headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 19/06/2018 - Ngày 6 Tháng 5 Năm Mậu Tuất - PL 2562 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtriductang  Mong
Sám hối sáu căn tại TVTL Đàlạt

NGUYỆN ĐỀN Ơn Tái Sanh

nisuthuantinNT. Thích Nữ Thuần Tín

1. Thầy hiện thân Bồ Tát
    Quên mình vì nhân sanh
    Cuối hai mươi thế kỷ
    Thầy khôi phục Thiền tông
            Chơn Không bặt dấu vết
            Thường Chiếu nở tâm hoa
            Nguồn Tào khai thông mạch
            Nhuần thắm khắp gần xa

    Con từ lâu xả tục
    Quyết lập chí tu hành
    Đạo mầu chưa tỏ lý
    Mà lòng những băn khoăn.

Sau khi xả thiền con đến trước bức hình Thầy vác gậy trên vai treo trên tường nơi phòng học của đại chúng lạy Thầy ba mươi lạy. Trước khi lạy con  khởi niệm: Chí tâm đảnh lễ Hòa Thượng Ân sư người đã khai sáng tâm con. Lòng con vô cùng xúc động.

Thật vậy, nếu con không gặp Thầy chắc bây giờ con vẫn còn lang thang đây đó, chứ chưa chịu dừng bước quay về!

Năm 1962 con nhất quyết đi tu mặc dù anh chị con cũng nhất quyết không cho (mồ côi mẹ từ khi 4 tuổi, ba đi tập kết từ khi 8 tuổi nên con ở với anh chị). Con tranh đấu bằng mọi cách, ăn ngọ chay ngồi suốt đêm không ngủ để được đi tu.

Trước khi đi tu cô con hăm doạ, mày còn nhỏ con gái nhà quê vào Sài Gòn coi chừng đèn xanh đèn đỏ làm choá mắt mày không tu được đâu. Tao bảo đảm như vậy. Anh con bảo: mày còn nhỏ biết gì mà tu, mấy bà sư dụ khị mày đó, ở nhà tao bày cho tu. Nhưng con nhất quyết không chịu nghe.

Cứ mỗi sáng quét sân, từ đầu sân đến cuối sân trong đầu chỉ hiện lên một câu hỏi: Đi tu cho đến già chết hay nữa chừng đi về, và tự trả lời tu đến mãn đời không thối chí. Cho đến ngày mồng 8 tháng 7 âm lịch (1962) con thực hiện giấc mơ của mình.

Đi tu dù chưa biết tu pháp gì chọn ai làm Thầy v.v… nhưng túc duyên của con cũng lạ, khi còn nhỏ con đã được chị hàng xóm cho mượn hai quyển sách Tu Tâm Dưỡng Tánh của Hòa Thượng Sư Ông con đọc và rất thích.

Con ra đi bỏ lại sau lưng tất cả, quê hương, tuổi trẻ, thân bằng quyến thuộc, vào tận Sài Gòn xa lạ, rồi xuống Bến Tre, Phụng Hiệp v.v… trở về miền Trung, lên tận Cao Nguyên trung phần v.v… Đi thì nhiều nhưng chưa học đạo được bao nhiêu. Không có lớp gia giáo, con tự đọc sách. Một túc duyên thứ hai là thích đọc sách Thiền như Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất, Đạt Ma Quán Tâm Pháp v.v… con chép tay những điều tâm đắc vào một cuốn tập để gối đầu giường. Con phát nguyện lấy phương pháp tu Thiền làm căn bản cho sự tu hành. Dù không có minh sư chỉ dạy vẫn nổ lực thực hành để đạt đến chỗ cứu cánh giải thoát. Không xu hướng theo tà thuyết tìm cầu những sắc tướng. Thật sự lúc đó con nói cho oai vậy thôi chứ chưa biết giác ngộ giải thoát là gì cũng chưa phân biệt được tà chánh. Nhưng tự tâm con phát lời nguyện như vậy. Sau này theo Thầy học đạo con mới biết chủng tử ấy có sẵn trong lòng mà con quên đi. Ban đêm con lén ra cái gò ngoài rừng ngồi Thiền theo phương pháp dẫn sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật đi vòng vòng trong thân thành số tám. Ban ngày ngồi lặng lẽ tịnh khẩu không thèm nói chuyện với ai. Tu riết cũng đâm ra chán, nên đi dạy I,T cho con nít.

2. Rồi một mình lê gót
    Chéo áo đeo hạt châu
    Con cam đành nghèo thiếu
    Tự hỏi chết về đâu?
            Tuy nghiệp dày phước mõng
            Nhưng nhờ chút duyên xưa
            Minh sư con gặp gỡ
            Chỉ bày kho báu châu.

Sau năm 1975 đất nước trở mình đổi qua trang sử mới, Tăng ni con nhà cách mạng cởi áo ca sa khoát áo thế tục đoàn tụ với gia đình cũng khá nhiều. Bản thân con vẫn giữ hình thức tu sĩ về quê phụng dưỡng cha già, từ miền Bắc trở về không ai chăm sóc, vì trong buổi giao thời kinh tế khó khăn, anh chị phải lo kiếm sống nuôi con. Tuy nhiên sau một năm báo hiếu cho cha, con cảm thấy có điều bất ổn trong cuộc sống va chạm ngoài đời. Thế rồi lại trốn nhà ra đi một lần nữa. Chỉ có ngôi chùa mới dung chứa được con, còn cuộc sống ngoài thế gian với thân bằng quyến thuộc cùng chung huyết thống không còn phù hợp. Nói chuyện đời thì mình không thích mà nói chuyện đạo thì họ không ưa nghe.

Tuy có túc duyên tu hành nhưng không có định hướng rõ rệt, nên cứ bôn ba trên khắp nẻo đường phố chợ, làm công nhân hãng xì dầu Nha Trang, rồi làm kinh tế tự túc v.v… Con mãi lang thang làm khách phong trần, ngày càng xa cách quê hương chân thật. Con tu đủ pháp nhưng tâm vẫn bất an, bèn lạy Lương Hoàng Sám để sám hối và phát nguyện gặp minh sư thiện hữu tri thức dạy con tu đúng chánh pháp của đức Phật. Được tròn ba năm!

Duyên lành đầy đủ, con được bạn cho mượn hai bộ băng Kim Cang và Pháp Bảo Đàn của Thầy giảng, nghe xong con nhờ bạn dẫn vào Chơn Không gặp Thầy. Thầy cho con quyển Yếu Chỉ Thiền tông khổ lớn, giấy đen. Con ở lại một đêm nơi thất của người quen bạn con. Đêm ấy, được dự lễ sám hối cùng quý Thầy cô tại Thiền đường sơ sài của Tu viện. Chắp tay quỳ đó mà hai dòng nước mắt tuôn trào, một đứa con lạc loài nay được trở về mái ấm Chơn Không. Lòng con không thể nào ngăn được dòng cảm xúc.

3. Báu châu trong tay sẵn
    Thoát khỏi kiếp cơ hàn
     Đường về không lạc lối
    Con dừng bước lang thang.

Con trở về Nha Trang thu xếp vào Thường Chiếu theo Thầy tu học. Thầy đi giảng ở đâu con cũng đi theo nghe, Thầy giảng Tranh Chăn Trâu ở Huệ Chiếu, lần đầu tiên con nghe như vịt nghe sấm, chẳng hiểu gì cả, không biết vọng tưởng là gì làm sao chăn trâu. Thầy giảng Kinh Pháp Hoa ở chùa Xá Lợi Sài Gòn cũng theo nghe. Thấy pháp hội đông vầy, người ta đứng tràn ra tới đường lộ để nghe Thầy giảng. Có nhiều người ở thật xa, bới cơm xách nước đi nghe pháp, trưa ở lại nằm lăn ra đất hoặc dựa vách nhắm mắt nghỉ một lát rồi chiều nghe tiếp. Con cảm động đến rơi nước mắt và cũng ví mình như chàng cùng tử đã bao nhiêu năm lang thang kiếm sống, nay đứng trước cửa nhà cha mà chưa dám vào.

Ở Thường Chiếu Thầy giảng kinh Viên Giác đến đoạn người tu có chủng tử bất định, nếu không gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy mà gặp tà sư thì sẽ rơi vào tà kiến không biết ngày nào ra. May mắn cho con được gặp Thầy, nếu không thì do vì ham tu, thực hành không đúng mà tẩu hoả nhập ma.

Để hợp thức từ pháp tu cho đến hệ phái. Con xin Thầy y chỉ chuyển hệ. Thầy đồng ý. Ngày lên Chơn Không đến thất gặp Thầy, Thầy đặt pháp hiệu con là Thuần Tín. Thầy dạy: Con tên là Trí, nay Thầy đặt con tên Thuần Tín là lòng tin thuần thục đã được sàn lọc qua lý trí chứ không phải bạ đâu tin đó nghe chưa. Con mô Phật đảnh lễ Thầy nhận cái tên mới, Chúng con xin phép xuống núi ra về, còn nán lại theo chân Thầy cầm cái kéo trên tay đi ra vườn, hễ gặp những cây cảnh dư thừa là Thầy bấm bỏ hoặc cắt trái cây. Chúng con vừa rời Thầy mấy bước, Thầy kêu ê lại đây Thầy cho cái này. Thầy cho hai trái mãn cầu và mấy trái nhãn. Thầy cho con xin nhận, món quà không là bao nhưng đối với con nó quá quý. Con nguyện mắt tuệ được mở sáng để nhận ra những điều Thầy dạy sau này. Con ra về mà lòng hân hoan không thể diễn tả được, chỉ tự mình cảm nhận mà thôi.

Con học kinh Lăng Nghiêm với Thầy ở Linh Chiếu, Thầy dò bài ráo riết, có một lần Thầy kêu con trả bài, con thưa: Hôm nay con không thuộc bài, Thầy cho con hôm khác trả. Thầy cười độ lượng không rầy rà gì cả. Xong bộ kinh Thầy ra mười mấy câu hỏi để ôn, ai trúng câu nào trả bài câu đó. Con, chị Trí Nhẫn, Thuần Hòa ngày nào cũng họp mặt dò bài ráo riết. Mười mấy câu hỏi câu nào cũng dài lê thê. Học Trung Hoa chư thiền đức hành trạng tại Thường Chiếu, Thầy dạy chúng con soạn bài tóm tắt đại cương, Ngài nào ngộ cửa gì Văn Thù hay Phổ Hiền v.v…

Được học với Thầy chu đáo như thế, lần hồi lời Phật ý Tổ thấm vào tâm cang xương tuỷ của con. Con ứng dụng tu hành, dừng bước lang thang và biết lối quay về, không còn mơ mộng một điều gì khác, chỉ muốn đem điều này chia sẻ cho người có duyên. Do đó, mà cộng sự với chị Thuần Giác, bắt đầu làm việc lợi tha nho nhỏ.

 Tuy nhiên, tập khí dở còn nhiều. Một hôm Thầy dạy: Thuần Tín, Thầy nghe con khó lắm phải không, rầy rà đệ tử dữ lắm, nước trong quá cá không ở được đâu. Sau đó con vâng lời Thầy nhìn mình thật kỹ, sửa đổi những điều sai trái mà con vấp phải.

Cuối năm 2002 mừng Thượng thọ Thầy, Thầy tuyên bố gát gậy vào thất ba năm. Mỗi năm đệ tử chỉ được thăm một lần. Đầu năm Quý Mùi 2003 Tăng ni ăn tết ở Trúc Lâm tiễn Thầy vào thất. Sự việc này không làm tâm con dao động, vì niềm tin nơi Thầy, nơi pháp tu, nơi chính mình rất vững. Dù Thầy không trực tiếp dạy bảo nhưng Thầy vẫn luôn luôn hiện hữu không bao giờ thiếu vắng.

Theo luật vô thường chi phối sức khoẻ Thầy yếu dần, năm 2012 Thầy bệnh nặng. Sau khi được Bác sĩ chăm sóc kỹ lưỡng, sức khoẻ tạm ổn Thầy trở về Thường Chiếu dưỡng bệnh luôn. Chúng con lại có dịp quây quần bên Thầy để học bài pháp vô ngôn từ nơi thân giáo của Thầy. Phật pháp bất ly thế pháp, cứ mỗi năm đón xuân thời tiết, được chúc mừng tuổi thọ Thầy, Thầy lại lỳ xì cho chúng con.

 Liên tiếp ba mùa xuân (2012-2014)
                Thầy đều cho con lộc
                Nhưng từ khi gặp Thầy
                Con chưa từng thiếu thốn
                Thầy cho con xin nhận
                 Bằng tất cả tấm lòng
                Trân trọng biết ơn
                Thầy Dạy cho con cách sống.
Đủ rồi!
Tuy thân có chút bệnh duyên, nhưng tinh thần Thầy rất tĩnh tại, vẫn truyền đạt cho chúng con nhiều nguồn cảm hứng:

            Thầy là Thầy của chúng con
            Chúng con là đệ tử ngoan của Thầy
            Mỗi khi sum họp vui vầy
            Quây quần bên gối nghe Thầy đọc thơ
            Gá thân mộng, dạo cảnh mơ
            Tiếng chuông non đảnh bây giờ còn vang.

Thật vậy, tiếng chuông non đảnh đã đánh thức Thầy tìm đường tu học để giác ngộ lý sắc không, khôi phục Thiền tông đời Trần đã mai một qua bao thế kỷ, và tiếng chuông ấy vẫn còn ngân vang mãi mãi đến ngàn sau, để cảnh tĩnh những ai còn ngủ mê trong đêm dài tăm tối, tỉnh giấc quay về nguồn cội của chính mình.

4. Con nguyện:

        Tâm quy hướng Bảo Sở
         Không dừng nghỉ Hoá Thành
        Cúi xin Thầy chứng giám
        Nguyện đền ơn tái sanh.

Kính nguyện mười phương chư Phật, lịch đại Tổ Sư gia hộ Thầy thân tứ đại được điều hòa, sống lâu nơi đời làm tàng cây cổ thụ che mát quần sanh. Thiền viện Hương Hải ngày 10 tháng giêng năm Bính Thân (Nhằm 17/02/2016)

[ Quay lại ]