kỷ 18 (từ 1785- 1789), khởi đầu với cuộc khởi nghĩa của các ông Thái Bảo, Phạm Văn Sơn cho đến suốt 30 năm từ 1945 đến 1975 của thế kỷ 20, chiến khu Đồng Tháp Mười là nơi bỏ thân của biết bao anh hùng liệt sĩ, đồng bào vô tội trong bao cuộc chiến tranh, loạn lạc vừa qua.

































































TVTL Từ Ấn 

