headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 20/08/2019 - Ngày 20 Tháng 7 Năm Kỷ Hợi - PL 2563 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
Vulan2018  Mong
LỄ AN VỊ PHẬT TỨ ĐỘNG TÂM Tại TVTL Chánh Giác

ANAN Đà



A NAN ĐÀ

ĐA VĂN ĐỆ NHẤT

1- NHÂN DUYÊN XUẤT GIA

Đang lúc tôi cầm viết để tả lại sự tích một đời của tôn giả A-nan-đà, bỗng nhiên tôi nhớ lại lời khen tặng của Bồ-tát Văn-thù về A-nan:

                            Tướng như thu mãn nguyệt
                            Nhãn tợ thanh liên hoa
                            Phật pháp như đại hải
                            Lưu nhập A-nan tâm.

            Dịch:
                            Tướng như trăng thu tròn
                            Mắt biếc tợ sen xanh
                            Phật pháp rộng như bể
                            Đều rót vào tâm A-nan.

Trong số các vị đệ tử của Phật, người có tướng mạo trang nghiêm, trí nhớ thật mạnh mẽ, phải kể đến tôn giả A-nan.

Tôn giả có một cuộc đời thật phi thường, đối với giáo đoàn đương thời và cho đến Phật pháp hôm nay đều có ảnh hưởng rất sâu xa.

A-nan-đà cũng như La-hầu-la, đều là đồng chơn vào đạo. Khi A-nan gia nhập Tăng đoàn, không biết vào khoảng mấy tuổi, điều này khó khảo chứng. Nhưng căn cứ vào truyền thuyết, trong nhóm các vương tử A-na-luật, Bạt-đề… đồng xuất gia thì A-nan là người nhỏ tuổi nhất tham dự trong ấy.

Phụ thân của A-nan là Bạch Phạn Vương, còn Đề-bà-đạt-đa là anh ruột. Sở dĩ, A-nan gia nhập Tăng đoàn trong tuổi đồng niên, vì đó là điều trông mong của đức Phật. Khi đức Phật trở về quê thuyết pháp, Bạch Phạn Vương sợ A-nan chịu ảnh hưởng về tư tưởng xuất thế của Phật, cho nên sau khi gặp Phật không lâu, nhà vua bèn đưa A-nan sang nước Tỳ-xá-ly, không để có cơ hội thường tiếp xúc với Phật. Khi Phật đi sang nước Tỳ-xá-ly, Bạch Phạn Vương lại đưa A-nan trở về thành Ca-tỳ-la.

Nói đến chỗ này thiệt là nhân duyên bất khả tư nghì. Trong số các vương tử, đức Phật hy vọng nhất là A-nan theo Ngài xuất gia. Buổi tương kiến đầu tiên, vừa thấy A-nan, đức Phật đã nghĩ thầm “Nếu như A-nan xuất gia, thì tương lai có thể thiệu long Phật chủng, khiến Phật pháp lưu truyền vĩnh viễn ở hậu thế”. Một nhân vật vĩ đại thì điều quan trọng là chọn người có thể nối tiếp sự nghiệp cho mình, xây dựng cho người ấy, đề cử người ấy thêm lên. Phật thành đạo không bao lâu, Ngài bèn chọn A-nan, thật là Ngài đã nhìn xa thấy rộng.

Phật biết A-nan đã trở về thành Ca-tỳ-la, bèn lập tức quay về và đến ngay cung điện của Bạch Phạn Vương, ngự tại căn phòng kế cận phòng của A-nan. A-nan mở cửa ngó qua thấy đức Phật bèn cung kính đảnh lễ, và lấy quạt quạt cho đức Phật. Qua thái độ này chúng ta có thể thấy rằng trong tâm hồn thơ bé của A-nan đã sớm khởi lòng tin tưởng cung kính đối với đức Phật.

Do đó, khi gặp cơ hội, A-nan bèn cùng các vương tử Bạt-đề… thế phát xuất gia, gia nhập Tăng đoàn.

2- GIÚP CHO NỮ GIỚI XUẤT GIA

A-nan dần dần lớn lên trong Tăng đoàn. Với thiên tánh ôn hòa, từ bi, dung mạo truyền cảm, tôn giả là nhân vật được phái nữ bên trong và bên ngoài Tăng đoàn tôn kính. Đối với các Tỳ-kheo ni, Tôn giả hết lòng lo lắng, với các tín nữ tại gia, Tôn giả thường ban cho họ niềm an ổn. Ở một chốn lạnh lùng nghiêm túc, chỉ dùng toàn lý trí như Tăng đoàn thì A-nan với dung mạo dễ mến và tình cảm phong phú, như vầng thái dương một sớm mùa đông làm ấm áp tâm tình của các cô.

Nếu như không có A-nan, ngày nay trong Tăng đoàn cho phép hay không cho phép người nữ xuất gia làm Tỳ-kheo ni? Điều ấy thật khó biết.

Nói về duyên khởi của nữ giới được hứa khả xuất gia theo chánh pháp, hoàn toàn do công lao của tôn giả A-nan-đà.

Số là hoàng hậu Kiều-đàm-di, em gái của Thánh mẫu Ma-da phu nhân, là dưỡng mẫu của Phật. Bà thấy sau khi Phật thành đạo trong vòng năm năm, trong dòng họ Thích có các vương tử Bạt-đề, A-na-luật… đầu tiên quy y Phật và xuất gia, vương tôn La-hầu-la cũng đã là Sa-di, vua Tịnh Phạn đã băng hà. Bà nghĩ trước, nghĩ sau, muôn phần cảm khái. Do thiện căn bắt đầu nẩy mầm, bà bèn đến xin đức Phật cho phép được ở trong Tăng đoàn xuất gia như pháp.

Bà yêu cầu lần thứ nhất, Phật liền từ chối. Bà lại yêu cầu đôi ba phen, cũng bị Phật không chấp thuận. Sau Phật sợ bị Di mẫu kèo nài phiền phức, bèn dẫn đồ chúng đi sang nước Tỳ-xá-ly, ngụ tại tinh xá Na-ma-đề-ni.

Di mẫu vẫn không nản lòng, bà tập hợïp năm trăm người nữ dòng họ Thích cũng đồng ý nguyện, cắt bỏ tóc tai, đi chân đất rời thành Ca-tỳ-la đuổi theo đến thành Tỳ-xá-ly. Ca-tỳ-la cách Tỳ-xá-ly khoảng hai ngàn dặm đường. Các vị phu nhân, tiểu thư này từ trước đến giờ chỉ quen ở thâm cung, lên xe xuống lầu, không hề động đến móng tay. Hôm nay, lại biến thành các vị ni cô, ba y một bát, đầu trần chân đất, lội bộ suốt hai mươi ngày đường. Dân chúng hai bên đường phần cảm động, phần hiếu kỳ, họ rủ nhau đi xem chật ních, có người còn dự bị thức ăn đem cho đoàn người cầu pháp. Và rốt cuộc các bà, các cô cũng đến được tinh xá Na-ma-đề-ni.

Lúc ấy trời đã về chiều. Vì không quen đi đường ai nấy đều thở không ra hơi, hình dung tiều tụy, mệt nhọc, cả đoàn cứ lẩn quẩn trước cửa tinh xá, chẳng dám bước vào. Thời may, A-nan trong tinh xá đi ra, thấy Di mẫu và năm trăm người nữ dòng họ Thích, đều mặc y phục Tỳ-kheo ni, bụi bặm lấm lem, nước mắt đầm đìa,

A-nan vốn giàu tình cảm, đã ngạc nhiên kêu lên:

- Các vị làm gì ở đây?

Di mẫu đáp:

- Chúng tôi vì muốn cầu đạo, cắt ái từ thân, bỏ nhà đến đây cầu xin được thế độ. Nếu như lần này Phật không cho phép, chúng tôi liều chết tại đây chớ không về.

A-nan nghe Di mẫu nói, cảm động rơi nước mắt, bèn an ủi:

- Các vị hãy yên tâm! Tôi thấy tình cảnh các vị như thế này trong lòng đã hết sức áy náy. Các vị hãy chờ ở đây một lát, tôi sẽ vào xin đức Thế Tôn giùm cho.
Nhà thầy A-nan trẻ tuổi lại đa cảm, vội trở vào tinh xá, đem hết nguyện vọng của Di mẫu và bọn người nữ thưa lên đức Phật, khẩn cầu Phật thương xót họ, cho phép được xuất gia.

Phật từ chối:

- Ta cũng thương cho bọn họ đấy, nhưng vì sự truyền thừa chánh pháp không thể chấp thuận được. Ông ra bảo họ rằng ta không bằng lòng.

A-nan không chịu đi ra, còn nài nỉ với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu là ai khác thì con có thể từ chối được, nhưng đằng này là Di mẫu, nếu nói thẳng chắc là sẽ có chuyện không hay. Họ đã nói chẳng thà chết chứ không chịu về.

- Này A-nan! Hứa khả cho người nữ xuất gia trong Tăng đoàn thiệt chẳng tiện chút nào!

- Bạch Thế Tôn! Chẳng lẽ Phật pháp lại phân biệt nam nữ hay sao? – A-nan cố xin giùm cho phái nữ, nên ở trước Phật ra sức vận động.

- Này A-nan! Pháp của ta dù ở cõi trời hay cõi người, đều một vị, ta không lựa riêng nam hay nữ, tất cả đều là chúng sanh đáng thương, ta đều đối xử bình đẳng. Người nữ có thể tin theo pháp của ta như bên nam giới, tu hành như nhau, chứng quả như nhau, chỉ không nhất định họ phải xuất gia. Đây là vấn đề pháp chế, không phải vấn đề nam nữ bình đẳng. Người nữ xuất gia như đám ruộng tốt sanh sản nhiều cỏ dại, không gặt hái được bao nhiêu.

Đức Thế Tôn nhìn xa thấy rộng nên lời nói của Ngài hàm chứa ý nghĩa đặc biệt. Đương nhiên nếu chiếu theo tình người thì nên cho phép nữ giới xuất gia, nhưng nếu đứng về mặt pháp lý, thì nam nữ cùng tu học trong một trụ xứ là một việc rất khó giải quyết. Trí tuệ và tình cảm là hai đường đối nghịch nhau, Phật không cho phép người nữ xuất gia chính vì điểm đó. Người nữ rất nặng tình cảm, họ có thể vì tình mà bỏ đạo, thôi tu. Đó là điều không thể chấp thuận. Hoặc có thể vì nữ nhân tâm ngã mạn, ham danh nặng hơn nam giới, nên Ngài không hứa khả cho xuất gia là muốn dạy cho họ một bài học.

Thiệt là Phật từ chối cứng rắn đến mấy, A-nan bản tính vốn ôn hòa chưa từng cãi đức Phật một câu, mà phen này cũng rơi lệ, sụt sùi đảnh lễ Phật, thưa:

- Bạch Thế Tôn! Chẳng lẽ Ngài nhẫn tâm để họ chết, mà không đưa tay từ bi cứu độ?

Phật thấy rằng trên đời này, pháp lý và tình cảm cũng có khi không thể vẹn toàn. Ngài cũng biết rõ mối quan hệ nhân duyên, không thể có một pháp nào trên đời này thanh tịnh, thường trụ bất biến mãi mãi được. Ngài trầm mặc giây lâu, rồi mới bất đắc dĩ bảo A-nan:

- Chẳng còn cách nào khác hơn. Thôi! Ông ra kêu họ vào đây.

Từ mệnh Phật vừa ban ra A-nan vui mừng vội vàng chạy ra báo tin vui, Di mẫu và năm trăm người nữ nghe tin cũng mừng rỡ đến rớt nước mắt.

Họ theo nhau vào diện kiến Phật. Ngài thản nhiên như không quan tâm đến, ôn hòa cho phép họ xuất gia làm Tỳ-kheo ni, nhưng yêu cầu phải giữ gìn Bát kỉnh pháp.

Với sự hỗ trợ của A-nan, rốt cuộc giáo đoàn Ni bộ được thành lập. Di mẫu rất cảm kích đối với ơn của A-nan, bà thành khẩn nói lên vui mừng của mình:

- A-nan! Chúng tôi vâng giữ Bát kỉnh pháp, cũng như người đẹp mà được mặc y phục mỹ lệ vậy.

Ngày nay, trong Tăng đoàn cho phép nữ giới xuất gia, đều là nhờ sự ủng hộ đầu tiên của A-nan. Do nhân duyên ấy, phái nữ đối với Tôn giả có duyên đặc biệt, Tôn giả là người rất được họ kính ngưỡng.

3- CÂU CHUYỆN VỀ MA-ĐĂNG-GIÀ

Vẻ đẹp và tuổi trẻ của A-nan đã gây ra nhiều chuyện phiền phức rối ren. Đó là câu chuyện về Ma-đăng-già.

Hôm ấy, sau mùa an cư, A-nan bưng bát đi vào thành Xá-vệ khất thực. Trên đường về đi ngang một giếng nước, có một cô gái dòng Thủ-đà-la đang lui cui xách nước, A-nan thấy khát, bèn đến bên giếng và nói:

- Cô nương! Xin bố thí cho tôi miếng nước.

Cô gái ngẩng đầu lên, thấy một vị Tỳ-kheo trẻ tuổi trang nghiêm và nhận ra đó là A-nan-đà. Cô vội nhìn xuống y phục của mình và thẹn thùng nói nhỏ:

- Thưa Tôn giả! Tôi không tiếc chi với Ngài, nhưng tôi thuộc dòng hạ tiện, làm sao có thể cúng dường cho Ngài?

A-nan an ủi:

- Này cô nương! Tôi đã là Tỳ-kheo không có tâm phân biệt cao thấp sang hèn đâu!

Cô gái bèn vui vẻ đem gàu nước trong trẻo đưa cho A-nan. A-nan uống xong, thốt lời cảm ơn và lặng lẽ tiếp tục đi.

Mối tình đầu chớm nở trong lòng cô thiếu nữ, cô không ngăn nổi tia mắt lưu luyến đưa theo hình ảnh A-nan. Dáng dấp quý phái cao sang của dòng vua ấy, lời lẽ ôn hòa ấy, như một nét mực đậm in trên tâm hồn trong trắng của cô, vĩnh viễn không thể xóa nhòa. Thậm chí cô lại vọng tưởng mơ mộng rằng, giá mà được kết hôn với A-nan thì hạnh phúc biết mấy mà kể.

Cô gái về đến nhà bơ phờ như người mất hồn, không thiết gì đến ăn uống, làm công chuyện qua loa rồi nằm vật trên giường suy tư miên man. Bà mẹ thấy vậy gạn hỏi duyên cớ. Ban đầu cô không chịu nói, hỏi đôi ba phen, cô mới yêu cầu mẹ mời A-nan về nhà, cô muốn A-nan làm chồng cô. Bà mẹ nghĩ hoài không ra, A-nan đã đi tu làm thầy Tỳ-kheo, mà lại thuộc dòng hoàng tộc làm sao cưới cô được? Nhưng vì lòng thương con gái, dù khó đến đâu cũng phải tìm cách thực hiện. Bà bèn đi thỉnh một đạo bùa chú của ngoại đạo, đợi A-nan đi khất thực ngang nhà, sẽ dùng chú thuật mê hoặc A-nan.

Ma chú linh nghiệm hay không, điều đó chẳng rõ, nhưng A-nan cũng còn nhớ cô gái bên giếng nước. Khi A-nan đi ngang qua nhà, nàng ra đứng trước cửa, nhìn A-nan cười chúm chím và đưa tay vẫy. A-nan mê mẫn bước vào trong nhà. Cô gái vừa mừng vừa thẹn lính quýnh cả lên. Ngay lúc ấy A-nan sực nhớ ra mình là một vị Tỳ-kheo, A-nan liên tưởng đến đức Phật. Đồng thời đức Phật dùng oai thần gia hộ cho Tôn giả Trí tuệ sáng suốt trở lại, giống như Ngài nổi một luồng gió đưa A-nan về tinh xá Kỳ Viên.

Ngày hôm sau, A-nan bình tĩnh lại, cũng đi vào thành khất thực. Lạ thay cũng gặp cô gái ấy, nàng mặc áo mới, đeo tràng hoa, đứng bên đường như chờ đợi A-nan. Cô vừa thấy Tôn giả liền lẽo đẽo theo sau một bên, như con thiêu thân bu theo ánh đèn không chịu rời một bước. Trước tình trạng này, A-nan chẳng biết tính sao, phải quay trở về tinh xá bạch với đức Phật. Đức Thế Tôn bảo A-nan gọi cô ta đến, Ngài sẽ đích thân nói chuyện với cô. A-nan vừa ra đến cổng, thấy cô nàng còn đứng đó, Tôn giả bèn hỏi:

- Tại sao cô cứ theo tôi mãi như vậy?

- Thầy thiệt là ngốc mới đi hỏi tôi một câu lẩn thẩn đến thế.

- Đức Thế Tôn muốn gặp cô, mời cô theo tôi về tinh xá.

Nghe nói đến đức Phật, cô gái đã lo sợ một phen, nhưng vì muốn đoạt được A-nan, cô lấy hết can đảm đến gặp Ngài. Phật thấy cô bèn nói:

- A-nan là người tu, nếu muốn làm vợ A-nan, điều kiện cần yếu trước tiên là phải xuất gia tu đạo một năm, nàng có chịu không?

- Phật-đà! Con bằng lòng.

Cô gái không ngờ đức Phật từ bi quá đỗi, đưa điều kiện hết sức dễ dàng để tác thành cho cô, nên cô chấp nhận một cách mau lẹ.

- Theo phép xuất gia của ta, phải có cha mẹ bằng lòng, nàng có thể mời cha mẹ đến chứng minh được không?

Đức Phật không làm khó dễ ai, điều kiện của Ngài cũng dễ thôi. Cô gái liền về nhà dắt mẹ đến. Bà mẹ cô cũng vui mừng đối trước Phật, để cô gái xuất gia tu hành rồi sau sẽ kết hôn với A-nan.

Cô nàng vì muốn làm vợ A-nan, rất cao hứng mà cạo tóc, mặc áo nhuộm, làm Tỳ-kheo ni. Cô đem hết nhiệt tâm nghe Phật thuyết pháp, và cũng rất tinh tấn y theo lời chỉ dạy của Phật tu tập. Ở trong giáo đoàn Tỳ-kheo ni, nàng hòa hợp với các sư tỷ, sư muội sinh hoạt theo Phật pháp.

Biển ái, tình si của cô dần dần lắng dịu. Xuất gia chưa được nửa năm, cô đã thức tỉnh rằng thái độ của mình trước đây thật đáng hổ thẹn.

Đức Phật thường giảng nói ngũ dục là pháp bất tịnh, là nguồn gốc của mọi khổ đau. Loài thiêu thân ngu si tự ném mình vào lửa để bị thiêu rụi, con tằm vô tri làm kén tự trói mình. Nếu như từ bỏ được ngũ dục, nội tâm được thanh tịnh, cuộc sống mới an ổn được.

Giờ đây nàng tự biết mình mê đắm A-nan thật là ý tưởng bất thiện, bất tịnh. Nàng hối hận vô cùng. Một hôm, nàng đến quỳ dưới chân Phật, khóc và sám hối:

- Bạch Thế Tôn! Con đã tỉnh mộng, con không dè lúc trước con ngu si đến mức như vậy. Hôm nay, con chứng được Thánh quả, được xem như đi trước A-nan, con rất cảm kích ân của Thế Tôn. Ngài vì hóa độ bọn chúng sanh ngu muội như con, đã dùng hết phương tiện và nhọc lòng dạy dỗ. Từ nay về sau, con nguyện suốt đời làm Tỳ-kheo ni, theo chân đức Thế Tôn, làm một sứ giả cho chân lý.

Sự giáo hóa khẩn thiết của đức Phật, cuối cùng đã thấm đọng vào tâm hồn mẫn cảm của thiếu nữ, nàng tỉnh ra thấy trời đất thanh lương, thành một bực Tỳ-kheo ni mẫu mực…

Tên nàng đã nổi danh là Ma-đăng-già. Đức Phật giúp cho một cô gái dòng hạ tiện xuất gia, điều ấy đối với giai cấp thâm nghiêm Ấn Độ, khiến cho nhiều người nghe được phê bình, phản đối. Nhưng bậc đại thánh Phật-đà đã nêu lên chủ trương bình đẳng, như trăm sông chảy về biển, bốn chủng tộc xuất gia đều là Thích tử. Nàng Ma-đăng-già vì yêu mến dung mạo của A-nan mà sau cùng chuyển họa thành phước. Giai thoại ấy đã lưu lại trong Tăng đoàn những lời bàn tán đẹp ngàn năm.

4- THUYẾT PHÁP CHO TỲ KHEO NI

Chính vì dung mạo đẹp đẽ và giàu tình cảm, mà không những các cô gái thế tục theo đuổi A-nan, cho đến các Tỳ-kheo ni cũng luyến mộ Tôn giả.

A-nan đối với ni giới thật là tận tình giúp đỡ, thêm vào đó có những nhân duyên đặc biệt, nên nữ giới, ngay cả các Tỳ-kheo ni đối với Tôn giả đặc biệt cung kính. Có lúc A-nan cùng Đại Ca-diếp trên đường hành hóa, ghé ngang một lan-nhã của các Tỳ-kheo ni, các cô đều đồng thỉnh A-nan khai thị trước, rồi sau mới mời đến Đại Ca-diếp. Luận về tuổi tác, hạ lạp, giới hạnh thì Đại Ca-diếp hơn A-nan xa, nhưng các Tỳ-kheo ni không kể đến chuyện ấy.

Cuộc sống của người xuất gia, về mặt tâm lý, như một bãi chiến trường. Lý trí và tình cảm thường giao tranh với nhau bên trong của mỗi nhà tu. Lý trí thắng thì thành Phật đắc Tổ, tình cảm thắng đương nhiên là phàm phu tục tử. Nếu nói rằng yêu cầu mỗi vị xuất gia đều lạnh lùng như cây khô, xác chết, không còn một chút ái tình của người đời thì chắc là khó được.

Ở Kỳ Viên tinh xá, có một vị Tỳ-kheo ni trẻ tuổi, thấy phong tư A-nan thanh nhã độ lượng, cô ôm ấp ngày đêm không thể quên. Nhưng cổ ngữ Trung Hoa có nói "Nam nữ thọ thọ bất thân" huống chi đây là chốn Tăng đoàn nghiêm trang cách biệt? Cô Tỳ-kheo ni ấy tuy thầm thương trộm nhớ A-nan, nhưng không thể đột xuất vào phạm vi giới cấm, trừ những lúc nhìn lén A-nan vài cái, ngoài ra không cách gì khác hơn.

Một hôm, Tỳ-kheo ni ấy mang bệnh. Cô nhờ người thưa với A-nan một lời “Thưa Tôn giả! Hiện giờ con đang bệnh nặng, không còn hy vọng bao nhiêu, xin Tôn giả từ bi đến thăm một phen!”

Lời yêu cầu đáng thương như vậy khiến A-nan động tâm. Sáng hôm sau, tôn giả đắp y mang bát trước khi đi khất thực, thuận tiện ghé thăm. Tỳ-kheo ni bệnh y phục không được chỉnh nằm tại giường, khi thấy A-nan đến gần dùng đôi mắt đa tình nhìn A-nan trân trối. A-nan thấy thái độ lãng mạn của cô, biết được chuyện không tốt liền quay lưng bỏ đi, không hỏi han gì cả. Cô ni nọ thấy A-nan đã đến gần, đột nhiên không nói một lời mà chuyển thân bước ra, nhất định Tôn giả đã bất mãn hành vi của mình. Cô sanh lòng hổ thẹn vội vàng ngồi dậy, đắp y, trải tọa cụ và thỉnh A-nan trở lại, mời ngồi tại tòa. A-nan liền khai thị:

- Này cô! Không nên dùng vật bất tịnh nuôi thân, không nên dùng kiêu mạn nuôi tâm, không nên chứa chấp tư tưởng tham ái, ý niệm dâm dục. Này cô! Khi đau bệnh nên để thân tâm an trụ nơi cảnh giới vô sở cầu thì mới mau lành mạnh.

Tỳ-kheo ni trẻ tuổi lúc này dường như quên thân phận xuất gia của mình, đưa mắt nhìn A-nan một cách tình tứ và nói:

- Chẳng phải tôi không biết đạo lý mà Tôn giả vừa nói. Nhưng đối với tôi, không được ăn ngon hay mặc đẹp, tôi cũng có thể chịu nổi, chỉ có tình cảm của tôi đối với Tôn giả, tôi đã hết sức chế ngự mà không được. Người ta ai cũng muốn được yên thân, ai cũng có một điều mong ước chứ!

- Này cô! Không nên nghĩ như vậy, chúng ta đi xin thức ăn, áo mặc là để giữ gìn thân mạng, giữ thân mạng là để tu đạo, tu đạo mới có thể an tâm. Bỏ quên đạo lý để chạy theo tìm cầu những dục lạc giả dối cho thân mình là một điều lầm lẫn. Người khách buôn thoa dầu vào bánh xe là để cho xe dễ chạy, người bệnh ghẻ xức dầu trên mình không phải để trang điểm, cũng không phải vì dục lạc, chỉ với mục đích trị bệnh mà thôi. Chúng ta dưỡng thân an tâm, cần yếu đoạn trừ ý niệm ái dục, lìa tâm ham vui. Xa rời tâm hữu lậu, cầu đạo chơn thật, đừng để cho các pháp vô thường hư huyễn làm mê hoặc.

Tỳ-kheo ni nghe rồi, cảm động sâu xa liền dứt sạch tâm niệm ái dục, chứng được vô sanh pháp nhẫn.

5- CHIA BÁNH MANG TIẾNG

A-nan vì những chuyện của các cô thường chuốc vào mình những điều phiền phức, bị người ganh ghét, phê bình, đức Thế Tôn cũng thường bận tâm vì Tôn giả.

Nhưng A-nan không giống như Ca-lưu-đà-di. A-nan không theo đuổi các cô, trái lại các cô cứ chạy theo A-nan. A-nan đối với họ bằng một tình cảm thuần khiết, không hề có một niệm ái dục, chúng ta xem lời khai thị của A-nan với Tỳ-kheo ni trên cũng đủ biết.

Dù cho Tôn giả đối với nữ giới chân chính thế mấy mà trong Phật giáo, phàm những việc gì dính dáng đến phái nữ, đều là sự chẳng lấy làm vinh dự lắm. Nam nữ luyến ái nhau, tuy chẳng phải là tội ác lớn nhưng vốn là hành vi bất tịnh.

Một hôm, Phật ngụ tại nước Xá-vệ, có một đàn việt làm rất nhiều bánh in đem cúng dường, Phật dạy A-nan đem bánh phân chia cho các Tỳ-kheo. A-nan chia xong, còn dư bánh khá nhiều, Phật lại bảo đem chia cho những người nghèo trong vùng.

A-nan vâng lời, nhóm họp hết những người bần khổ đến lãnh bánh. Có đến cả ngàn người kéo đến, A-nan tính số người với số bánh, thì vừa đủ một người một cái.

Khi A-nan đang chia bánh, trong số người lãnh phần có một thiếu nữ xinh đẹp thuộc nhóm ngoại đạo lõa hình. Khi chia đến cô, thiệt chẳng may, phần bánh lại có hai cái dính chung gỡ không ra. A-nan không biết tính sao, bèn đưa hết cho cô ấy. Đó chỉ là một sự vô tâm, nhưng mấy người hạ tiện đứng quanh thấy vậy bèn cơ hiềm. Một phần vì tật đố, một phần vì hiếu kỳ, họ xì xầm với nhau “Thầy A-nan đẹp trai, đem cho cô gái kia hai phần bánh in nồng hậu. Chắc hai đàng đã quen biết trước, có tình ý gì rồi đa.”

A-nan nghe mấy lời bàn tán, trong lòng không vui. Thiệt miệng người độc địa, chẳng biết phải cư xử ra sao mới vừa? Người tu hành, vốn đã chịu nhiều thua thiệt, mà thế gian đinh ninh rằng đã tu thì phải nhẫn nhục, họ lại hay nặng nhẹ cho tổn thương.

Đức Phật thường dạy các đệ tử nên tránh mọi cơ hiềm của thiên hạ, nhất là về vấn đề nam nữ. Chẳng cần biết ông tu hành chín chắn ra sao, nếu để bị mang tiếng dính dáng với nữ nhân, thì chắc chắn là cất đầu lên không nổi. Thật ra, đối với người chưa chứng Thánh quả mà nói hoàn toàn không mê sắc đẹp là chuyện không thể có. Nhưng bậc tu hành đối với ái dục nên phòng thủ chắc chắn, đề cao cảnh giác.

A-nan thường nghĩ đến việc bị khổ phiền vì chuyện đàn bà con gái. Một hôm, Tôn giả ngồi tư duy nơi chỗ vắng, nghĩ thầm “Người đời đều do ái dục mà sanh, sinh hoạt hằng ngày bị nhận chìm trong ái dục mà không biết chán. Họ vừa thích tìm cầu ái dục cho bản thân, lại vừa thích đàm tiếu chuyện ái dục của người khác. Ái dục đem lại nhiều khổ não, tranh đấu cho thiên hạ. Đức Thế Tôn thường quở trách ái dục, thật là có ý sâu xa.”

A-nan thuở giờ chưa nghĩ đến mấy chuyện này, đến khi vì chia bánh in cho cô gái đẹp bị mang tiếng nọ kia, Tôn giả mới thấm thía. Chiều xuống, Tôn giả đứng dậy, chỉnh y phục, đến trước Phật đem hết những cảm tưởng của mình bạch với đức Thế Tôn. Phật nghe xong, bèn kể cho A-nan nghe về một đoạn nhân duyên của Ngài trong đời quá khứ:

“A-nan! Ông nói đúng, người đời bị chìm trong biển dục không biết nhàm chán. Thời quá khứ, có một ông vua tên Đảnh Sanh dùng pháp ôn hòa trị dân, không cầm dao gậy chi cả mà người hung ác đều phục tùng. Nhưng nhà vua là một người tham dục, đắm sắc. Khi cai trị thì đi đến đâu cũng nghe nhơn dân ca tụng đức độ, nhưng về phần dục lạc lại quá đam mê. Bao nhiêu cung phi, mỹ nữ trong nước còn chưa đủ, nhà vua lại tuyển chọn thêm giai nhân của các nước. Nhà vua bị đoanh vây trong ngũ sắc, cung tần ái phi hầu hạ ngày đêm, nhà vua cũng không vừa ý, tính chuyện giết luôn quốc vương nước bạn để đoạt lấy hoàng hậu. Rốt cuộc vì tham dục quá độ, chìm đắm trong bể sắc, triều chính ngày càng bê trễ, bị nhân dân nổi loạn, vương quyền tiêu tan, nhà vua phải chịu những ngày tàn thê thảm.

A-nan! Tham dục không biết chừng tai hại đến như thế. Vua Đảnh Sanh đó là một tiền thân của ta.”

A-nan nghe Phật khai thị xong, tự nghĩ một người ôn nhu như mình, cũng giống vua Đảnh Sanh, lại càng phải gấp hạ thủ công phu xa lìa ái dục.

6- LÀM THỊ GIẢ PHẬT

A-nan từng được Phật chấm là người có thể nối thạnh Phật pháp. Tôn giả đặc biệt bị nhiều nữ nạn, nên vì muốn A-nan giữ được bản thân chuyên tâm tu đạo, Phật nghĩ đến việc chọn A-nan làm thị giả. Đó là vào khoảng thời gian đức Thế Tôn trên năm mươi tuổi, Ngài trụ tại tinh xá Trúc Lâm, việc tuyển chọn này xảy ra.

Trước đó, khi Phật thành đạo không lâu, hầu cận Ngài có hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Sau lại đến Tỳ-kheo Na-ca-ba-la (Migajàla) cũng từng làm thị giả. Có thể nói, trong hai mươi năm, đức Thế Tôn không có thị giả thường trực cố định, các Tỳ-kheo thay phiên nhau hầu Phật.

Đức Thế Tôn ngày càng già, cần có một vị thị giả túc trực bên cạnh. Các đệ tử Tỳ-kheo bèn triệu tập một buổi họp, đề cử một vị thị giả. Phiên họp này các đệ tử thượng thủ rất đông, trong số đó, trước tiên là Kiều Trần Như đứng dậy xin làm thị giả Phật. Tôn giả là một trong năm vị Tỳ-kheo vốn là cựu thần theo Phật trong thời kỳ Ngài tu tập khổ hạnh. Có thể nói tôn giả là vị Tỳ-kheo đầu tiên trong giáo đoàn. Tuổi tác của tôn giả tuy lớn hơn Phật, đem tấm lòng thành xin suốt đời hầu hạ Thế Tôn. Nhưng đức Phật không hứa khả. Ngài nói rằng tôn giả đã già nua, chỉ cần tự lo cho mình cũng đủ rồi. Kế đó, cũng có nhiều vị xin làm thị giả Phật, Phật đều từ chối, bảo các vị hãy lo đi hóa đạo nơi khác. Lúc ấy, tôn giả Mục-kiền-liên biết ý Phật, bèn rủ Xá-lợi-phất đến khuyên A-nan:

- Tỳ-kheo A-nan! Ý đức Thế Tôn chọn ông làm thị giả. Giống như tòa lâu đài mở cửa về phía Đông, ánh nắng sẽ chiếu thẳng đến vách phía Tây. Ông còn trẻ, mau mắn, thông minh nhu hòa, chúng tôi mong rằng ông sẽ bằng lòng.

A-nan nghe nói, thấy trách nhiệm quan trọng bèn từ chối. Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cố khuyên mãi, Tôn giả mới đưa ra ba điều kiện:

                * Một, A-nan không mặc y phục thừa của đức Phật, dù cũ hay mới.
                * Hai, nếu có Phật tử thỉnh Phật cúng dường, A-nan không đi trước.
                * Ba, không phải thời đến gặp Phật, A-nan không đến.

Ngoài ra đều xin theo hầu Phật như ý.

Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất đem ý của A-nan bạch lại với Thế Tôn – đối với Phật mà cũng ra điều kiện. Nhưng đức Phật chẳng những không giận, mà còn rất hoan hỷ khen A-nan:

- A-nan thật là vị Tỳ-kheo có phẩm cách. Ông ấy đưa ra các điều kiện trên là để tránh sự cơ hiềm, đó là sự dự phòng chánh đáng. Tỳ-kheo A-nan sợ các thầy

khác phê bình rằng: "Thầy A-nan vì muốn mặc áo đẹp, ăn ngon mới làm thị giả. A-nan vì vật chất mới theo hầu Phật". Ông ấy biết lo xa nên mới yêu cầu như vậy.

Từ khi A-nan làm thị giả Phật lúc ấy khoảng hai mươi tuổi. Trong hai mươi bảy năm theo bên cạnh đức Thế Tôn, Tôn giả luôn luôn vâng theo ý Phật, hành động theo lời dạy của đức Thế Tôn, thường xuyên túc trực bên Ngài, đi các nơi giáo hóa. Do nhân duyên ấy mà tất cả biển Phật pháp đều rót vào tâm A-nan.

Tỳ-kheo A-nan, mỗi ngày ở cạnh đức Phật, sự phiền nhiễu về người nữ giảm dần, và tôn giả nghiễm nhiên là người trung gian giữa Phật và các Tỳ-kheo.

Sống trong Tăng đoàn, A-nan thường giữ tánh khiêm tốn, kính nhường, biết tàm quý. Rất nhiều tín chúng nhờ quen biết với A-nan mà đến quy y với Phật. Tuy trước đây, A-nan hay bị những rắc rối với phái nữ khiến thiên hạ có những lời phê bình chẳng hay ho, đến khi một phen gánh vác trọng trách, Tôn giả đã tu dưỡng rất thuần thục.

7- TÌNH BẠN TRONG PHẬT PHÁP

Đã là thị giả Phật, mà lại chưa khai ngộ, nhưng trong Tăng đoàn vẫn xem A-nan đồng bậc với các vị thượng thủ đáng kính. Kỳ thật là vì tâm tính của Tôn giả ôn hòa khiến cho ai ai tiếp xúc qua đều cảm thấy mát như gió xuân. A-nan đối với người không hề đưa điều tốt của mình ra, hoặc nói cái dở của người. Luôn luôn ẩn ác dương thiện, tận tâm giúp đỡ mọi người cho họ được dễ dàng. Mỗi khi cùng ngoại đạo luận bàn Phật pháp, cũng chỉ hiển chánh mà không phá tà. Tôn giả chưa từng có ý hại người để lợi mình, Tôn giả như tia nắng xuân ấm áp từ từ làm tan băng giá.

Khi ở tại tinh xá Trúc Lâm, A-nan đã từng khiến ngoại đạo Câu-già-na không dám đưa vấn đề đến hỏi khó Tăng đoàn. Ở vườn Cù-sư-la, Tôn giả cũng khiến ngoại đạo Chiên-đà cảm động, hoan hỷ phụng hành Phật pháp. A-nan tuy không hề biện luận thao thao với ngoại đạo, nhưng danh tiếng của Tôn giả đối với họ không nói cũng biết.

A-nan có duyên với chúng sanh, nên trong số bạn bè tục gia, và các thầy Tỳ-kheo, rất nhiều người kết giao với tôn giả. Tôn giả thích nghe người thuyết pháp, cũng thích thuyết pháp cho người nghe. Phật từng nói A-nan chỉ cần nhìn qua diện mạo và thái độ của người, cũng đoán biết được tánh tình người ấy. A-nan đối với cư sĩ, như mẹ hiền thương con, còn đối với bậc trưởng lão thượng túc, lại ôn hòa như em út.

A-nan có một người bạn cư sĩ tên Lư-gi, ở tại thành Ba-sa. Một hôm, đức Thế Tôn dẫn các đệ tử quang lâm đến đấy, bộ tộc Ma-la trong thành rất vui mừng cung nghinh. Họ cùng ước định, người nào không ra đón Phật sẽ bị phạt hai trăm đồng vàng. Lư-gi lại là người không có một chút lòng tin Phật pháp. Trừ A-nan, ông không hề tôn kính một người xuất gia nào, dù đó là đức Phật.

Nhưng hôm ấy, Lư-gi cũng có mặt trong đoàn người cung đón Phật, A-nan thấy bạn một phen ngạc nhiên. Hỏi ra thì ông ta nói rằng vì sợ bị phạt hai trăm đồng vàng nên phải ra đón Phật. A-nan nghe xong chẳng vui nhưng vẫn nhiệt tình tiếp đãi bạn. Sau đó, trong lúc nghỉ ngơi, A-nan đem chuyện Lư-gi thưa với Phật. Phật rất thông cảm, cho là y đáng thương và bảo A-nan tìm cách đưa y đến gặp Phật. Phật khai thị rất nhiều, sau cùng Lư-gi cởi mở tâm tình, phát tâm quy y Tam bảo, giữ ngũ giới.

Về sau Lư-gi thường mang các thứ y phục, thức ăn, thuốc men, ngọa cụ… đến cúng dường Phật. Và cảm tình của A-nan đối với bạn càng thân thiết, vốn xưa là bạn cũ, bây giờ lại cùng một thầy, nên A-nan xem gia đình bạn như gia đình mình.

Một hôm, A-nan cần ít thước vải bèn đến nhà Lư-gi xin. Hôm ấy, Lư-gi đi vắng. A-nan nghĩ rằng: “Đã đến đây, chẳng lẽ về tay không”, bèn thực tình nói với vợ con Lư-gi đem vải ra, tùy tiện chọn một tấm mang về. Lư-gi lúc sau nghe vợ con nói lại, bèn vội đến tinh xá, hỏi A-nan:

- Sao Tôn giả không chọn thứ vải tốt, lấy làm gì cái thứ vải thô ấy?

- Tôi không cần vải tốt. Tôi chỉ chọn vải thô để làm khăn tắm, thay thế bạn cúng dường cho các vị Thượng tọa đấy thôi.

Cảm tình giữa hai người thân thiết như vậy, đương nhiên có một số người trong Tăng đoàn phản đối thái độ tự nhiên ấy, nhưng đức Phật không hề ngăn cấm việc làm của Tôn giả.

A-nan làm thị giả, tuy không giống tinh thần hoạt động tân tiến của Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, mà cũng không giống sự bảo thủ của Đại Ca-diếp. A-nan là người ôn hòa, nên tánh tình rất mực trung dung.

A-nan từng tiếp tay với đức Phật, khuyên bảo thầy Tỳ-kheo Quật-đà – nhà thầy vì ái dục nên muốn ra đời – A-nan cổ động thầy tu hành cho đến chứng Thánh quả. Tôn giả cũng từng điều hòa những tranh chấp trong Tăng đoàn, khiến kẻ ưa gây gổ biết phục thiện. Ở tinh xá Kỳ Viên, A-nan từng đàm luận với Xá-lợi-phất về vấn đề “diệt đế”, “sáu xúc chạm”. Ở thành Ba-liên-phất, cùng Bạt-đà-la đàm đạo các vấn đề, ở nước Câu-diệm-di nói các yếu điểm tu đạo cho các Tỳ-kheo, tại Đông viên từng thay Phật nhận lời thỉnh của các Tỳ-kheo đi trước thuyết pháp, khen ngợi lòng hiếu của Mục-kiền-liên, tuyên dương sự thuyết pháp của Phú-lâu-na. Trong và ngoài giáo đoàn, Tôn giả đối với mọi người đầy pháp tình hữu nghị, đủ để biểu lộ hết tư cách và nhiệm vụ của một đại đệ tử.

8- ÔNG ANH ĐÁNG GIẬN

Người mà A-nan giận nhất trong đời, phải kể là ông anh Đề-bà-đạt-đa.

Đề-bà-đạt-đa cũng là một trong bảy vị vương tử đầu tiên xuất gia theo Phật. Có thể vì ham vui mà đi theo chứ không phải phát tâm chân chánh, nên sau khi xuất gia ông không an tâm tu hành, hay khoe điều kỳ lạ để lòe người, và muốn đắc thần thông.

Tuy là anh em ruột, nhưng A-nan và Đề-bà-đạt-đa tánh tình khác xa. Đề-bà-đạt-đa vốn nhiều dã tâm mà không an phận. Đức Phật thường khuyên ông nên hoàn tục làm cư sĩ ủng hộ Phật pháp, không nên ở trong Tăng đoàn tạo tội, nhưng ông không nghe.

Ông yêu cầu Phật dạy về pháp môn thần thông, nhưng Phật bảo ông trước hết phải tu tập cho thân tâm thanh tịnh, không nên tham cầu phép lạ, vì thần thông và phép lạ không đủ tiêu biểu cho đức hạnh. Sau khi Phật từ chối, ông rất tức giận, lại đến nài nỉ Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, các vị đại A-la-hán dạy thần thông cho mình. Xá-lợi-phất và các vị biết tánh ông hung ác cũng đều từ chối, chỉ dạy ông tu quán đạo lý khổ, không, vô thường, vô ngã.

Do đó, Đề-bà-đạt-đa ôm lòng phản nghịch. Ông nghĩ rằng không tiêu diệt đức Phật thì không thể tự do tung hoành. Và thề từ nay về sau không đội trời chung với Phật.

Một hôm, A-nan cùng đức Phật đi ngang qua núi Kỳ-xà-quật, gặp lúc Đề-bà-đạt-đa đang đi dạo trên đỉnh núi. Vừa thấy Phật, ông biết đây là cơ hội ngàn năm, bèn vần một tảng đá to nhắm ngay đức Thế Tôn xô xuống. Thấy có em mình là A-nan theo bên Phật, Đề-bà cũng chẳng kể tình ruột thịt, xô tiếp luôn tảng đá. Bên dưới đức Thế Tôn vẫn đứng yên, còn A-nan phải nhảy tránh ra xa. Tảng đá rớt bên chân Phật. Một lúc sau, A-nan mới hoàn hồn hỏi thăm Phật:

- Bạch Thế Tôn! Ngài không việc gì chứ? Chuyện này chắc lại do Đề-bà-đạt-đa gây ra. Con thật không giữ nổi bình tĩnh. Thế Tôn gặp cảnh nguy hiểm quá.

Phật an nhiên đáp:

- A-nan! Dùng bạo lực hoặc âm mưu để hại Phật, đều không thể được. Trước kia, Đề-bà-đạt-đa sai người giết lén ta, rồi thả voi say, bây giờ thì xô đá rớt đè. Nhưng ông đừng lo, người nào tạo nghiệp người ấy sẽ chịu hậu quả. Ta không thấy ta gặp nguy hiểm mà thấy ông bị một phen hoảng sợ, ông xem ông vừa làm gì đấy?

Đạo lực của A-nan làm sao sánh bằng Phật, Tôn giả hổ thẹn, cười và thưa:

- Con vừa mới hoảng kinh nhảy lên, đã bị Thế Tôn bắt gặp.

Phật cũng cười, vỗ nhẹ A-nan rồi hai thầy trò tiếp tục đi.

Cách đó không lâu, một hôm khác, A-nan theo Phật du hóa, trên đường đi bỗng gặp Đề-bà-đạt-đa dẫn nhiều người đi ngược chiều sắp đến. Đức Phật bèn vội tránh sang đường khác, đi một bên đường mòn. Tuy bản tánh ôn hòa, A-nan cũng không dằn được bực tức, bèn thưa:

- Bạch Thế Tôn! Sao Thế Tôn lại né tránh Đề-bà-đạt-đa? Ông ấy là đệ tử Phật, chẳng lẽ Ngài lại sợ ông ấy sao?

Phật biết tâm A-nan bất bình, bèn an ủi:

- A-nan-đà! Ta chẳng phải sợ gì ông ấy, nhưng ta không muốn gặp mặt. Cần gì phải tiếp xúc với người ngu? Như đánh nhằm chó điên ắt là bị cắn bậy. Với người đầy ác tâm như ông ấy, không gặp mặt, không phải là tốt hơn sao?

Thầy nhường lối đi cho trò, đó là chuyện xảy ra thông thường cho những hạng đệ tử như Đề-bà-đạt-đa.

A-nan nghe Phật dạy, tuy vẫn còn bực mình nhưng không nói thêm nữa.

Một lần khác, Đề-bà-đạt-đa đến quấy rối đạo tràng của đức Phật. Phật đang tịnh tọa trong thất, y bèn đứng ở giảng đường la lối:

- Các thầy! Ai tin theo ta thì đến đây!

Mặc cho y nói gì thì nói, các Tỳ-kheo chẳng thèm đếm xỉa đến. Đề-bà-đạt-đa quay sang A-nan:

- A-nan! Mi là em ta, mi dám không tin lời nói của ta hử?

Một bề ôn hòa nhã nhặn như A-nan mà lúc đó cũng chịu không được, đáp thẳng thừng:

- Hôm nay may cho anh lắm đó. Nếu có mặt hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên ở đây, chắc không để cho anh thao túng như vầy. Đức Thế Tôn đang tịnh tọa, xin anh đừng làm ồn. Anh hung ác quá đỗi, nghĩ đến lúc sau này anh gặp quả báo dữ, tôi thật buồn cho anh!

Đề-bà-đạt-đa nổi giận, muốn động thủ đánh A-nan, nhưng thấy A-nan chưa bao giờ nổi xung đến như vậy bèn không dám nhấc tay, chỉ làm thinh bỏ đi.

Ít lâu sau, ác báo của Đề-bà-đạt-đa xảy ra hiện tiền, phải chết một cách thê thảm. Trong lòng A-nan nghĩ đến một ông anh như Đề-bà-đạt-đa, thật là khó quên.

9- LỜI DỰ ĐOÁN CỦA PHẬT

A-nan làm thị giả Phật trong hai mươi bảy năm thật đắc lực. Mỗi khi có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni và các tín đồ tại gia đến tham bái Phật, Tôn giả đều sắp đặt thời gian thích hợp. Các Tỳ-kheo ở xa đến viếng Phật, khi chưa được gặp Phật, cũng rất thích nói chuyện với A-nan. Tất cả mọi người đều tin tưởng thân thiết nơi Tôn giả. Còn các Tỳ-kheo ni rất thích nghe Tôn giả giáo giới. Mỗi khi Tôn giả bảo:

- Các chị em! Nên tuân giữ giới luật cẩn thận!

Ai nấy đều hoan hỷ tiếp thọ.

Các tín đồ nam nữ tại gia cũng rất thích nghe A-nan thuyết pháp. Tôn giả thường dạy họ tôn kính Tam Bảo, giữ năm giới, phụng dưỡng song thân, cúng dường Tăng chúng. Họ thích A-nan giảng dạy mà không thích A-nan làm thinh. Tôn giả còn là người chưa khai ngộ, mà đã có đầy đủ những đức tốt như thế.
Theo hầu bên Phật đi hóa đạo khắp nơi, thấm thoát A-nan đã năm mươi tuổi.

Một hôm, Phật ở tại giảng đường nơi thành Xá-vệ của vua Ba-tư-nặc, A-nan đứng hầu, trên mặt lộ vẻ buồn lo. Phật hỏi A-nan vì sao ra như vậy. A-nan mới thưa rằng trong một đêm, Tôn giả nằm mộng thấy bảy việc kỳ lạ cổ quái khiến lòng hoang mang lo sợ. Phật liền hỏi:

- Ông nằm mộng thấy bảy việc gì?

- Bạch Thế Tôn! Giấc mộng thứ nhất, con thấy nước ở sông to, biển cả đều bị lửa đốt cháy, ánh lửa bốc lên thấu trời xanh.

Đức Phật nghe xong đổi sắc mặt, dường như cảm xúc và giải thích:

- Này A-nan! Bậc thánh vốn không nói chuyện mộng mị. Nhưng mộng của ông quả thật kỳ quái. Nước sông ngoài biển cả bị lửa thiêu trọn, đó là tượng trưng cho các Tỳ-kheo trong Tăng đoàn tương lai, ác nghịch mạnh, tâm lành ít ỏi, chấp giữ vào sự cúng dường rồi lại sanh ra gây gổ, như nước trong lặng mát mẻ lại biến thành biển lửa. Giấc mộng thứ hai của ông ra sao?

- Bạch Thế Tôn! Con thấy mặt trời sắp lặn, thế giới Ta-bà tối đen, trên bầu trời không có lấy một ngôi sao!

Đức Phật đã tám mươi tuổi, lúc ấy rất cảm khái giải thích:

- Này A-nan! Không bao lâu ta sẽ vào Niết-bàn, các đại đệ tử cũng Niết-bàn, điều ấy biểu thị bằng con mắt của nhơn thiên sắp tiêu diệt. Còn giấc mộng thứ ba?

- Bạch Thế Tôn! Con thấy các Tỳ-kheo không theo lời Phật dạy mà cũng đắp ca-sa, chúng xuất gia rớt dưới hầm, còn hàng tại gia thì đi trên cầu.

Phật thốt nhiên thở dài nói:

- A-nan! Điều ấy ám chỉ Tỳ-kheo đời sau mở đại hội giảng kinh chỉ nói ngoài miệng, không phụng hành, họ lại tật đố hại nhau, không sợ nhân quả, rốt cuộc bị đọa lạc. Hàng cư sĩ thừa cơ lên tòa cao, khinh chê Tăng bảo. Họ xâm chiếm chùa chiền, phỉ báng Tỳ-kheo, hủy hoại tháp miếu. Còn điềm mộng thứ tư?

- Bạch Thế Tôn! Con thấy Tỳ-kheo pháp y không đủ, bị mắc kẹt trong đám gai.

Phật lại cảm xúc nói:

- A-nan! Điều ấy nói rằng các Tỳ-kheo sau này bỏ pháp y không mặc, xả giới luật, ưa thế tục, nuôi nấng vợ con, đó thật là bất hạnh cho Phật pháp! Mộng thứ năm ra sao?

- Bạch Thế Tôn! Con thấy trong rừng rậm um tùm, có rất nhiều heo rừng đào bới gốc rễ các đại thọ chiên đàn.

Phật lộ vẻ lo buồn nói:

- Ôi! Điều đó nói các Tỳ-kheo sau này chỉ tính toán về sinh kế, buôn bán Như Lai, tụng kinh làm nghề nuôi thân. Còn mộng thứ sáu?

- Bạch Thế Tôn! Con thấy voi lớn bỏ rơi voi con, sư tử là chúa loài thú chết, hoa thơm rơi trên đầu, cầm thú kinh sợ bỏ chạy. Chẳng bao lâu trong thân sư tử sanh trùng bọ, trở lại cắn rỉa thịt sư tử.

Phật chỉ còn biết lắc đầu nói:

- Voi lớn bỏ voi con, đó là điềm báo hiệu các Tỳ-kheo trưởng lão đời sau tự lo lợi riêng, không nâng đỡ lớp thanh niên hậu bối! Trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử, đó là ám chỉ không phải ngoại đạo phá hoại Phật pháp, mà chính hàng đệ tử xuất gia, tại gia tự phá hoại pháp của ta. Còn giấc mộng thứ bảy của ông ra sao?

- Con thấy đầu con cao ngang đỉnh núi Tu-di.

Phật trầm ngâm hồi lâu mới nói:

- A-nan! Sau ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết-bàn. Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Trời, người dân chúng đều nhờ ông kết tập kinh điển.

Bảy điềm mộng của A-nan, qua sự giải thích của Phật, đã dự đoán sự suy đồi của Phật giáo về sau, và sự đổi thay của thời đại.

“Như trùng trên thân sư tử, lại ăn thịt sư tử” đó là điều chê cười hàng đệ tử Tăng tục hiện nay. Chỉ thị ấy đối với chúng ta là một sự đau đớn khốc liệt thấu xương.

Chúng ta có thể phỏng đoán, vào những năm đức Phật về già, vì các điềm mộng của A-nan mà giải nói một cách cảm khái như vậy, tâm tình thật trầm trọng.

Hổ thẹn cho chúng ta sanh nhằm thời mạt pháp, phải làm thế nào để cho đức Thế Tôn hoan hỷ, để cho lời dự đoán kia không thành sự thật.

10- BÊN GIƯỜNG NIẾT BÀN HỎI DI GIÁO

Đức Thế Tôn thành đạo đã bốn mươi chín năm, đã đến lúc nhập Niết-bàn. Ngài tuyên bố sẽ nhập diệt ở nơi rừng Ta La Song Thọ, thành Câu-thi-na, cách Ca-tỳ-la khoảng ba mươi dặm.

Như mặt trời sắp lặn lóe lên tia sáng cuối cùng, trước khi Niết-bàn từ kim thân đức Thế Tôn phóng ra ánh hào quang đặc biệt khác thường. A-nan theo hầu bên Ngài nhận được sự chiêu cảm ấy, và do sức huân tu bên cạnh bậc đạo sư, đức huệ của Tôn giả ngày càng thành thục.

Đức Thế Tôn nằm kiết tường trên sàng tòa do A-nan trải sẵn, đầu quay về phương Bắc. Lúc ấy mặt trời đã chìm ở cõi Tây, bóng tối mông lung phủ đầy, cây Ta-la không phải kỳ trổ hoa mà vẫn nở, không cần gió đưa mà từng phiến hoa lác đác rơi quanh thân đức Bổn sư. A-nan quỳ bên gối Phật, nhẹ giọng thưa hỏi:

- Bạch Thế Tôn! Về sau đối với người nữ, chúng con phải có thái độ thế nào? Xin Thế Tôn nói lại một lần nữa cho con rõ.

- A-nan! Ngươi muốn xa lìa phiền não, đạt đến chứng ngộ không thể bận tâm vì nữ nhân. Nhất là ông, tuy bây giờ đã lớn tuổi rồi đó, nhưng ông không tiếp xúc với họ vẫn tốt hơn. Nếu bắt buộc phải tiếp xúc nên xem người già như mẹ, người lớn như chị, người nhỏ như em. Này A-nan! Ông phải nhớ kỹ lời ta đấy!
Đức Thế Tôn trả lời vấn đề ấy xong, lại dạy rõ về cách thức trà tỳ, xây tháp, mỗi mỗi dặn dò. A-nan vốn tình cảm yếu đuối, nghe những lời Phật dạy, nghĩ đến đây là lời dạy bảo sau cùng của đấng Đạo sư, mủi lòng rơi lệ. Tôn giả không dám quỳ bên Phật, vội lùi ra sau rừng cây khóc lóc một phen.

A-nan nghĩ đến lúc Thế Tôn vào Niết-bàn, các đại đệ tử khác đều đã khai ngộ, chỉ còn ta, sau này sẽ nương vào ai để đạt đạo đây? Nghĩ đến từ nay về sau không còn ân sư để hầu hạ, Tôn giả lại càng buồn đứt ruột.

Đức Phật không thấy A-nan bên cạnh, bèn sai người ra kêu Tôn giả vào. Ngài lại dạy tiếp:

- A-nan! Ông không nên buồn rầu! Có hội họp phải có biệt ly, có hưng thạnh thì có lúc suy diệt, ta chẳng từng nói với ông đó ư? Thế gian là vô thường, có sanh ắt có tử, cỗ xe đã hư nát rồi mà còn tìm cách sửa chữa lại để xài, đó không phải kế lâu dài. Sắc thân hữu vi phải bại hoại. Đứng về pháp tánh thì ta luôn luôn chiếu cố đến các ông. Ông theo làm thị giả ta rất lâu, ân cần nhẫn nại, ông đối với ta không hề thiếu sót, ta đem công đức ấy đền đáp cho ông. Ông nên dụng tâm tinh tấn tu tập chẳng bao lâu sẽ đoạn dứt phiền não, chứng Thánh quả!

Đức Thế Tôn nói đến đó, A-nan lại cảm xúc khóc không ra tiếng. Đức Thế Tôn nhìn quanh đại chúng nói tiếp:

- Này các Tỳ-kheo! A-nan làm thị giả ta rất trung thành, theo bên ta bao nhiêu năm một mực ôn hòa tử tế, nghe kinh pháp không quên sót, tương lai sau này công đức của ông ấy sẽ rạng rỡ trên thế gian.

A-nan tay bưng mặt, lại đi ra chỗ khác. Lúc ấy nhằm trăng tròn tháng hai, ánh trăng trong vắt trải khắp rừng Ta-la. Tâm tưởng của đức Thế Tôn tịch nhiên cao vọi thấu suốt hết tất cả hội chúng. Nét mặt mọi người đều hiện ra vẻ trang nghiêm vô cùng và lúc đó ai cũng khóc lóc bi thương, dù rằng bậc Thánh đi nữa cũng không ra khỏi tình người!

Đại chúng cứ khóc hoài chẳng nín, chẳng biết nước mắt dùng làm gì trong lúc này? Đúng hơn là phải đưa vấn đề làm sao để cho Phật pháp tồn tại lâu dài ra thưa hỏi Thế Tôn. Mọi người thương lượng với nhau, rồi lại tìm A-nan, cử Tôn giả đến hỏi Phật mấy vấn đề:

                    + Thứ nhất, Thế Tôn Niết-bàn rồi lấy ai làm thầy?
                    + Thứ hai, sau khi Phật Niết-bàn, an trụ như thế nào?
                    + Thứ ba, làm sao hàng phục kẻ ác?
                    + Thứ tư, khi kết tập kinh điển làm sao mọi người có thể tin?

 Đức Thế Tôn an nhiên như thường lệ, từ bi vui vẻ trả lời:

- Này A-nan! Các ông nên nhớ kỹ, các ông nên y theo giới luật làm thầy, an trụ trong tứ niệm xứ, gặp người hung ác mặc tẫn lánh đi, đầu kinh nên để “Tôi nghe như thế này…” khiến người tin được. Các ông nên làm đúng như pháp, pháp là nơi thường trụ của pháp thân ta.

Thế Tôn nói xong, mọi người nghe rồi lại cảm động, lại thương tâm!

                    Tiếng nói ấy uy nghiêm làm sao!
                    Thế Tôn vào Niết-bàn ngay khi ấy.

Đệ tử các nơi nghe tin đều tập hợïp kéo về. A-nan nghĩ đến lúc đức Thế Tôn còn tại thế, hàng nữ nhân ít có người được thấy Phật tham bái. Lúc này, Tôn giả bèn ưu tiên cho các Tỳ-kheo ni và các tín nữ đến đảnh lễ di hài Thế Tôn trước. Tôn giả luôn luôn thông cảm với người nữ.

11- THAM DỰ CUỘC ĐẠI HỘI KẾT TẬP

Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn rồi. A-nan như con thơ mất mẹ, dự lễ trà tỳ viên mãn, tôn giả một mình trở về tinh xá tưởng niệm ân sư. Trải qua mấy ngày mỏi mệt, thân thể đau đớn, Tôn giả bèn đóng cửa thất tịnh tọa, mỗi ngày chỉ uống một ít sữa, không ăn gì thêm, không nói một lời như thế suốt ba ngày.

Ba ngày sau Tôn giả lên đường về thành Vương Xá phương Nam, vì đã gần ngày kết tập kinh điển. Tuy A-nan chưa khai ngộ, nhưng Tôn giả có địa vị trọng yếu trong giáo pháp, Tôn giả không thể không vì pháp quên mình, và trước hết báo đền pháp thân huệ mạng cho đức Thế Tôn.

Trên đường đi, một phen ngang qua nước Tỳ-xá-ly, có thầy Tỳ-kheo vẫn thường theo bên Tôn giả từ trước đến nay, bỗng tản lạc đi đâu. Tôn giả về đến thành Vương Xá, bị Đại Ca-diếp quở trách một phen, cũng lặng thinh chịu tội.

Lúc Tôn giả về đến thôn Kim Cang, nước Tỳ-xá-ly, khoảng một tháng sau đức Thế Tôn Niết-bàn. A-nan là cao đệ thường trực bên cạnh Phật, nên những tín chúng ngưỡng mộ Thế Tôn, nghe tin tự nhiên kéo đến bên tôn giả. Mỗi ngày họ tụ tập ở tinh xá, yêu cầu A-nan thuyết pháp cả ngày lẫn đêm. A-nan không thể từ chối phải chìu ý mọi người, phương tiện khai thị cho họ.

Trong tinh xá, cũng có thầy Tỳ-kheo tên Bạt-xà-phất, vì tín chúng tụ tập, đi lại nói năng ồn ào, những tiếng động lao xao cứ lọt vào tai thầy khiến thầy không thể ngồi yên tham thiền. Thầy lại là một vị Tỳ-kheo đã chứng quả, do đó thầy lại thầm trách A-nan tự thân không chịu cầu khai ngộ, mà cứ thuyết pháp cho thiên hạ. Đến nỗi bực quá, thầy bèn làm thơ nói mát mẻ A-nan.

A-nan bị đả kích, không dám cãi gượng, Tôn giả biết thân mình là hàng hữu học chưa ngộ đạo. Kỳ hạn an cư ở Vương Xá đã đến gần kề, trách nhiệm đọc tụng kinh điển về ai, Tôn giả cũng có thể đoán được điều ấy. Trong lúc cực kỳ hệ trọng này mà phí công giảng thuyết đầu lưỡi, có lợi ích gì? Bẩm tánh A-nan vốn ôn hòa nhường nhịn, nên Tôn giả thôi thuyết pháp cho tín đồ, dự bị lên đường về Nam. Chẳng phải Tôn giả không biết trình độ tu chứng của mình, nhưng Tôn giả hay chìu theo ý mọi người. Phen này phần bị cư sĩ khích lệ thuyết pháp, phần thì chìu họ mà mắc lỗi, phần thì bị bạn đạo chê cười châm biếm, lời trách cứ của Bạt-xà-phất như mũi tên nhọn đâm ngay tim A-nan. Từ đó, Tôn giả phát nguyện đem tâm hướng ngoại quay trở về bên trong, mong sớm khai ngộ.

Khi A-nan về đến thành Vương Xá, vừa đúng một ngày nữa là đại hội kết tập bắt đầu. Lúc ấy, tôn giả Đại Ca-diếp được cử làm thủ tọa, tuyển chọn năm trăm vị Tỳ-kheo tham dự đại hội. Các vị ấy đều là bậc A-la-hán, cho nên không kể tên A-nan, vì A-nan chưa đạt được quả vị.

Đương nhiên là Đại Ca-diếp cũng thừa nhận sở trường của A-nan, bao nhiêu lời thuyết pháp của đức Thế Tôn, A-nan đều ghi nhớ chẳng sót, nhưng chỉ sợ một điều quan trọng là: Nếu như để cho một người chưa dứt hết phiền não như A-nan tham dự đại hội, thì đối với đức Phật đã nhập diệt và chúng sanh đời sau, chẳng biết sẽ có những lỗi lầm như thế nào?

A-nan tuy chưa khai ngộ nhưng lại được cảm tình của mọi người rất nhiều, ai ai cũng ủng hộ Tôn giả. Cho nên khi nghe mọi người đề cử A-nan. Đại Ca-diếp bèn nói:

- A-nan chưa chứng Thánh quả. Tôi cũng biết ông ấy là sư tử, nhưng hiện tại chỉ là sư tử ở trong bầy dã can thôi.

A-na-luật cũng đồng ý với nhận xét đó. Điều này thật là một sự bất ngờ cho A-nan. Vì A-na-luật cũng là anh em chú bác với A-nan. Nhưng A-nan có bản tính quật cường, càng bị nén xuống thấp thì càng vọt lên cao. Những lời đả kích là duyên tốt cho Tôn giả. A-nan chẳng hề nản lòng, và như hoa mai mùa đông, phải chịu một cơn gió tuyết lạnh lùng mới tỏa hương đặc biệt. Chiều hôm ấy, Tôn giả nỗ lực tu tập, trầm tư mặc tưởng, buông bỏ tận cùng, vào nửa đêm thì khai ngộ chứng quả. Ngày hôm sau, A-nan hiện đại thần thông, không đợi cửa động mở bèn bay vào đại hội.

Lúc ấy phong tư của Tôn giả như mặt trăng tỏ rạng vừa ra khỏi đám mây, như ánh thái dương chiếu trên những cánh hoa sen tươi đẹp. Các vị đại Tỳ-kheo đều kinh ngạc nhìn tôn giả biểu lộ sự tán thán. Dưới sự chỉ đạo của Đại Ca-diếp, và sự đề cử của toàn thể đại hội, tôn giả lên tòa sư tử, bắt đầu tụng:

“Tôi nghe như thế này, một thuở, Đức Phật ở tại nơi nọ…”. Tôn giả đem trí nhớ của mình tụng lại những thời thuyết pháp của đức Thế Tôn, lưu loát như nước chảy. Các đại Tỳ-kheo trong hội một lần nữa tiếp thọ lời dạy của Phật. Ai nấy đều cảm động, tôn giả Kiều-trần-như già nua xúc động đến nỗi xỉu tại tòa.

Những kinh điển đầu tiên như Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng nhứt A Hàm, và các kinh Thí Dụ, Pháp Cú đều được kết tập trong kỳ đại hội lần thứ nhất này, do chính tôn giả A-nan tụng lại.

12- NHẬP NIẾT BÀN

Sau khi Phật nhập Niết-bàn, trưởng lão Đại Ca-diếp kế thừa y bát, hai mươi năm sau, Tôn giả đã hơn một trăm tuổi, bèn vào núi Kê Túc nhập Niết-bàn. Sắp ra đi, Tôn giả đem gia nghiệp Phật pháp dặn dò trao lại A-nan, lúc ấy cũng gần tám mươi tuổi. Tôn giả kế thừa dòng pháp, cũng là điều tự nhiên như hoa đến kỳ kết quả, và đó cũng là niềm hy vọng của đức Thế Tôn.

Như thế, Phật pháp trong thời vua A-Xà-Thế ủng hộ đã mở mang bình thường. Từ lúc Đại Ca-diếp nhập diệt về sau hàng đệ tử thân cận đức Thế Tôn chỉ còn lại A-nan, lãnh đạo giáo đoàn cũng là A-nan, tuổi tác mỗi năm mỗi cao. Đến năm Tôn giả một trăm hai mươi tuổi, một hôm nọ trên đường đi, nghe một thầy Tỳ-kheo trẻ tụng bài kệ rằng:

                        Nếu người sống trăm tuổi
                        Không thấy thủy lão hạc
                        Chẳng bằng sống một ngày
                        Mà được thấy hạc ấy.

A-nan nghe qua, thấy bài kệ bị tụng sai lầm một cách tệ hại, thật là râu ông nọ cắm cằm bà kia, Tôn giả bèn lập tức cải chánh. Bài kệ phải tụng như thế này.

                        Nếu người sống trăm tuổi
                        Không hiểu pháp sanh diệt
                        Chẳng bằng sống một ngày
                        Mà được hiểu rõ ràng.

Thầy Tỳ-kheo kia nghe A-nan dạy xong, trở về thưa lại với sư phụ. Chẳng dè sư phụ của thầy nổi sùng nói rằng:

- Ông đừng nghe A-nan nói bậy. Năm nay A-nan đã già cả, lú lẫn rồi. Ta dạy ông không sai đâu.

Thầy Tỳ-kheo trẻ lại đem lời sư phụ nói lại với A-nan. Tôn giả định đi tìm ông ta để hỏi tại sao lại nói những lời ngu si như vậy? Nhưng suy nghĩ lại, con người đã thốt ra lời ấy có nói chưa chắc đã chịu nghe, nên thôi. Một vị trưởng lão ôn hòa như A-nan, thống lãnh giáo đoàn đương thời, nắm trong tay giáo quyền tối thượng, nhưng vẫn áp dụng lối xử sự nhún nhường.

Tuy vậy, một bậc trưởng lão thánh tăng đã một trăm hai mươi tuổi, đối với việc đời không còn chút lưu luyến, sau khi gặp chuyện trên lại càng chán ngán thế gian. Tôn giả nghĩ “Cái cõi đời này thật hết ý kiến. Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn chưa bao lâu mà có người hiểu sai Phật pháp như vậy, sau này trong giáo đoàn lại có những điều tà kiến sao cho xiết. Ta vì Phật tụng lại giáo pháp mà mọi người chấp chặt vào kiến chấp của họ, không chịu theo đúng pháp mà làm, ta còn ở lại nơi đây để làm gì?”

Nghĩ ngợi như vậy, Tôn giả tự nhiên nhớ đến đức Phật, rồi liên tưởng đến các vị đại đệ tử Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên… Tôn giả lại suy tư triền miên: “Ôi! Những vị ấy như chim bay theo gió, một lúc vào Niết-bàn. Trong bao nhiêu vị thánh bây giờ chỉ còn mình ta, như rừng cây bị đốn sạch, còn sót lại một cây cổ thụ không đủ che mưa đỡ gió. Cõi nhân gian này thật trống rỗng, ta cũng nhập Niết-bàn thôi!”

Suy nghĩ xong, Tôn giả bèn quyết định đem Phật pháp trao phó lại cho Thương-na-hòa-tu, ôm bát hướng về sông Hằng mà đi. Nhân vì lúc ấy vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà đang khai chiến với Tỳ-xá-ly. Tôn giả dự tính nếu nhập diệt ở nước Ma-kiệt-đà thì di thể không được chia cho nước Tỳ-xá-ly, như đến Tỳ-xá-ly nhập diệt, họ cũng không chia phần cho Ma-kiệt-đà. Nên Tôn giả bèn chọn sông Hằng là biên giới giữa hai nước, sẽ ở trên không trung mà nhập Niết-bàn.
Vua A-Xà-Thế nghe tin A-nan sắp nhập Niết-bàn, cơ hồ muốn té xỉu. Nhà vua tức tốc mang binh mã đuổi theo, chạy đến bên bờ sông Hằng, thì tôn giả đã lên thuyền ra giữa sông. Nhà vua bèn quỳ mọp sát đất mà lớn tiếng kêu:

- Đức Phật tối thắng tự tại! Xin Ngài từ bi, Tôn giả đã ban an lành cho chúng con. Tôn giả là đèn sáng của ba cõi. Xin Ngài hãy quay trở lại a!

Bờ sông bên kia, dân chúng Tỳ-xá-ly cũng tụ tập bên bờ, kêu réo như A-xà-thế. A-nan bèn ở trong thuyền nói lớn:

- Ta đã suy xét, chính vì sự oán hận của hai nước các ông, mới đặc biệt đến khoảng giữa sông Hằng mà nhập diệt, cầu mong cho các ông được hòa bình, thân thiện.

Tôn giả nói xong, bèn ngồi giữa hư không nhập Hỏa quang tam muội, tấn nhập Niết-bàn, khiến di thể rơi xuống hai bên, cho hai nước xây tháp cúng dường. Một tháp được xây ở giảng đường Đại Lâm phía Bắc nước Tỳ-xá-ly, một tháp xây ở cạnh tinh xá Trúc Lâm thành Vương Xá. Do nhân duyên nhập diệt của Tôn giả, hai nước bèn cởi mở oán thù, không gây chiến với nhau, cứu được muôn ngàn tài sản và mạng sống nhân dân. Sự hy sinh của Tôn giả thật cao quý lớn lao vô cùng.

Tôn giả A-nan nhập diệt rồi, công lao của Ngài đối với đức Phật, sự cống hiến đối với Phật pháp, tư cách ôn hòa từ mẫn, khiêm tốn nhân nhượng của một bậc thánh, mỗi độ gió xuân về, lại khiến mọi người hoài niệm.

Ưu Ba Ly


ƯU BA LY

TRÌ GIỚI ĐỆ NHẤT

1- XUẤT THÂN TỪ GIAI CẤP THỦ ĐÀ LA

Tôn giả Ưu-ba-ly được liệt kê trong số mười vị đại đệ tử của Phật, đối với giai cấp nghiêm khắc của xã hội Ấn Độ, không phải là chuyện dễ.

Ưu-ba-ly xuất thân từ dòng hạ tiện Thủ-đà-la, số mạng định sẵn là chỉ có làm nô bộc cho người. Ở cổ Ấn Độ, người sanh trong dòng Thủ-đà-la, ngay từ khi mới lọt lòng đã bị sự kỳ thị, bị xem như đồ phẩn uế không đáng nhìn tới.

Người Thủ-đà-la, nếu gặp hàng Bà-la-môn hay Sát-đế-lợi trên đường đi, phải quỳ xuống bên đường nhường lối, nếu lén nhìn sẽ bị móc mắt, còn nếu lý luận với hai hạng trên, thì sẽ bị cắt lưỡi. Thật đáng thương cho Ưu-ba-ly đã sanh ra trong dòng Thủ-đà-la nên phải chịu một kiếp sống bi thảm như vậy.

Tuổi thơ của Ưu-ba-ly được niềm an ủi duy nhất là tình thương của cha mẹ, lòng thương con thì dù ở giai cấp nào cũng chẳng kể mức độ cách biệt.

Từ nhỏ Ưu-ba-ly đã không được hưởng quyền lợi về học vấn. Người của dòng Thủ-đà-la mà muốn học tập pháp điển Mã-nổ của Bà-la-môn, là một vọng tưởng hão huyền.

Đến khi lớn khôn, cha mẹ Ưu-ba-ly nghĩ đến việc chọn cho con mình một nghề nghiệp để nuôi thân. Lúc ấy, những nghề như thương buôn hoặc công chức thì không cho phép người Thủ-đà-la tham dự. Hơn nữa, đã không được học hỏi mà đi làm công chức hoặc thương buôn làm sao được. Cha mẹ chàng đã biết con đường tương lai của con mình chỉ có chọn lựa trong các nghề nông dân, lao lực, nô lệ, chọn lấy một nghề để sinh nhai cho qua một kiếp tủi hèn.

Ban đầu, song thân chàng định cho chàng học nghề làm ruộng, nhưng sau nghĩ đến việc ruộng nương thiệt tân khổ, người cày cuốc cần phải có sức lực, mà Ưu-ba-ly bẩm chất vốn ốm yếu làm nghề đó sợ sống không lâu. Sau nữa, họ lại định cho chàng học nghề đánh xe, nhưng nghĩ lại dù làm kẻ chăn ngựa hay người đánh xe phải đi sớm về tối, bôn ba lao lực, nên lại thôi. Lòng của người làm cha mẹ muốn chọn cho Ưu-ba-ly một nghề thích hợp thiệt cũng lắm phen do dự.

Làm nô lệ cho người cần nhất là chọn được chủ nhân tử tế. Muốn vậy phải có nghề nghiệp chuyên môn. Và sau khi thương lượng đắn đo, họ bèn cho Ưu-ba-ly học nghề hớt tóc.

Ưu-ba-ly là một cậu bé học nghề rất dễ dạy, tánh tình khiêm tốn và có thói quen vâng lời, học các kỹ thuật hớt tóc, chải bới, chẳng bao lâu Ưu-ba-ly đã học thành thạo các kiểu cách thời trang, mọi thứ cắt tỉa, thủ thuật nghề nghiệp.

Ra nghề, song thân Ưu-ba-ly lại tìm người giới thiệu cho con, và Ưu-ba-ly được nhận vào vương cung Ca-tỳ-la để hớt tóc trang điểm cho các vương tôn công tử.

Tuy chỉ là một người thợ hớt tóc, nhưng tâm tánh của Ưu-ba-ly rất thuần lương, trung hậu. Rốt cuộc chàng được sự tín nhiệm của các vương tử, cho ở luôn tại hoàng cung để cắt tóc cho các tiểu vương tử. Các ông hoàng nhỏ như Bạt-đề, A-na-luật đều rất thích chàng thợ cạo Ưu-ba-ly. Bởi vì với lối cắt nhanh gọn, khéo léo, nhẹ nhàng không làm đau đầu, Ưu-ba-ly được mọi người ưa chuộng, và chàng cũng hết lòng kính trọng các vương tử.

2- CẠO TÓC CHO ĐỨC PHẬT

Vào khoảng gần hai mươi tuổi, Ưu-ba-ly đã là một người thợ hớt tóc lành nghề. Lúc ấy đức Phật thành đạo được ba năm, Ngài đã trở về cố hương Ca-tỳ-la. Đến ngày cạo tóc, mọi người bèn giới thiệu Ưu-ba-ly.

“Cạo tóc cho đức Phật!” Ưu-ba-ly nghe tin ấy rất lo sợ hoang mang. Chàng nghĩ đến đức Phật là bậc Đại giác, có ba mươi hai tướng tốt, nhất định đầu tóc của Ngài không giống người thường. Ưu-ba-ly nghĩ đến đó đã e ngại, rủi như lỡ tay xúc phạm đến đức Thế Tôn thì làm sao. Chàng trở về nhà nói hết tâm sự với mẹ. Vốn xuất thân từ dòng Thủ-đà-la đã mang nặng lòng tự ti từ lúc nhỏ, đức Thế Tôn là hàng vương tử thành Phật, chính chàng còn không dám nhìn đến gót chân của Ngài, làm sao dám cạo tóc?

Mẫu thân bèn an ủi Ưu-ba-ly, khuyên con đừng sợ, nghe đồn rằng đức Phật rất từ bi, thường thuyết pháp cho mọi người nghèo khổ. Đức Phật chắc chắn không có thành kiến như người đời, chắc chắn sẽ không khinh thị người Thủ-đà-la. Tuy nghe mẹ nói như vậy, nhưng Ưu-ba-ly vẫn không yên tâm. Mẹ chàng bèn bảo ngày mai bà sẽ cùng đi với Ưu-ba-ly đến chỗ Phật.

Thật cũng lạ đời, đã rành rẽ kỹ thuật hớt tóc mà khi đi làm phải có mẹ theo tiếp một bên. Qua câu chuyện này, chúng ta cũng thấy được cá tánh của Ưu-ba-ly.

Hôm sau, bà mẹ dẫn Ưu-ba-ly trước tiên đến bái kiến đức Phật và sau mới bảo cạo tóc cho Thế Tôn.

Ưu-ba-ly cẩn thận, chú ý từng chút, chậm rãi làm việc. Mẹ chàng đứng một bên theo dõi, một lúc sau bà quỳ trước mặt đức Phật, thưa:

- Bạch Thế Tôn! Kỹ thuật cạo tóc của Ưu-ba-ly ra sao?

Đức Phật chú ý nhìn Ưu-ba-ly một lúc rồi mới đáp:

- Thân thể rất cong.

Đại khái là do Ưu-ba-ly đối với Phật cung kính nên cúi khom lưng mà cạo tóc, không dám ngẩng lên. Chàng nghe Phật nói lại tập trung tâm ý, theo truyền thuyết thì lúc ấy chàng đã tấn nhập Sơ thiền. Một lúc sau, mẹ chàng lại quỳ xuống thưa:

- Kính bạch Thế Tôn! Lúc này Ưu-ba-ly cạo tóc thế nào?

Đức Phật lại đáp:

- Lúc này thân thể rất ngay thẳng.

Ưu-ba-ly nghe Phật nói, lại chẳng dám khởi vọng tưởng ngừng nghỉ, nhất tâm nhất ý và lúc đó chàng lại được công phu nhập Nhị thiền.

Chẳng bao lâu, mẹ chàng lại cung kính hỏi thăm:

- Kính bạch Thế Tôn! Bây giờ Ưu-ba-ly cạo tóc ra sao?

- Hơi thở vào quá thô! – Đức Phật đáp.

Ưu-ba-ly nghe nói liền tập trung tâm ý vào hơi thở, theo truyền thuyết, lúc đó chàng đã nhập đệ Tam thiền.

Sau cùng, mẹ chàng lại hỏi:

- Kính bạch Thế Tôn! Hiện tại Ưu-ba-ly cạo tóc thế nào?

- Hơi thở ra quá thô!

Lúc ấy, Ưu-ba-ly chẳng khởi một niệm, quên luôn con dao cạo trong tay, và theo truyền thuyết lúc đó chàng đã vào đệ Tứ thiền.

Đức Phật liền gọi vị Tỳ-kheo đứng gần:

- Ông đến lấy con dao trong tay của Ưu-ba-ly ra, chú ấy đã nhập Tứ thiền, không còn tưởng niệm gì cả, và cần một người đỡ giùm chú bé đừng cho té xuống đất.

Theo ký sự này, chúng ta có thể biết Ưu-ba-ly đã chú tâm đến mức nào trong công tác, mỗi lần nghe lời chỉ dạy của Phật đều sửa đổi thật đúng. Với bản chất ưa suy tư và tánh tình nghiêm túc, nên trong cuộc sống được nhiều người giúp đỡ, và ngay bản thân mình đã không để cho người gièm chê hoặc phê bình một lời. Do đó, về sau Ưu-ba-ly được tôn xưng là Trì giới bậc nhất, không phải không có lý do.

3- XUẤT GIA TRƯỚC LÀM SƯ HUYNH

Đức Phật trở về Ca-tỳ-la-vệ, khắp rưới mưa pháp trong hoàng cung. Những hạt giống Bồ-đề đã gặp duyên nẩy mầm tăng trưởng. Các vương tử dòng họ Thích nghe đức Thế Tôn thuyết pháp nhiều người phát tâm xuất gia theo Phật.

Trong số ấy có nhiều người được phụ mẫu cho phép, cũng có người phụ mẫu không tán thành, các hoàng thân này cùng hẹn nhau lén trốn đi, đến rừng Ni-câu-đà tìm đức Phật, xuất gia rồi sẽ báo tin cho hoàng gia biết sau.

Trong số bảy vương tử ấy có mặt Bạt-đề, A-nan và A-na-luật. Muốn xuất gia phải cạo bỏ râu tóc, các hoàng thân bắt buộc phải mang theo Ưu-ba-ly. Trong khu rừng gần kề tinh xá của Phật, dưới bóng cây rừng, khi Ưu-ba-ly cạo tóc cho vương tử Bạt-đề đã tuôn rơi từng giọt nước mắt. A-na-luật thấy thế mới dùng quyền vương gia mà trách hỏi Ưu-ba-ly:

- Ngươi thấy chúng ta xuất gia, đáng lý phải vui vẻ, tại sao lại khóc?

Ưu-ba-ly sợ sệt đáp:

- Thưa vương tử! Xin Ngài khoan thứ cho sự vô lễ của kẻ tiện dân. Vì vương tử Bạt-đề đã đối xử với hạ dân rất tử tế, hôm nay, Ngài đã xuất gia với các vương tử, xuất gia rồi kẻ hèn này không còn được gặp lại, nghĩ đến đó hạ dân không cầm được nước mắt. Xin vương tử đừng trách mắng.

A-na-luật nghe xong, thông cảm và an ủi Ưu-ba-ly:

- Ngươi đừng lo lắng, chúng ta sẽ giúp đỡ cho ngươi sinh sống.

Và quay sang các vương tử, A-na-luật nói:

- Này các vương huynh vương đệ! Ưu-ba-ly hầu hạ chúng ta cũng khá lâu, y rất siêng năng, trung thành. Hôm nay chúng ta đi xuất gia, nên an bài cho cuộc sống của y. Chúng ta hãy gói tất cả những đồ trang sức trên thân mình lại và cho Ưu-ba-ly. Chúng ta xuất gia rồi đâu cần dùng mấy thứ này.

Các vương tử đều tán thành ý kiến của A-na-luật. Mỗi người đều cởi y phục gấm vóc và đồ trang sức châu báu tặng cho Ưu-ba-ly, và bảo trở về thành Ca-tỳ-la, còn họ lại đi tìm Phật.

Các vương tử đi rồi, Ưu-ba-ly định quay về nhưng lúc ấy hốt nhiên đổi ý: “Bây giờ mà ta đem những thứ châu báu này về thành thuật lại, thì lão vương và hoàng gia đại thần nhất định sẽ gán cho ta tội a tòng theo các vương tử, đưa đi xuất gia, tội đáng chết, ta khó mà toàn mạng. Các vương tử tôn quý như thế mà còn bỏ vinh hoa của thế gian để đi xuất gia, còn kẻ hạ tiện như ta thì có lưu luyến cái gì trên cuộc đời này? Hay là ta cũng đi tìm Phật xin theo tu luôn!”
Nghĩ xong Ưu-ba-ly bèn quyết định, như thỏi sắt bị nam châm thu hút, không chút do dự đem bọc đồ trân bảo treo lên nhánh cây, để mặc ai đi ngang có thấy được lấy xài, còn mình đi về hướng đức Phật.

Đi một đỗi, lại nghĩ đến thân phận hạ tiện của mình, trong lòng Ưu-ba-ly nổi lên niềm bi ai tủi hổ, chàng ngồi bên đường khóc lóc, tự nhủ:

- Ta làm gì có tư cách được xuất gia? Các vị ấy là vương tử, còn ta chỉ là thân nô bộc, làm sao dám sánh ngang hàng xuất gia với vương tôn?

Chàng than thở oán trách thế gian không công bình, giận cho số phận mình không may, vừa buồn vừa khóc như vậy, thì bỗng nghe bên tai có người hỏi:

- Có chuyện gì mà anh khóc lóc buồn thảm như vậy?

Ưu-ba-ly ngó lên, thấy tôn giả Xá-lợi-phất, vội chùi nước mắt, quỳ xuống thưa:

- Bạch Tôn giả! Ngài là đại đệ tử của đức Phật, khi Ngài theo Phật về hoàng cung con có được biết Ngài. Xin thỉnh ý Ngài. Một người dòng dõi Thủ-đà-la như con không biết có được theo Phật xuất gia làm đệ tử hay không? Con đã mạo muội vọng tưởng như vậy, thật quá quắc, xin Tôn giả từ bi chỉ bảo.
Xá-lợi-phất hỏi lại:

- Anh tên gì?

- Con tên Ưu-ba-ly.

Tôn giả bèn nhớ lại khi trước, chú thợ cạo của đức Phật đã nhập Tứ thiền lúc ấy, chính là người này. Tôn giả liền nói:

- Giáo pháp của đức Thế Tôn rất tự do, bình đẳng. Không kể người trí hay người ngu, không chia nghề nghiệp sang hèn, chỉ cần có khả năng giữ gìn giới luật, là ai ai cũng có thể làm đệ tử Phật, ai cũng có thể xuất gia, ai cũng có thể chứng quả Chánh giác Vô thượng. Anh hãy theo ta, đức Thế Tôn nhất định sẽ rất hoan hỷ thâu nhận anh làm đệ tử xuất gia.

Ưu-ba-ly nghe nói, mừng rỡ quá đỗi, bèn theo sau tôn giả Xá-lợi-phất về bái kiến đức Phật. Đức Phật cũng hoan hỷ làm lễ thế độ cho Ưu-ba-ly và trao luôn cụ túc giới. “Nước trăm sông đều chảy về biển cả, bốn chủng tánh xuất gia, đồng một họ Thích”, đó là tinh thần của đức Phật quy định trên pháp chế, hôm nay đã thực hiện thành sự thật qua việc Ưu-ba-ly xuất gia.

Đức Phật dạy Ưu-ba-ly:

- Ông rất có thiện căn. Ta biết ông sau này nhất định sẽ tuyên dương chánh pháp của ta. Trước khi ông đến đây, các vương tử đã đến xin ta làm lễ thế độ.

Tuy ta đã thâu nhận họ làm đệ tử nhưng phải gia hạn cho họ tu tập trong bảy ngày, đợi họ quên được tập khí vương tử rồi, chỉ còn một việc là đệ tử của ta thôi, ta sẽ làm lễ cho họ. Lúc ấy họ sẽ dùng lễ độ để ra mắt ông.

Ưu-ba-ly cảm động đến rơi lệ. Tuy ngày trước đã có dịp cạo tóc cho đức Phật, nhưng không ngờ đức từ bi của Ngài cao rộng như thế. Thầy tự nguyện từ đây trở đi sẽ làm một đệ tử tín thành, sẽ luôn luôn theo Phật học tập.

Bảy ngày sau, đức Phật cho gọi Bạt-đề, A-na-luật… bảy vị vương tử ra mắt đại chúng. Ở giữa đông đảo huynh đệ, họ bất ngờ khi nhìn thấy thầy Tỳ-kheo Ưu-ba-ly, các vương tử đều ngạc nhiên quái lạ, đều do dự không biết phải gọi Ưu-ba-ly như thế nào mới đúng. Đức Phật nghiêm nghị bảo:

- Các ông do dự điều gì? Trong pháp xuất gia học đạo việc trước nhất là phải hàng phục tâm kiêu mạn. Ta đã cho Ưu-ba-ly xuất gia trước, thọ giới trước, các ông phải đảnh lễ thầy ấy chứ còn sao nữa?

Bạt-đề, A-na-luật… nghe Phật dạy, đều khiêm tốn cúi đầu làm lễ Ưu-ba-ly, ngay lúc ấy họ cảm thấy tín tâm xuất gia càng thêm mạnh mẽ. Ngược lại, Ưu-ba-ly cảm thấy lúng túng không an. Phật bảo thầy:

- Ông cũng nên dùng lễ huynh trưởng mà đối với các ông ấy.

Ưu-ba-ly hết cả e ngại, cảm động quá chỉ còn biết đảnh lễ đức Phật.

Một người bị xem là kẻ nô lệ hạ tiện, đối với những người xuất gia sau, là những vương tử mình đã từng phục dịch, ở trong Phật pháp lại được lãnh thọ sự đối đãi ngang hàng, đó là việc chưa từng có ở trong một xã hội nặng nề về giai cấp như Ấn Độ.

Việc Ưu-ba-ly xuất gia khiến cho pháp chế của đức Phật dần dần thực hiện. Trong Tăng đoàn không có sự phân chia chủng tộc. Về sau Ưu-ba-ly được thành tựu, thật không cô phụ ân huệ của Phật.

4- MỘT ĐOẠN BỔN SANH

Mùa hạ trong năm Ưu-ba-ly xuất gia, đang khi chúng Tăng cử hành lễ an cư, Ưu-ba-ly đã tinh tấn tu đạo và khai ngộ. Do đó, Tôn giả đã thành một bậc thượng thủ trong Tăng đoàn, được sự cung kính của hai chúng tại gia, xuất gia. Việc ấy cũng làm nhiều người kinh ngạc. Một người dòng Thủ-đà-la thấp hèn mà căn cơ mẫn nhuệ đến như vậy, đó không những làm rạng rỡ cho dòng Thủ-đà-la, mà cũng làm vẻ vang cho tinh thần bình đẳng của Phật giáo.

Nhân dịp này, đức Phật đặc biệt nói đến một đoạn bổn sanh của Ưu-ba-ly.

Về thời quá khứ có hai người bạn đều sanh trong gia đình bần cùng, tuy vậy cả hai đều không quên làm việc thiện, bố thí cúng dường. Do nhân duyên công đức ấy về sau họ tái sanh, một người làm quốc vương tên là Phạm Đức, một người sanh trong một gia đình Bà-la-môn cao quý, tên là Ưu-bà-gia. Ưu-bà-gia kết hôn với một cô nương đẹp mỹ miều, rất mực yêu dấu. Một hôm, nhân lúc Ưu-bà-gia tỏ thái độ lịch sự thân mật với một vài thiếu nữ, bị phu nhân bắt gặp và nàng không bằng lòng chút nào. Nàng hờn giận Ưu-bà-gia, nằm khóc lóc ba, bốn hôm rồi sau đó chẳng thèm nói chuyện với chàng, suốt ngày cứ lầm lì im lặng.

Cô vợ trẻ đa nghi dữ quá khiến Ưu-bà-gia chẳng biết làm cách nào, chỉ biết rầu rĩ mà thôi. Cho đến một hôm, mùa xuân đã qua, sắp sang hè, cô vợ yêu bấy lâu không nói chuyện, bỗng nhiên nay bảo chàng:

- Bữa nay chàng hãy đi ra phố mua ít hoa tươi về trang hoàng trong phòng chúng ta nhé!

Chàng trượng phu đa tình nghe được vợ nói mấy lời rất mừng vui, lập tức ra chợ tìm hoa tươi. Mua xong về giữa đường gặp lúc giữa trưa nóng bức, nhưng tâm tình chàng rất cao hứng vì được giảng hòa với vợ, nên chàng vừa đi vừa lớn tiếng hát vang.

Lúc ấy, vua Phạm Đức đang ở trong cung, nhà vua lên lầu quan sát phong cảnh thấy Ưu-bà-gia đi ngang qua cung vua. Tiếng ca bay đến tai vua Phạm Đức. Nhà vua nghe hát rất lấy làm lạ, nghĩ thầm: “Nhìn cách phục sức của chàng ta thì thuộc dòng Bà-la-môn, nhằm lúc trời nóng đổ lửa như thế này mà bỗng nhiên ca hát ngoài đường, nhất định chàng ta phải là một người lạc quan lắm.” Nhà vua nổi tánh hiếu kỳ, sai người cho gọi Ưu-bà-gia đến hỏi chuyện. Hai người đàm đạo giây lâu, nhà vua rất vừa ý, phong cho Ưu-bà-gia một chức quan to trong triều, và từ đó rất sủng ái Ưu-bà-gia.

Ưu-bà-gia được vua Phạm Đức tín nhiệm, uy quyền càng ngày càng lớn. Cho đến về sau nhân dân chỉ biết có Ưu-bà-gia mà không biết có vua Phạm Đức. Ưu-bà-gia không biết đủ. Một hôm, nhân vua Phạm Đức ngủ say, chàng khởi ý định hành thích vua đoạt ngôi. Đang lúc nuôi âm mưu soán đoạt, bỗng chàng giật mình tỉnh ngộ, cảm thấy lòng tham muốn về danh lợi quyền tước thật đáng ghê sợ. Chàng đem hết tâm niệm ác độc của mình thuật lại cho vua Phạm Đức nghe, nhà vua lại càng khen ngợi lòng trung thực của chàng. Sau đó, Ưu-bà-gia nguyện từ bỏ địa vị sám hối xuất gia, tu hành không bao lâu liền được thần thông.

Lúc ấy, trong hoàng cung có một người thợ cạo tên Hằng-già-ba-la nghe vua Phạm Đức khen ngợi chí xuất gia của Ưu-bà-gia, ban đầu sanh tâm tùy hỷ, và cũng phát nguyện xuất gia làm đệ tử Ưu-bà-gia, một lòng tu đạo rồi cũng đắc thần thông như thầy.

Hai thầy trò Ưu-bà-gia đều trở thành bậc Thánh, có thần thông ngang nhau. Một hôm, vua Phạm Đức lên núi cúng dường Ưu-bà-gia, vua đảnh lễ thầy rồi lại nghĩ thầm: “Đối với bậc thánh không nên so đo về chỗ xuất thân của quá khứ”, bèn tự mình làm gương, hướng về thầy Hằng-già-ba-la đảnh lễ, và bảo cả trăm quan đại thần tùy tùng cùng đảnh lễ Hằng-già-ba-la. Thầy tuy xuất thân hạ tiện, do oai lực của pháp mà khiến ngay cả nhà vua cũng quỳ lạy.

Trên đây tuy chỉ là một đoạn sự tích của Phật ngày xưa, nhưng pháp vốn vĩnh cửu bất biến, ở trong Phật pháp không kể là xuất thân từ hạng nào, đều không thành vấn đề, người đã khai ngộ đều được mọi người tôn trọng, mà chứng ngộ thì không phân chia giai cấp.

Đức Thế Tôn kể xong câu chuyện, trân trọng bảo đại chúng:

- Ưu-bà-gia thuở ấy chính là thân ta, chàng thợ cạo Hằng-già-ba-la nay chính là Ưu-ba-ly vậy!

Một đoạn cố sự đơn giản như thế, nhưng nếu nghiền ngẫm kỹ, chúng ta sẽ thấy nó hàm chứa biết bao ý chỉ. Vì tham quyền mà sanh tâm sát hại. Trong thời kỳ tu nhân của đức Phật đã từng nuôi dưỡng ý niệm đó. Ưu-ba-ly là dòng Thủ-đà-la, hiện tại được khai ngộ chứng quả, làm bậc thượng thủ trong chúng, được mọi người tôn trọng, chuyện ấy cũng không phải lần đầu, mà cũng đã có nguyên nhân trong quá khứ.

Đức Thế Tôn nói pháp rồi, khiến tất cả lòng nghi ngờ trong chúng đối với Ưu-ba-ly hoàn toàn tiêu tan.

5- TAO NGỘ TRÊN ĐƯỜNG HÀNH HÓA

Sau khi chứng ngộ, với bản tánh cẩn thận gò bó, rất chú trọng tứ oai nghi hằng ngày đối với giới điều đức Phật chế ra, Tôn giả đều nhất nhất tuân thủ, không hề hủy phạm, các bậc Tỳ-kheo đồng học đều tôn xưng là bậc Trì giới đệ nhất .

Về vấn đề này, nếu là người tu chân chánh thì đối với bậc trưởng lão nghiêm trì giới luật đương nhiên rất cung kính, hoan hỷ cúng dường. Còn người nào không tuân quy củ, không nghiêm trì giới hạnh sẽ không ưa người trì giới, đó cũng là chuyện tự nhiên.

Do đó, trong Tăng đoàn có số người không ưa Ưu-ba-ly, thậm chí còn phê bình nữa là khác.

Một bậc Tỳ-kheo giữ giới lúc cư trú tại viện, sẽ có những tín đồ cung kính đến quỳ trước phòng tỏ bày niềm tin, nhưng khi đi ra ngoài hóa đạo không nhất định sẽ được sự hoan nghinh của tăng và tục.

Một hôm, tôn giả Ưu-ba-ly cùng một nhóm các Tỳ-kheo trì giới như pháp đi du hóa các nơi. Các vị xiển dương, đề cao tinh thần trì giới, thường thường cử hành các pháp sám hối khi Yết-ma cử tội, Yết-ma diệt tẫn, Yết-ma y chỉ, Yết-ma quở trách… thì rất hoan hỷ tiếp đón tôn giả. Và trái lại, có một số Tỳ-kheo, khi nghe tin Ưu-ba-ly đến chẳng vui chút nào. Họ bàn soạn với nhau:

- Bữa nay Tỳ-kheo trì giới Ưu-ba-ly đến đây. Lão ấy mà tới nhất định sẽ có chuyện dạy dỗ chúng ta chuyện gì nên làm, chuyện gì không được làm, làm tăng thêm lòng nghi hối cho chúng ta. Chúng ta nên tìm cách cản trở lão ấy, đừng cho ghé đây.

- Lão ta mà đến thì mình đóng cửa lại, đem tọa cụ treo ngoài cửa đừng thèm hỏi han gì lão.

- Cần gì. Hễ lão vừa tới thì ta bỏ đi nơi khác.

Ưu-ba-ly vẫn thường gặp những tình cảnh như thế nên trong lòng hối hận không muốn đi ra ngoài hoằng pháp, nhưng đức Phật lại thường cổ động Tôn giả.
Cho nên một hôm, bà ni Thâu-la-nan-đà tự nhiên đến mắng ngay tôn giả Ưu-ba-ly:

- Ông không phải là người chân tu, chuyên môn ưa gây sóng gây gió. Tại sao ông cứ theo hỏi đức Thế Tôn: Đây là hai bộ Tăng trì, kia là một bộ Tăng trì, chuyện này nên làm, chuyện kia không nên làm… khiến cho cuộc sống chúng tôi tăng thêm khổ sở rối rắm!

Gặp những cảnh như vậy, Ưu-ba-ly chỉ một bề nhẫn nhục, không trả lời đi lại. Một vị Tỳ-kheo giữ giới nghiêm minh thì người chân chánh tu đạo sẽ rất hoan nghinh, còn kẻ tu giả dối thì chẳng ưa chút nào.

Đức Phật rất lưu tâm đến Tôn giả. Mỗi khi gặp các Tỳ-kheo đi hoằng hóa các nơi trở về, Ngài đều thăm hỏi:

- Các ông có gặp Tỳ-kheo Ưu-ba-ly không?

- Bạch Thế Tôn! Con có gặp, tôn giả đang giáo hóa nơi đó, nơi đó…

- Tại nơi ông ấy đi ngang, mọi người có cung kính cúng dường không?

- Bạch Thế Tôn! Có những địa phương chẳng đủ lễ với Tôn giả. Đồ chúng tại gia thì không biết Tôn giả là bậc trì giới, còn Tỳ-kheo xuất gia thì không muốn gặp Tôn giả, thậm chí còn có Tỳ-kheo ni nổi sân mắng chửi nữa!

- Như thế là làm sao? – Đức Phật hoài nghi hỏi.

Tỳ-kheo kia thật tình thưa:

- Tại vì mọi người thấy rằng sống chung với một vị Tỳ-kheo trì giới thật là bất tiện!

Đức Phật nghe xong không vui, liền triệu tập các Tỳ-kheo, dạy bảo giới rất đáng tôn quý, người trì giới như một ngọn đèn sáng, người có phẩm hạnh đoan chánh, thân tâm thanh tịnh tự nhiên ưa chỗ xán lạn. Còn những ai ưa làm điều quấy quá ám muội mới không ưa ánh sáng, thích chỗ hắc ám.

Đức Phật cho người mời các Tỳ-kheo vô lễ với Ưu-ba-ly và Tỳ-kheo ni sân hận nhục mạ Ưu-ba-ly đến. Ngài hỏi:

- Các ông cự tuyệt Ưu-ba-ly, tránh mặt không gặp và sân si ác khẩu mắng chửi ông ấy, thiệt có như vậy chăng?

Những người này không dám nói dối với Phật, chỉ biết thừa nhận:

- Bạch Thế Tôn! Dạ phải, chúng con quả thật có vô lễ với Tôn giả ấy.

Đức Phật nghiêm nghị quở trách:

- Các ông thật ngu si! Không cung kính Tỳ-kheo trì giới thì còn ai đáng cung kính hơn? Giới là thầy của các ông. Giới ở nơi nào pháp ở nơi đó. Giới còn là pháp còn. Các ông không cung kính Tỳ-kheo trì giới chứng tỏ các ông có ý đồ phi pháp!

Vì ái hộ cho Ưu-ba-ly, đức Thế Tôn quở trách nặng nề các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni kia. Như thế đủ biết tôn giả Ưu-ba-ly đã có địa vị trọng yếu đến đâu.

6- NGƯỜI DẸP TRANH CÃI

Trong Tăng đoàn, người y pháp tu hành chứng quả rất nhiều, mà người phạm giới cũng không ít, như Tỳ-kheo Ca-lưu-đà-di, Đề-bà… trong Tỳ-kheo ni thì có Tu-ma, Bà-phả, Thâu-la-nan-đà… đều hay phạm giới. Hạnh ác của họ, danh đồn ác của họ thường làm Phật phiền lòng, Ngài thường khuyên mọi người nên lấy tôn giả Ưu-ba-ly làm mô phạm.

Tăng đoàn vốn thanh tịnh và hòa hợp. Nhưng các Tỳ-kheo tánh xấu khó sửa đổi cũng có lúc khởi gây kình phi pháp, thầy không nhường tôi, tôi chẳng nhường thầy. Đôi bên hiềm khích làm ảnh hưởng đến sự tu hành của đại chúng và ảnh hưởng đến thanh danh của Tăng đoàn. Mỗi khi ở nơi nào có Tỳ-kheo, hoặc Tỳ-kheo ni khởi sự tranh cãi, thì đức Phật cần phải cử một vị trưởng lão thượng tọa đến đó giải hòa phân xử. Chọn một người có đủ tư cách ấy, không phải là bậc danh cao đức trọng, chỉ cần yếu là có thể phân minh phải trái, có tài cầm cân công bình là được. Mỗi khi có sự tranh cãi xảy ra ở đâu, đức Phật đều sai tôn giả Ưu-ba-ly đến trước phân xử. Việc gây gổ ở nước Câu-diệm-di, ở nước Sa-kỳ, Ưu-ba-ly đã từng làm sứ giả hòa bình, như nắng xuân ôn hòa chiếu đến nơi nào thì những khối băng giá ngưng đọng đều tự nhiên chảy ra.

Ưu-ba-ly thường theo Phật, thường xuyên ở tại thành Xá-vệ. Các Tỳ-kheo nơi đây rất hòa hợp, vì thường được thân cận với đức Thế Tôn. Một thầy, một đạo như sữa hòa với nước, từ xưa đến nay không hề xảy ra những việc không vui hòa, mè đậu lộn lạo. Ưu-ba-ly hiểu ý Phật, mỗi khi vâng lời Phật đi dàn xếp việc cãi vã, Tôn giả thường có một nguyên tắc “Nơi nào gây gổ chấm dứt ngay nơi ấy”. Tôn giả không đem việc gây ở chỗ này đi nói lại chỗ kia, không đem kể xấu người khởi gây cho người khác nghe. Nơi nào thị phi nơi ấy biết. Tôn giả không ưa khai thác rộng việc bất hòa, đã mở những gút mắc của tranh cãi thì không cho lưu dấu vết.

Với tư cách hòa chúng như vậy, thật không hổ là bậc trì giới, là thượng thủ trong Tăng đoàn.

Một hôm, đang trong mùa an cư, đức Phật sai tôn giả đến nước Sa-kỳ dẹp một nhóm gây nhau, Ưu-ba-ly từ chối không đi, đức Phật hỏi:

- Vì sao ông không đi?

Ưu-ba-ly biết câu chuyện này không có Phật giải hòa không xong, nhưng Tôn giả không tiện yêu cầu, chỉ mượn cớ thoái thác:

- Bạch Thế Tôn! Cái y Tăng-già-lê của con quá dày, nếu như đi đường gặp mưa ướt không khô, mà mang thêm một y nữa thì không hợp pháp, xin đức Thế Tôn từ bi, phen này đừng sai con đi được không?

Phật nghe xong, suy nghĩ giây lâu. Ngài muốn Ưu-ba-ly đi hóa giải, nên lại hỏi:

- Ông đi phen này mấy hôm trở về?

- Bạch Thế Tôn! Nếu như con phải đi, thì từ Xá-vệ đến nước Sa-kỳ mất hai ngày, ở lại đó hai ngày, trở về cũng mất hai ngày, một chuyến đi về cũng mất sáu ngày.

Đức Phật gật đầu nói:

- Từ nay về sau, trong thời gian an cư, Tỳ-kheo giữ trong người hai cái y, được phép trong vòng sáu ngày không phạm.

Vì muốn Ưu-ba-ly đi điều tra việc gây gổ mà đức Phật đã sửa đổi giới điều, chẳng phải là đem pháp luật chìu theo người, mà vì Ưu-ba-ly đã có địa vị trọng yếu như thế nào đối với Phật pháp!

Đức Phật sai Ưu-ba-ly đi điều tra chuyện gây gổ, dẹp tranh cãi, đối với các Tỳ-kheo ưa gây, Phật cũng thường bảo Ưu-ba-ly làm pháp Yết-ma sám hối cho họ. Trước khi cử hành pháp Yết-ma, Tôn giả trịnh trọng bảo mọi người:

- Thưa chư vị Đại đức! Tôi vâng lời Phật, vì các ông hay gây gổ làm các pháp Yết-ma, trị tẫn các ông. Lúc ấy, xin các ông đừng sợ hãi, đừng khởi niệm không vui.

Có một số Tỳ-kheo nghe tiếng nói uy nghiêm của Ưu-ba-ly đã không dám ở lại nơi đó, đã đi rồi cũng không dám tranh cãi, chẳng dám để cho vị chấp pháp như núi là Ưu-ba-ly làm pháp Yết-ma. Do đó, môi trường gây gổ dần dần biến mất. Thật tôn giả là vị trưởng lão hòa bình khéo dứt gây.

7- HỎI PHẬT VỀ GIỚI

Tôn giả Ưu-ba-ly có địa vị trọng yếu như thế và được tôn xưng là Trì Giới Đệ Nhất, là vì tất cả những vấn đề quan hệ đến giới pháp, Tôn giả thường đến đức Thế Tôn thưa hỏi đối thoại luận bàn, điều ấy có thể thấy ghi lại trong Luật tạng. Vì đó là những mẩu chuyện rời, hoặc là những giới điều khô khan, chúng tôi khó lòng dùng lối viết chuyện diễn tả vào đây. Hiện tại chỉ có thể sưu tập một hai việc, thuật ra đây đủ để biết những việc khác.

Trong chủng tộc Thích-ca thành Ca-tỳ-la-vệ, toàn quốc đã quy định luật lệ chung, nếu là người phụ nữ dòng họ Thích, không được kết hôn với người khác ngoài họ Thích. Nếu bất tuân sẽ trị tội nặng.

Lúc ấy có cô gái Hắc-ly-xa dòng họ Thích, tuổi đang thanh xuân, trong lúc mặt hoa dáng nguyệt tròn đầy lại bất hạnh chồng chết sớm, khiến một đời xuân trẻ gặp cảnh cô quả thiệt khó chịu được cảnh sớm tối tịch mịch. Ít lâu sau có một thanh niên thuộc họ khác đến cầu hôn, Hắc-ly-xa đã thuận lòng ưng chịu, nhưng gặp tên em chồng cản trở, muốn chiếm chị dâu làm vợ mình.

Tên này phẩm hạnh không ra gì, nhằm lúc Hắc-ly-xa gặp niềm vui mới, nàng đôi ba phen cự tuyệt không chịu đáp ứng, khiến hắn ta nổi giận thề rằng:

- Mi đã có tình riêng, ta sẽ giết mi cho xem.

Hắn bèn bỏ thuốc mê vào trong rượu khiến Hắc-ly-xa uống nhằm say bất tỉnh. Hắn đánh đập cô thương tích cùng mình và lên quan báo cáo.

- Cô này là vợ tôi, tư thông với người khác họ.

Khi Hắc-ly-xa tỉnh dậy, có miệng không lời, đã mang tội như vậy ắt là bị xử tử. Cô bèn thừa dịp người gác hơ hỏng, chạy trốn đến thành Xá-vệ và theo các Tỳ-kheo ni trong thành xuất gia.

Quan quân thành Ca-tỳ-la truy nã cô gái khắp nơi không thấy tung tích. Sau nghe tình báo cho biết Hắc-ly-xa hiện đào tẩu ở nước Xá-vệ, họ bèn tức tốc biên thư cho vua Ba-tư-nặc.

“Nước chúng tôi có một nữ tội phạm đã mang tội quốc pháp. Nghe tin cô ta đang đào tỵ ở quý quốc, chúng tôi mong rằng quý quốc giao trả nữ tội phạm ấy lại cho nước chúng tôi. Sau này, nếu có tội phạm của quý quốc trốn sang nước chúng tôi, chúng tôi cũng sẽ giao lại quý quốc xử lý.”

Vua Ba-tư-nặc xem thư xong hỏi các quan:

- Hắc-ly-xa thiệt có trốn đến nước ta chăng?

Các quan thưa:

- Khải bẩm đại vương! Hắc-ly-xa quả thật đang trốn tại nước ta, nhưng cô ấy đã theo các Tỳ-kheo ni xuất gia. Đại vương đã ban lệnh từ trước nếu ai phạm đến các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni sẽ bị tội nặng. Hiện tại, cô ta đã xuất gia thì đâu có ai dám làm gì được. Xin thỉnh ý đại vương phải dùng biện pháp gì đây?

Vua Ba-tư-nặc suy nghĩ đôi ba phen, rồi biên thư phúc đáp:

“Hắc-ly-xa quả thật có trốn ở nước tôi, nhưng hiện nay đã xuất gia, không thể truy tội. Nếu như việc khác sẽ xin như lời của quý quốc. ”

Vua quan dòng Thích-ca nhận được hồi âm ấy, đều bừng bừng tức giận. Có một nữ tội nhân mà không trừng trị được thì quốc pháp dùng vào đâu?

Vì một nữ phạm nhân xuất gia khiến cho hai nước gây mầm hiềm khích, tôn giả Ưu-ba-ly biết được việc ấy, bèn đến hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn! Người đã phạm quốc pháp, chúng ta có thể thâu nạp cho xuất gia không?

- Này Ưu-ba-ly! Quốc pháp hợp lý hay không hợp lý đó là việc của chánh phủ và dân chúng, nếu như đã phạm tội khi chưa được tuyên bố ân xá, Tăng đoàn không được làm phép xuất gia!

Vị Tỳ-kheo ni thâu nhận Hắc-ly-xa bị đức Thế Tôn quở trách một phen. Điều đó không phải Phật thiếu lòng từ, không cứu tội nhân, nhưng vì Tăng đoàn thanh tịnh phạm giới luật thì bị diệt tẫn, còn phạm phép nước phải chịu luật nước xử trị. Phật pháp không thể che chở cho tội nhân. Vì muốn kiện toàn Tăng đoàn, để cho giới pháp không xúc phạm quốc pháp, tôn giả Ưu-ba-ly đã bàn luận vấn đề này với Phật.

Ưu-ba-ly lại có khi thưa hỏi với đức Phật về một vấn đề lý thú:

- Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni có thể làm mai mối cho nam nữ không?

Đức Phật trả lời:

- Này Ưu-ba-ly! Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni đem tâm tình người nam ngỏ với người nữ, đem ý người nữ nói với người nam, cho đến giới thiệu giao hội một lần, sẽ phạm Tăng-già-bà-thi-xa, cần phải hối quá.

- Như vậy thì, bạch Thế Tôn! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni trong Tăng đoàn đối với việc hôn lễ của tín đồ tại gia, phải nên có thái độ thế nào mới đúng?

- Không nên lưu tâm lắm, nếu là hợp pháp, thì có thể đối trước Tam bảo làm lễ chứng minh cho họ.

Giới là ý nghĩa phòng phi chỉ ác, vốn là khuôn phép cho thân tâm, mà vấn đề nam nữ rất dễ gây rắc rối, dễ đem lại phiền não bất an, tôn giả Ưu-ba-ly – Trì giới đệ nhất – đã thưa thỉnh đức Phật việc này. Trong giới luật đã liên quan đến việc hạn chế tương giao nam nữ rất nhiều.

8- PHÉP THĂM NUÔI BỆNH NHÂN

Đối với bệnh nhân thế nào? Ưu-ba-ly đã một phen xin đức Phật giảng giải tỉ mỉ về vấn đề này.

Khi có bệnh, tuy đang đau ốm nhưng phải thế nào mới hợp giới pháp? Khi thăm nuôi bệnh, phải chăm nom thế nào mới hợp pháp? Ưu-ba-ly rất quan tâm đến việc này.

Có lúc Tôn giả theo sau đức Thế Tôn, thấy một vị Tỳ-kheo bệnh nằm nơi ô uế không thể tự ngồi dậy, lại một lần khác Tôn giả thấy một Tỳ-kheo bệnh nằm bên đường đi, các Tỳ-kheo khác thấy rõ ràng nhưng vì đức Phật chưa chế giới khán bệnh nên thầy chỉ nhiễu quanh người bệnh rồi bỏ đi, không chăm nom. Lại có những Tỳ-kheo khi mang bệnh cho rằng không cần trì giới nên tự ý buông lung. Vì những chuyện như vậy, Tôn giả bèn đưa vấn đề ra thỉnh vấn đức Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu như có Đại đức Tỳ-kheo bệnh, thì nên chăm sóc như thế nào?

- Này Ưu-ba-ly! Khi có Tỳ-kheo đại đức bệnh, không nên để nằm tại phòng thất nhỏ hẹp, nên để nằm ở phòng chính thoáng khí sáng sủa phía ngoài. Đệ tử của vị ấy nên thường hầu hạ hai bên, quét dọn trong phòng, cắm hoa đốt hương, tùy thời theo dõi hơi thở của thầy. Nếu các Tỳ-kheo đồng học đến thăm, nên rót nước mời trà. Nếu khách hỏi điều gì, người bệnh muốn đáp nhưng sức yếu không có tinh thần giảng giải, thị giả nên trả lời thay. Khi hỏi thăm an ủi nên tùy thuận thuyết pháp, vì người bệnh phục vụ mọi thứ, cung cấp đầy đủ những điều cần yếu của người bệnh về ăn uống, thuốc men. Nếu có tín chúng tại gia đến thăm bệnh, nên mời ngồi ở sau người bệnh, và vì họ thuyết pháp, nếu có cúng dường nên niệm Phật chú nguyện tiếp thọ. Nếu người bệnh muốn đại, tiểu tiện, người thăm bệnh nên lè lẹ lui ra. Trong phòng trừ người thị giả nuôi bệnh, ngoài cửa phòng cũng cần có người, không nên để người đột nhập.

Này Ưu-ba-ly! Tỳ-kheo Đại đức bệnh nên theo như trên mà khán bệnh.

- Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo tiểu đức khi bệnh, chúng con đến chăm sóc thăm nom như thế nào?

- Này Ưu-ba-ly! Tỳ-kheo nhỏ nếu đau ốm, không nên để nằm nơi phòng chính, đừng để hơi bệnh ô uế bay đến các phòng khác. Sư trưởng hoặc đệ tử của người đó đều nên đến chăm sóc. Nếu như không có đệ tử hay sư trưởng, các vị đồng trụ xứ nên cử người khán bệnh, đôi ba người thay phiên nhau chăm sóc. Bệnh nhân nếu cần thuốc men ăn uống, người khán bệnh nên cung cấp đầy đủ, nếu không có đầy đủ thuốc và vật thực thì đại chúng nên cấp cho, như đại chúng cũng không có, nên lấy những y bát đáng giá của người bệnh mà đổi lấy thuốc men, vật thực. Nếu như người bệnh tiếc rẻ không muốn đổi, nên bạch với vị trưởng lão đại đức mềm mỏng thuyết pháp để người bệnh vui lòng xả bỏ vật chất, rồi sau mới đem đổi. Nếu không có cách gì đổi chác, đại chúng nên đi xin về nuôi người bệnh. Nếu không xin được thì lựa thức ăn thượng vị của chúng Tăng đem cho, hoặc Tăng chúng không có, người khán bệnh nên đem theo hai bát vào làng xóm khất thực, lựa thức ăn ngon cho người bệnh. Này Ưu-ba-ly! Khi chăm sóc bệnh cho Tỳ-kheo nhỏ nên làm như thế.

Những vấn đề liên quan đến Tỳ-kheo có bệnh, cách ăn uống, thuốc thang quy định thế nào, cho đến sau khi bệnh nhân viên tịch xử lý những vật còn lại, tôn giả Ưu-ba-ly đều thưa hỏi Phật. Tôn giả đã lưu tâm tỉ mỉ đến người bệnh, chúng ta thấy rõ tinh thần từ bi vì người của Tôn giả, và đó cũng là tinh thần trì giới.

Một vị Tỳ-kheo xuất gia, cắt ái từ thân, xa cách làng xóm gia đình, gia nhập Tăng đoàn, mà lúc đau bệnh nếu không ai săn sóc sẽ rất khổ sở. Nhưng từ khi Ưu-ba-ly thưa hỏi đức Phật về cách khán bệnh thì quy củ ổn định, khi bệnh không còn bất ổn nữa. Trong tám phước điền thì khán bệnh là phước điền đệ nhất, nào là sư phụ, sư huynh, sư đệ, đệ tử đều chăm lo cho bệnh nhân. Qua câu chuyện giữa đức Phật và Ưu-ba-ly, chúng ta thấy vấn đề ấy rất quan trọng đối với Tăng chúng.

9- PHÁ TĂNG VÀ HÒA TĂNG

Ưu-ba-ly đứng trên lập trường trì giới, nên thường không quan tâm đến vấn đề pháp chế, vấn đề nam nữ, vấn đề lão bệnh, nhưng Tôn giả quan tâm nhất là vấn đề phá Tăng và hòa Tăng.

Trong Tăng đoàn lục hòa, hòa hợp về giới luật mới có thể đồng sống chung, cho nên một vị Tỳ-kheo trì giới đặc biệt để ý đến vấn đề Tăng đoàn hòa hợp.

Một hôm, Phật ở tại thành Xá-vệ, Ưu-ba-ly nghĩ đến vấn đề đoàn kết của chúng Tăng, Tôn giả bèn đến chỗ của đức Phật, cúi đầu đảnh lễ và thưa hỏi:

- Bạch Thế Tôn! Con xin hỏi về thế nào là phá hòa hợp Tăng?

- Này Ưu-ba-ly! – Đức Phật ngừng một chút rồi mới nói. Nếu có vị Tỳ-kheo hiểu nghĩa lý sâu xa đúng pháp đúng luật, thì các đệ tử của vị ấy dù tại gia hay xuất gia đều phải lễ bái, cung kính, tùy thuận theo lời chỉ dạy của vị ấy. Nếu có người khinh thị, đàm tiếu, chê bai, hủy báng đó là phá hòa hợp Tăng. Nếu các tín đồ tại gia, đối với chư Tăng phân chia nhân ngã, hoặc khiêu khích gây mầm chia rẽ trong Tăng đoàn, hoặc làm nhiều chuyện rối rắm, gọi đó là phá hòa hợp Tăng. Hoặc như quan quân chính quyền cố dùng quyền thế mà can thiệp vào nội bộ tự viện, xua đuổi Tăng Ni, gọi là phá hòa hợp Tăng.

- Bạch Thế Tôn! Người phá hòa hợp Tăng bị tội ra sao?

- Ưu-ba-ly! Tội phá hòa hợp Tăng phải đọa địa ngục, chịu khổ trong một kiếp.

Ưu-ba-ly lại hỏi:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là hòa hợp Tăng?

- Này Ưu-ba-ly! Lễ bái cung kính tùy thuận theo vị Tỳ-kheo như pháp, như luật, và có thể phát tâm hỗ trợ chúng Tăng, khen ngợi chúng Tăng, thì gọi là hòa hợp Tăng.

- Như vậy thì người hòa hợp Tăng được những công đức gì?

- Công đức của người ấy được sanh lên cõi trời thọ hưởng khoái lạc trong một kiếp.

Công và tội của hòa Tăng và phá Tăng, không phải Ưu-ba-ly không biết, nhưng Tôn giả muốn chính kim khẩu Phật nói ra điều đó để tăng thêm sự quan trọng và sức mạnh. Tôn giả vốn là một người khiêm tốn, giữ luật, rành rẽ nghĩa lý, tác phong của Tôn giả, thái độ của Tôn giả khiến chúng ta phát khởi lòng kỉnh ái vô lượng.

10- KẾT TẬP TẠNG LUẬT

Bình thường tôn giả Ưu-ba-ly xử lý những rắc rối trong Tăng đoàn, thường làm pháp Yết-ma sám hối cho các Tỳ-kheo phạm giới, thường luận bàn với đức Phật về những chỗ vi tế trong giới luật. Lâu dần, tôn giả thành một bậc danh cao đức trọng, về phương diện giới luật, Tôn giả có đầy đủ quyền hạn. Đức Phật tuyên bố tôn giả là người Trì giới đệ nhất, và các vị Tỳ-kheo trong Tăng đoàn cũng công nhận như vậy.

Có các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo ni, nếu không hiểu một vài điểm trong giới luật, không tiện thưa hỏi Phật, thảy đều thỉnh giáo với Ưu-ba-ly. Tôn giả như một cổ đại hồng chung trầm mặc, bình thường ít nói, nhưng gặp việc cũng phát ra ảnh hưởng lớn.

Một đời của Ưu-ba-ly, vì Tôn giả là vị Tỳ-kheo trì giới, rất ít giao thiệp với kẻ thế tục, không có những hoạt động ngoài xã hội. Giới luật được thành lập vì Tăng đoàn nên sanh hoạt của Ưu-ba-ly xưa nay không rời khỏi Tăng đoàn. Những ký sự liên quan đến Tôn giả, chúng ta cũng chỉ có thể giới hạn trong Tăng đoàn.
Khi đức Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả cũng xấp xỉ bảy mươi tuổi. Các vị đại đệ tử vân tập trong hang Tất-bát-la, do Đại Ca-diếp làm thủ tọa, đã đề cử A-nan kết tập tạng Kinh, Ưu-ba-ly kết tập tạng Luật, nhưng đang khi đại chúng cung thỉnh, Tôn giả đã khiêm tốn từ chối:

- Tôi không dám đảm nhận trách nhiệm lớn lao, xin chư vị hãy mời trưởng lão khác.

Tôn giả Đại Ca-diếp ủng hộ Ưu-ba-ly, thấy từ chối, bèn nói:

- Tôn giả Ưu-ba-ly! Xin đừng khách sáo. Tuy hôm nay ngồi tại tòa có năm trăm người đều là Tỳ-kheo trưởng lão, nhưng ngay từ ban đầu, đức Thế Tôn đã thọ ký Tôn giả thành tựu được mười bốn pháp, trừ đức Phật ra, trong Tăng đoàn Ngài là người trì giới đệ nhất, tạng Luật hiện tại do Tôn giả tụng ra đấy!
Ưu-ba-ly nhận lời, và trước tiên đưa ra nhiều nguyên tắc, yêu cầu đại chúng cùng tuân theo, rồi sau mới tụng luật.

Khi Tôn giả lên tòa, mỗi mỗi điều luật đều nói rõ giới này Phật nói lúc nào, ở đâu, nói với người nào, do nguyên nhân gì mà chế giới, và phạm giới ấy có tội, không tội ra sao. Các vị trưởng lão tham gia cuộc kết tập, đối với sự ghi nhớ tỉ mỉ của Tôn giả đều khâm phục sát đất.

Một vị xuất thân từ dòng hạ tiện, lại có địa vị cao tột như thế trong Tăng đoàn, thiệt chẳng phải là điều ngẫu nhiên. Sau hết, vì tôn giả đã chủ trì buổi kết tập Thánh điển Luật tạng, một trong ba tạng, nên được hưởng thọ sự kính ngưỡng bái phục của muôn đời sau, khiến cho các dân tộc khổ nạn thêm tín tâm mạnh mẽ, khiến cho ánh sáng bình đẳng của Phật giáo đã chiếu sáng ngàn vạn đời cho tất cả chúng sanh.

Đại Ca Diếp



ĐẠI CA DIẾP

ĐẦU ĐÀ ĐỆ NHẤT

1- DƯỚI CÂY SANH VĨ NHÂN

Nếu như hai ngàn năm trăm năm trước, có người giữ gìn nhục thân sống đến hôm nay, thì đó là tôn giả Đại Ca-diếp, Đầu-đà đệ nhất trong hàng đệ tử Phật.

Cách đây không lâu, bác sĩ Bá Khắc Sum người Pháp đã được gặp tôn giả Đại Ca-diếp tại Kê Túc Sơn, Ấn Độ, và đã quy y với Ngài. Cuộc đời của vị thánh đầy tánh cách truyền kỳ ấy, hôm nay đem giới thiệu ra đây, thật là một đoạn cố sự mỹ lệ.

Chúng ta hãy trở lại từ lúc Tôn giả vừa chào đời.

Hai ngàn năm trăm năm trước, tại thôn làng Ma-ha Sa-la-dà cách thủ đô Vương Xá nước Ma-kiệt không xa, có một nhà hào phú trưởng giả dòng Bà-la-môn tên Ni-câu-lư-đà-kiệt-ba, tiếng đồn tài sản của ông có thể sánh với vua Tần-bà-sa-la đương thời.

Tôn giả Đại Ca-diếp đã xuất sanh trong gia đình hào phú ấy.

Nói về lúc đản sanh Tôn giả, có những điềm lành không khác với điềm lành đản sanh Phật-đà là mấy. Ngày mẫu thân Tôn giả lâm bồn, chính là lúc bà đang dạo chơi trong đình viện, bỗng cảm thấy mệt mỏi, bà đến ngồi dưới bóng cây đại thọ Tất-bát-la nghỉ ngơi, lúc ấy chẳng biết thiên y từ đâu bay tới, và Đại Ca-diếp cất tiếng khóc chào đời.

Đại Ca-diếp, cha mẹ đặt tên vốn gọi là Tất-bát-la-da-na, lấy ý sanh dưới gốc cây. Đại Ca-diếp tướng hảo đầy đủ không thua kém ba mươi hai tướng của đức Phật. Gia đình đại phú hào chỉ có một quý tử, sự nuôi dưỡng và thương yêu của cha mẹ thật không thể nói hết. Nội số nhũ mẫu đã hết bốn bà, còn số người hầu hạ chăm sóc chơi đùa lại rất nhiều.

Khi Đại Ca-diếp lên tám tuổi, đã được học các giới điều Bà-la-môn, và theo thầy học tập các thứ, từ pháp tế lễ, thi họa, toán thuật, văn học, ngũ minh, bốn bộ Phệ Đà, cho đến xem thiên văn, đoán âm dương kiết hung, đất động sấm nổ, âm nhạc ca vũ v.v… do sức thông minh của Ca-diếp, không có môn nào không thấu hiểu triệt để.

Duy có một điều rất lạ, ngay từ nhỏ Ca-diếp không giống các trẻ con khác, đối với dục lạc thế gian không ưa, chẳng thích tình âu yếm, chán ghét bất tịnh, thường ưa ở một mình xa đám đông, ngay cả cha mẹ, xa cách cũng không nhớ đến.

2- NGƯỜI VỢ KHÔNG CHUNG GIƯỜNG

Ngày tháng thoi đưa, Ca-diếp đã trở thành một thanh niên anh tuấn, phong lưu. Song thân chàng rất hài lòng, bèn bảo chàng, một ngày gần đây sẽ chọn một tiểu thơ xinh đẹp để cưới cho chàng, Ca-diếp vội vàng từ chối:

- Đó là điều không nên, con chỉ mong muốn duy nhất là được tu đạo, có vợ con rất trở ngại cho việc tu trì lắm.

Đương nhiên là song thân không thể nào đáp ứng yêu cầu đó, khi không còn cách nào để chối từ, chàng bỗng nghĩ ra một biện pháp. Chàng liền mời một nhà điêu khắc đến, lấy vàng đúc thành một pho tượng mỹ nữ sáng rỡ, và chàng đem trình với song thân.

- Cha mẹ nhất định bảo con cưới vợ, xin hãy chọn cô nào giống y tượng vàng này, nếu không con sẽ suốt đời không lấy vợ.

Song thân Ca-diếp thấy con yêu cầu điều này, biết là thật rối rắm khó khăn, sau cùng mới theo lời đề nghị của các thầy Bà-la-môn thường lui tới trong gia đình, quyết định tìm cho ra một cô nương giống tượng vàng ấy. Các thầy Bà-la-môn bèn thiết lập một nhà dù thật lớn đặt pho tượng trong đó, thờ cúng như một vị nữ thần, và đi rảo từ làng này sang làng nọ, từ phố này sang phố kia, đến đâu thiên hạ cũng bu theo xem rất đông đảo. Các thầy mới rao lên:

- Các cô thiếu nữ có cầu mong ước nguyện gì! Hãy đến cúng dường nữ thần! Các cô sẽ được toại nguyện như ý.

Cứ như thế các thầy dạo đi từ thành Vương Xá, qua sông Hằng, lần lần đến thành Tỳ-xá-ly. Ngoại thành này có một thôn trang tên Ca-la-ty-ca, và trong thôn có một gia đình Bà-la-môn cũng nổi danh đại phú. Họ có một cô con gái tên Diệu Hiền, thiên tư quốc sắc, nổi danh mỹ nhân, thường ở trong khuê phòng ít bước chân ra ngoài.

Hôm ấy nhằm ngày hội hoa đăng, nam thanh nữ tú vui chơi dập dìu. Diệu Hiền được bạn bè hẹn hò, đến chiêm bái pho tượng vàng thần nữ. Diệu Hiền nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn, khi đến lễ nữ thần đã khiến lu mờ cả tượng vàng. Thầy Bà-la-môn quản lý một phen thấy rồi rất mừng rỡ, bèn theo hỏi thăm gia đình nàng, và đến gặp song thân Diệu Hiền trình bày ý muốn kết thân. Bên song thân nàng cũng nghe danh tiếng Đại Ca-diếp, nên rất hoan hỷ hứa gả con gái.

Thủ tục đính hôn hoàn thành, chọn ngày lành tháng tốt đón dâu. Hãy nhìn Diệu Hiền xem, nàng mặc áo gấm, đeo chuỗi ngọc, thật là tiên nữ cũng không đẹp bằng. Nhưng có điều rất lạ, tân nương tuy có sắc đẹp nghiêng thành nghiêng nước, mà gương mặt rất buồn, như nặng mang một tâm sự.

Đờn ca xướng hát, lễ bái trời đất xong, Đại Ca-diếp và Diệu Hiền được đưa vào động phòng. Đôi vợ chồng mới, chẳng có một nụ cười, cũng không ai ngó ai, chỉ ngồi nhắm mắt làm thinh, mỗi người một tâm sự trầm mặc. Đêm động phòng hoa chúc thế này, thật là lạnh lùng nghiêm trang!

Canh một rồi canh hai, canh ba, canh bốn, canh năm đã dứt, trời dần sáng mà cả hai không nói một lời nào. Cho đến lúc lâu, ánh nắng xuyên vào phòng, Ca-diếp mới mở lời:

- Xin hỏi nàng có tâm sự gì chăng?

Diệu Hiền châu mày, ngồi làm thinh.

- Có điều gì nàng cứ nói, chúng ta cùng thương lượng.

Diệu Hiền lại ứa nước mắt, mà cũng chẳng trả lời.

- Thế này là thế nào? Tại sao nàng khóc?

Ca-diếp hỏi tới, có vẻ giận.

Ca-diếp hỏi đôi ba phen, Diệu Hiền không dừng được, mới thở dài đáp nhỏ:

- Chàng phá hoại chí nguyện của tôi. Tôi xưa nay rất ghét ngũ dục, muốn tu phạm hạnh thanh tịnh. Ba má tôi bị mê hoặc bởi sự giàu sang của chàng, khiến nguyện vọng của tôi bị lở dở.

Đại Ca-diếp nghe nói rất mừng. Chàng liền nói cho Diệu Hiền biết, mình cũng rất ghét ái nhiễm, ưa tu hạnh thanh tịnh. Đây thật là khéo hợp ý trời, chúng ta có thể làm theo chí nguyện của mình.

Do đó hai người cùng ước định, trong phòng kê hai cái giường, trên danh nghĩa là phu thê mà không ngủ chung giường.

3- MƯỜI HAI NĂM THỦ ƯỚC

Câu chuyện ngủ riêng giường, lọt đến tai cha mẹ Ca-diếp. Hai ông bà bèn vào phòng xem xét, thấy hai giường kê hai nơi thật chẳng cao hứng tí nào, bèn rầy:

- Hai con là vợ chồng mới cưới mà trong phòng kê riêng hai giường thật chẳng nên. Ta sẽ gọi người đến dẹp bớt một cái.

Ca-diếp chẳng dám cãi lời, nhưng càng giữ vững lời hứa, càng cương quyết lập chí, chàng nói với Diệu Hiền:

- Không lo chuyện ấy. Còn một cái giường thì chúng ta thay phiên nhau ngủ. Đầu hôm đến giữa đêm thì nàng ngủ, tôi đi kinh hành tu niệm trong phòng, đến gần sáng thì nàng thức dậy, tôi ngủ, nàng có thể đi kinh hành hoặc ngồi thiền.

Diệu Hiền rất bằng lòng đề nghị đó, nàng nói thêm:

- Chúng ta cần phải mau mau ra khỏi cái nhà nguy hiểm này, chớ còn trong vòng ngũ dục thì nơi nào cũng có nguy cơ ẩn nấp, mê hoặc người trong chốn đọa lạc.

Ca-diếp an ủi:

- Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng phụ mẫu còn hiện tại, tôi là con một không thể bỏ đi. Nàng hãy kiên nhẫn, lý tưởng và chí nguyện của chúng ta sẽ có ngày thực hiện.

Hai người tuy sống trong chốn bụi trần mà tâm vui trong đạo nghiệp thanh tịnh, không hề xúc phạm nhau, an ổn qua thời gian.

Có một đêm, Diệu Hiền ngủ trên giường, Ca-diếp đi kinh hành trong thất, bỗng nhiên có một con rắn độc màu đen bò ngang giường Diệu Hiền. Ca-diếp chú ý nhìn thấy cánh tay Diệu Hiền buông thõng xuống giường cách chỗ rắn độc không xa, chàng lo lắng, rủi như nàng bị rắn mổ nhằm mới làm sao?

Trong lúc mười phần cấp bách, Ca-diếp liền dùng chéo áo quấn quanh cánh tay mình, rồi mới nhè nhẹ đỡ cánh tay Diệu Hiền lên trên giường. Đang ngủ ngon bỗng bị động, Diệu Hiền giựt mình choàng tỉnh, nàng kinh sợ lật đật ngồi dậy, có vẻ vừa giận vừa bực, nàng hỏi Ca-diếp:

- Việc gì xảy ra thế? Có chuyện gì như thế này?

Sau khi nghe Ca-diếp giải thích nàng mới yên lòng, và rất cảm phục chàng. Cả hai giữ mức sống thanh tịnh như vậy trong suốt mười hai năm.

4- XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Hội hợp ắt biệt ly, có sanh ắt có tử, đó là đạo lý nhất định của thế gian. Song thân Đại Ca-diếp lần lượt qua đời.

Sau đó không lâu, ngày nọ Diệu Hiền sai gia nhân ép dầu mè, trong dầu mè có rất nhiều con bọ nhỏ lúc nhúc cựa quậy, nàng nghe gia nhân bàn tán với nhau:

- Ép chết bao nhiêu con vật nhỏ này không biết sau này chịu quả báo đáng sợ thế nào? Nhưng thật ra đó không phải là lỗi của chúng ta mà là mệnh lệnh của nữ chủ.

Diệu Hiền nghe qua những lời ấy cảm thấy ghê sợ, lập tức bảo họ ngừng ép dầu, một mình lui vào phòng đóng cửa lại tịnh tọa tư duy.

Cũng hôm ấy, Đại Ca-diếp đi thăm ruộng. Chàng thấy đôi bò kéo cày nặng nhọc, nông phu làm việc không kể thân. Trong ruộng có những loài côn trùng bị đường cày chặt đứt, lớp chết, lớp bị thương quằn quại thật thảm thương. Chàng nhìn cảnh tượng ấy càng chán ngán cho sự sống trên thế gian. Chàng nghĩ: “Chỉ vì sự ăn mặc của ta mà bao nhiêu người và bao nhiêu thú vật phải chịu đủ thứ khổ sở như thế sao? Không kể là người nào, không kể ăn thức ăn gì, cũng trong khoảng một đấu cơm, không kể ngủ cách nào cũng chỉ trong khoảng cái giường sáu tấc. Còn những thứ cần dùng khác chẳng qua là một sự lãng phí. Chỉ vì những sự lãng phí xa xỉ vô dụng đó, mà làm tổn bao nhiêu người vật, giết hại bao nhiêu sanh linh như thế, thật là một điều quá ư bất công và rất không hợp lý!”

Đại Ca-diếp nghĩ như thế rồi, trở về nhà thấy Diệu Hiền với những sự tình ưu não như vậy, thật chẳng vui chút nào. Sau đó, hai người ngỏ bày tâm sự, cả hai đều cảm thấy nỗi đau khổ của thế gian, nỗi buồn thảm của kiếp người.

Đại Ca-diếp bèn nói với Diệu Hiền:

- Nói gì thì nói, tôi sẽ rời bỏ cái nhà này để đi xa học đạo. Ở nhà thiệt chẳng khác ở trong chốn lao ngục, bao nhiêu thứ ràng buộc, khổ não đủ điều. Ở trong gia đình tạo nghiệp không có hồi kết thúc, tôi sẽ ra đi để tìm cho ra chơn lý của kiếp người. Tu hành trong chốn rừng núi như là lui tới trong chốn hư không, không có chút trở ngại. Tạm thời tôi đi trước tìm thầy hỏi đạo, nàng ở lại nhà đợi khi nào tôi gặp được bậc thầy hiền minh, tôi sẽ trở về dẫn nàng cùng xuất gia. Chúng ta sẽ đem hết tài sản cứu tế cho các người nghèo cùng cơ khổ, và chia cho các gia nhân. Nàng hãy đợi, nhất định tôi sẽ mang tin tốt đẹp trở về.
Diệu Hiền nghe xong, rất kính phục chí nguyện của trượng phu, cùng cảm kích mối quan tâm của chàng. Chuyện xuất gia tu đạo này vốn là nguyện ước từ lâu của hai vợ chồng, vì còn cha mẹ mà phải qua hơn mười năm chờ đợi.

Hôm nay, Đại Ca-diếp đi xuất gia tu hành, trong tâm tình thật hoan hỷ, thật không thể nói hết.

5- LÀM ĐỆ TỬ ĐỨC PHẬT

Lúc ấy Đại Ca-diếp đã ba mươi tuổi. Theo truyền thuyết, ngày chàng rời nhà tìm đạo cũng chính là ngày đức Phật ngồi dưới cội cây Bồ-đề, trên tòa Kim Cương thấy sao mai mọc và thành Đẳng chánh giác.

Đại Ca-diếp đi tìm thầy khắp nơi, nhưng thầy nào cũng không đáp ứng được nguyện vọng của chàng. Hai năm sau, trong lúc đang tìm đạo tại nước Uyên Già, có người mách với chàng, đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc Đại giác của thời này. Ngài đang thống lãnh những đạo sĩ nổi danh như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp… cả ngàn đồ đệ tại tinh xá Trúc Lâm. Đại Ca-diếp nghe tin ấy rất vui mừng bèn hỏi thăm đường đến Trúc Lâm.

Tinh xá Trúc Lâm là đạo tràng tối sơ khi đức Thế Tôn tổ chức giáo đoàn, cách cửa Bắc thành Vương Xá không xa. Khi Đại Ca-diếp đến đây, chàng không trực tiếp thưa hỏi đức Phật, chỉ mỗi ngày theo tín chúng trong thành đến nghe pháp. Chàng nghĩ bụng nếu không phải là Phật thì không tôn bái làm thầy. Theo ý chàng, nếu không gặp Phật, không có tôn sư, chàng cũng có thể tu chứng được quả vị Độc giác.

Lời thuyết pháp của Phật, đức huệ của Phật dần dần kích động tâm can Đại Ca-diếp. Một hôm, sau khi nghe Phật thuyết pháp xong, chàng trở về thành Vương Xá. Gần cổng thành là tháp Đa Tử, cạnh đó có một cây đại thọ cành lá sum sê. Chàng ngạc nhiên thấy đức Phật đang ngồi tịnh tọa dưới gốc cây. Khi chàng ra về, còn thấy Ngài ngồi trên bảo tòa pháp vương ở trong tinh xá, sao bây giờ lại gặp Ngài ở đây? Chàng càng nhìn càng thấy đức Phật tướng mạo oai nghiêm thuần tịnh, như một tòa kim sơn, rốt cuộc không đến lễ bái không xong. Chàng đến đảnh lễ dưới chân Phật, và cảm động thành khẩn nói:

- Bạch Thế Tôn! Ngài là bậc đại sư của con, xin tiếp độ cho con – Đại Ca-diếp được quy y, từ nay Đại Ca-diếp là đệ tử Phật!

Đức Phật biết lúc này lòng tin của Đại Ca-diếp đã chắc chắn, liền bảo:

- Này Đại Ca-diếp! Ông chính thật là đệ tử của ta. Ta chính là lão sư của ông. Trên thế gian này, như người nào chưa chứng quả vị Chánh giác, không dám nhận ông làm đệ tử. Ông hãy theo ta.

Đức Phật từ từ đứng dậy, đi về tinh xá Trúc Lâm. Đại Ca-diếp theo sau chân Ngài, vừa cung kính vừa cảm động, vừa mừng vui đến rơi lệ.

Đức Phật ngoái lại nhìn Đại Ca-diếp sau mới nói:

- Ta nghe nói về ông đã lâu, ta biết thế nào ông cũng đến cầu đạo với ta. Hôm nay là ngày ông được tiếp độ, Phật pháp lưu truyền về sau cần ông rất nhiều, vì chúng sanh và vì chính mình, ông nên thận trọng!

Về đến Trúc Lâm, đức Phật làm lễ thế độ cho Đại Ca-diếp, và nói pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên, với oai đức tướng hảo của Thế Tôn, với từ ân thân thiết của Thế Tôn, có thể nói rằng bầu không khí chứng ngộ đã bao trùm Đại Ca-diếp. Lời dạy của Phật như đám mưa rơi trên thửa ruộng khô khao, tám ngày sau ông khai ngộ.

6- CỨU ĐỘ HIỀN THÊ

Đại Ca-diếp xuất gia một năm sau, là đức Phật thành đạo năm thứ ba. Đức Phật nhận lời thỉnh của phụ vương, cùng các Tỳ-kheo trở về cố thành Ca-tỳ-la, Đại Ca-diếp cũng có mặt trong ấy. Sau đó, Phật trở về tinh xá Kỳ Viên nước Xá-vệ. Trong số những hoàng tộc theo Phật xuất gia, có cả Kiều-đàm-di di mẫu cũng được xuất gia và thành lập giáo đoàn Tỳ-kheo ni.

Do đó, Đại Ca-diếp nhớ đến lời hứa với Diệu Hiền, vì trước đó người nữ không được xuất gia nên Tôn giả không dám xin đức Phật. Bây giờ đã có giáo đoàn Tỳ-kheo ni, chính là lúc thực hiện lời giao kết với Diệu Hiền. Đại Ca-diếp từ khi rời nhà học đạo đã cách ba, bốn năm. Trong ba, bốn năm ấy chẳng biết tình hình của Diệu Hiền thế nào? Tôn giả bèn an tĩnh nhập định quan sát, mới biết Diệu Hiền đang theo làm đệ tử một phái ngoại đạo bên bờ sông Hằng.

Nguyên lai là từ khi Tôn giả đi tìm đạo, Diệu Hiền cũng ở nhà một mình đợi tin tức. Nhưng năm tháng trôi qua vùn vụt, một năm rồi hai năm mà chẳng thấy âm hao của Đại Ca-diếp, nàng mới quyết định tự xuất gia, không đợi nữa. Lập chí rồi, nàng cho gọi người quản gia đến bảo đem hết trang sức, y phục của mình phân chia cho bà con, làng xóm, gia nhân. Nàng đi đến bờ sông Hằng, lễ bái nhóm lõa hình ngoại đạo đang tu tập tại đây làm thầy.

Làm đệ tử nhóm ngoại đạo này, vì dung mạo mỹ lệ mà nàng đã chịu nhiều sự lăng nhục. Đại Ca-diếp biết nàng đang cần sự tiếp độ của mình, đích thị là Tôn giả phải mau mau đem đạo lý chân thực của đức Phật sớm giác ngộ cho nàng. Tôn giả bèn nói chuyện ấy với một vị Tỳ-kheo ni, yêu cầu đi đón Diệu Hiền. Vị Tỳ-kheo ni ấy bằng lòng, chẳng bao lâu đã đưa Diệu Hiền về đến.

Diệu Hiền gia nhập ni viện rồi, cũng vì sắc đẹp ấy làm đề tài cho thiên hạ xầm xì xa gần. Nàng cảm thấy rất tủi hổ, buồn bực đã trót sanh làm thân người nữ kém phước. Từ đó, nàng không đi ra ngoài khất thực, xa lìa đại chúng, không ló mặt nơi đông người.

Đại Ca-diếp biết chuyện sanh tâm lân mẫn. Tôn giả xin phép Phật mỗi ngày chia bớt phân nửa phần thức ăn cho Diệu Hiền. Chuyện ấy lọt vào mắt cô Tỳ-kheo Thâu-la-nan-đà. Cô là một người hay thị phi bàn tán nhất trong chúng. Chẳng biết là vì tật đố hay vì cớ gì, cô nhiều lời phỉ báng. Cô nói:

- Hai người này, nghe nói mười hai năm ở nhà không ngủ chung giường, mà bây giờ mỗi ngày thấy họ thân mật chia sớt thức ăn, tôi đoán thế nào cũng có tình ý gì đây.

Tôn giả Đại Ca-diếp nghe nói, trong tâm vị thánh giả thì rỗng rang không dính mắc, nhưng vì muốn khích lệ Diệu Hiền nỗ lực tu tiến, nên từ đó không giúp cơm nữa.

Thế gian đầy thị phi ác độc. Một vị Thánh thanh tịnh như Đại Ca-diếp, mà còn có người khiêu khích đồn đãi, thiệt là ai nghe cũng bất bình.

Qua sự khích lệ ấy, Diệu Hiền nhận thấy mình phải tu hành nghiêm túc. Bà suốt đêm không ngủ, thành tâm sám hối, và sau cùng được khai ngộ. Sau khi khai ngộ bà nói:

- Đoạn trừ mọi ràng buộc, hoàn thành tịnh hạnh, việc đáng làm ta đã làm xong.

Về sau Phật khen ngợi bà:

- Trong chúng Tỳ-kheo ni, không ai có thể sánh với Tỳ-kheo ni Diệu Hiền về mặt Túc mệnh thông!

Tôn giả Đại Ca-diếp rất hoan hỷ, đối với ân tình của thế gian, Ngài chẳng lưu lại chút mảy may.

7- XÁ LỢI PHẤT PHỎNG VẤN

Từ đó Đại Ca-diếp được người tôn xưng là Thánh giả, thân danh hiển lộ trong Tăng đoàn.

Có lúc, Tôn giả cùng Xá-lợi-phất đồng tu tập tại núi Kỳ-xà-quật. Có nhiều chúng ngoại đạo đến phỏng vấn tôn giả Xá-lợi-phất, bao quanh Ngài đưa ra nhiều vấn đề gạn hỏi. Họ hỏi: Như Lai sau khi Niết-bàn có sanh tử hay không? Hoặc là sau đó có sanh tử? Hoặc là sau đó không có sanh tử? Hoặc là chẳng phải sanh tử? Cũng chẳng phải không sanh tử?

Ngoại đạo dùng lối tứ cú để hỏi về vấn đề sanh tử của đức Phật như thế, tôn giả Xá-lợi-phất trả lời họ, nhưng chỉ có vấn đề này không thể nói là Như Lai ở trong cú nào.

Chúng ngoại đạo không vừa ý với lối đáp của tôn giả, họ gièm chê:

- Người không trả lời được vấn đề này, sao dám tự xưng là bậc Thượng tọa? Nói là Trí tuệ số một mà giống như trẻ con.

Ngoại đạo đàm tiếu rồi bỏ đi, Xá-lợi-phất rời chỗ tu tập của mình, băng qua đám lá rậm của rừng cây, đến thạch động tham vấn tôn giả Đại Ca-diếp.

Xá-lợi-phất đem câu hỏi của ngoại đạo thuật lại cho Đại Ca-diếp nghe và hỏi:

- Tôn giả! Tại sao đức Phật chưa từng giải đáp về vấn đề ấy, đối với câu hỏi của ngoại đạo không thể nói ra sao.

Đại Ca-diếp liền trả lời:

- Đức Như Lai đã hết sạch ái chấp, tâm không còn phiền não, vĩnh viễn giải thoát, sự chứng ngộ của Ngài rộng lớn sâu xa, không thể dùng tứ cú của mê tình để hỏi, cũng không thể dùng ngôn từ để đáp. Chỉ vì vấn đề ấy không nên hỏi nên Ngài không giải đáp.

Xá-lợi-phất nghe câu trả lời, thật là thích thú, cáo từ và trở về động mình tu tập.

Trong hàng đại đệ tử, các vị thường chỉ dạy nhắc nhở nhau, cùng hỏi cùng nghiên cứu, vấn đáp qua lại để bàn soạn sự học, cho nên câu chuyện hỏi đáp của hai vị tôn giả chẳng có gì lạ, nhưng đối với vấn đề khúc mắc như Xá-lợi-phất nêu ra mà có thể tùy tiện giải đáp, mới thấy là sức tu đạo của Đại Ca-diếp cao xa đến mức nào!

8- ĐỘ BÀ LÃO NGHÈO SANH CÕI TRỜI

Một hôm, đức Phật và các đệ tử ở nước Xá-vệ, còn Đại Ca-diếp thì giáo hóa tại thành Vương Xá nước Ma-kiệt-đà. Tôn giả thường ra vào trong thành để bố thí phước điền. Khi tôn giả đi khất thực, thường tránh nhà giàu có mà chỉ chọn những nhà bần cùng. Trong tâm tôn giả nghĩ rằng: Nhà giàu tuy cũng cần nên lân mẫn với họ, nhưng so với người nghèo khổ mỗi ngày phải lo lắng sinh nhai lại đáng thương hơn.

Những người bần khổ không thể hưởng thọ niềm vui ngũ dục đầy đủ, tuy nghe được chánh pháp họ rất thích, nhưng không đủ duyên may để thâu được cái quả báo phước đức của sự bố thí. Cho nên tâm từ của Tôn giả như nước lành rưới khắp những hạng người nghèo cùng đáng thương.

Trong thành Vương Xá, có một lão bà rất nghèo khổ, đã không có bà con thân quyến lại không có nhà cửa gì cả. Sáng sớm, đi lang thang từ ngõ Đông sang ngõ Tây. Chiều tối, thì ngủ vất vưỡng ở bất cứ xó hẻm nào. Trên mình bà đeo những mảnh lá khô chằm víu vào nhau tạm che thân. Một hôm bà mang bệnh trầm trọng, nằm quỵ trên gò đất chờ chết. Lúc ấy gặp gia nhơn của một nhà giàu nọ đem nước cơm đi đổ, bà lão bị đói khát hoành hành vội vơ lấy mảnh ngói bể hứng lớp nước bầy nhầy để uống cho đỡ đói.

Đại Ca-diếp biết bà lão đáng thương bị bệnh nghèo đeo đẳng, Ngài đặc biệt đến thăm. Bà lão từ trước giờ chưa từng được ai hỏi han đến nên khi thấy dáng Tôn giả đứng trước mặt, bà gượng nhổm dậy nhìn kỹ. Té ra là một vị Tỳ-kheo trang nghiêm đang đi khất thực. Không lẽ thầy Tỳ-kheo này lại nghèo cùng hơn ta? Bà mới nói:

- Thân tôi nghèo khổ đói khát, cát đất, gò mả, bụi bờ là nhà, Ngài xem tôi áo mặc không kín thân. Trong cái đất nước này không ai nghèo khổ hơn tôi. Ý da! Chẳng lẽ trên thế gian không có người nhơn từ cúng dường Sa-môn sao? Vì sao Ngài đến hỏi tôi? Xin Ngài chỉ dạy tôi phương pháp cứu tôi khỏi nghèo đói.

Đại Ca-diếp đáp:

- Trên thế gian này, người tôn quý nhất nhân từ nhất không ai bằng đức Phật, hoặc là những ai đã được tắm mát trong giáo lý Phật-đà. Hôm nay, tôi muốn cứu độ bà thoát khỏi sự bần cùng, nên mới đặc biệt đến đây khất thực. Tôi cũng nghĩ đến việc đem tài vật đến giúp bà, nhưng điều đó chỉ giúp bà khỏi khổ nhất thời, mà sau lại tăng thêm bần cùng nữa. Chi bằng bà hãy tùy ý đem bất cứ thứ gì bên mình mà bố thí cho tôi, bà sẽ nhờ công đức đó đời sau được sanh trong nhà giàu có, hoặc được sanh lên trời, hưởng thọ sung sướng lâu dài.

Bà lão nghe Tôn giả từ bi thuyết pháp như vậy, rất cảm động, nhưng tìm hoài không có một chút gì để bố thí. Bà rất đỗi bi thương, buồn khóc thưa rằng:

- Thưa thầy Sa-môn vĩ đại! Lời chỉ dạy quý báu của Ngài con ghi khắc sâu xa trong tâm. Nhưng Ngài cũng biết, con là kẻ bần cùng hạ tiện, con chẳng có một chút vật thực nào để cúng dường Ngài, cũng chẳng có y phục để bố thí nữa.

- Này bà lão! Đã khởi tâm bố thí thì không phải người nghèo, người biết hổ thẹn cũng đã mặc pháp y. Bà đã có hai món bảo bối hiếm có ấy, nên chắc chắn không còn nghèo. Hãy xem những người giàu có đầy tiền của châu báu trên thế gian này, không biết bố thí, không biết hổ thẹn, đó mới thật là người ngu, người bần vậy.

Bà lão nghèo nghe lời chỉ dạy, vui mừng phấn khởi, tâm đầy hỷ lạc, đầy hy vọng về tương lai, bà quên thân mình ô uế bưng chút nước cơm đựng trong mẻ sành đem cúng dường Tôn giả. Tôn giả cũng cung cung kính kính tiếp nhận, và để cho bà khỏi nghi ngờ, Tôn giả liền uống cạn miếng nước cơm. Bà lão thấy thế vui mừng vô hạn.

Chẳng bao lâu, bà lão rời bỏ cõi đời, được sanh lên cõi trời Đao Lợi, do công đức cúng dường nước cơm, bà được trở thành một thiên nữ xinh đẹp. Một hôm, thiên nữ quan sát phước nghiệp đời trước, nhớ đến ân sâu của tôn giả Đại Ca-diếp, bèn bay xuống cõi trần dùng thiên hoa rải cúng dường Tôn giả.

9- QUAN SÁT TÌNH HÌNH TÍN CHÚNG

Một hôm, đức Thế Tôn bảo Đại Ca-diếp đến thành Khoáng Dã để quan sát tình hình giáo đoàn. Ở đấy, sáng sớm Tôn giả đắp y mang bát vào thành, oai nghiêm đi khất thực.

Đi qua một vài con đường, Tôn giả phát hiện một chuyện lạ. Dân chúng thấy Tôn giả đi ngang nhà đều đóng cửa. Tôn giả ra khỏi thành vào trong thôn khất thực cũng gặp một cách đối xử như vậy. Ngài khởi niệm nghi ngờ. Phật pháp ở đây rất hưng thạnh, vì sao dân chúng đối với các Tỳ-kheo không một chút tôn kính như vậy kìa?

Ngài bèn đến nhà một cư sĩ hiểu biết rộng, và hỏi thăm:

- Đức Phật rời khỏi đây không bao lâu, cũng còn các Tỳ-kheo ở lại giáo hóa, vì sao mọi người quên hẳn sự cung kính Tam bảo? Các Tỳ-kheo đi khất thực chẳng ai cúng dường?

Cư sĩ nọ đáp:

- Tôn giả! Từ khi đức Thế Tôn đi rồi, mấy năm trở lại đây các vị Tỳ-kheo trong thành này bày ra nhiều chuyện xây cất, mỗi người đều tự cất phòng ốc cho mình nói rằng đức Phật đã cho phép. Xưa nay, nếu là kiến tạo giảng đường hay tinh xá công cộng để dùng trong việc hoằng pháp hoặc tu học tập thể thì đó là việc bổn phận chúng con phải hộ trì. Nhưng mà bây giờ các Tỳ-kheo đều cất nhà để an nhàn thân mình, các thầy cất cốc, cất am lu bù, đến từng nhà thí chủ kêu gọi cúng dường cửa lớn, cửa nhỏ, cột kèo, ngói gạch, dây mây,… mọi thứ đều kêu gọi quyên tởi tín đồ. Lâu ngày, tín chúng đều cảm thấy việc cung ứng này không có ngày chấm dứt, do đó nhân dân trong thành, ngoài thôn hễ thấy các vị Tỳ-kheo liền lật đật đóng cửa. Ôi! Nói đến việc này, chúng con thật hổ thẹn với đức Phật!

Đại Ca-diếp nghe xong, trong tâm rất khó chịu. Tôn giả lập tức quay trở về thành Vương Xá, đem câu chuyện trên bạch với đức Phật. Đức Thế Tôn bèn đến thành Khoáng Dã triệu tập hết các thầy Tỳ-kheo, giáo giới các thầy không được bắt tín chúng cúng dường quá sự phát tâm của họ. Đức Thế Tôn dạy:

“Các Tỳ-kheo! Chánh pháp của ta lưu truyền lâu dài đều nhờ sức thanh tịnh và cao thượng của Tăng đoàn. Người đến mức vô cầu mới là thanh cao. Các ông không được yêu sách chúng sanh quá nhiều, trái lại các ông phải là người cống hiến cho chúng sanh, các ông đừng để tín chúng chê bai, xa lánh. Nhiệm vụ quan trọng của các ông là hoằng pháp độ sanh, không phải là chuyện lo lắng về chỗ ở, chỗ ăn. Nếu như các ông xây cất giảng đường để thuyết pháp cho tín chúng, hoặc thiết lập tinh xá để tu chung với nhau, không phải xây cất cho riêng mình, điều ấy ta cho phép.

Còn làm nhiều tịnh thất lẻ tẻ, thiểu số người trong đó hưởng thọ của cúng dường, đó là làm phân tán lực lượng Tăng đoàn. Am thất này tranh với am thất kia, ai cũng cho mình là ngon lành, lại càng dễ sanh tâm riêng tư.”

Lời dạy của Phật thật là tiếng chuông cảnh tỉnh trong giáo hội, tôi hy vọng các Tỳ-kheo khi đi hóa duyên các nhà cư sĩ, và các hàng cư sĩ tại gia của thời đại này nhận thức được điều ấy.

Đức Phật dạy các Tỳ-kheo xong, trở về thành Vương Xá. Tôn giả Đại Ca-diếp ở lại gây dựng tín tâm cho dân chúng.

Tôn giả không tính toán cho đời sống riêng mình, cho nơi cư trú của mình, chỉ bận lo mang niềm vui Phật pháp đến cho người, đợi cho tất cả đều tin tưởng hiểu biết chân lý của đức Phật xong, tôn giả liền rời thành Khoáng Dã đi nơi khác.

Lấy cái họa của giáo đoàn làm cái họa của mình, hoàn thành việc đáng làm rồi liền lui gót, không mong cầu cho mình mà chỉ làm việc vì Phật pháp, cái tư cách và chí nguyện cao cả của bậc thánh ấy thật đáng cho chúng ta khâm phục.

10- A-NAN TẶNG BÁT

Tôn giả Đại Ca-diếp chân thành vì pháp, rất được đức Thế Tôn tín nhiệm. Đức Phật đối với Tôn giả thường yêu mến ủng hộ luôn.

Trong giáo đoàn có nhóm Lục Quần Tỳ-kheo như Mãn Túc v.v… chuyên môn kết bè đảng làm việc ác. Do đó, đức Phật đã chế ra một số giới luật.

Có một thời kỳ, Phật đang ở Kỳ Viên tinh xá, Lục Quần Tỳ-kheo cũng ở đây cố tình tích chứa bình bát đủ loại. Bình bát thường thường có hai loại: bát bằng sắt thép và bát sành do địa phương sản xuất. Chất liệu, hình dáng mỗi thứ không giống nhau, cho nên phân biệt thì có: bát thiếc, bát của nước Tô-ma, bát của nước Ô-già, bát màu đen, bát nước Ưu-già, bát màu đỏ đủ loại v.v… Lục Quần Tỳ-kheo thường sưu tầm các thứ bình bát tốt đem về tàng trữ trong phòng, như là một cửa tiệm đồ gốm.

Mấy ông Tỳ-kheo này, từ sáng đến chiều chẳng lo tu hành gì cả, chỉ để hết tinh thần vào việc chứa bát, ngắm bát. Vì theo tinh thần của giáo đoàn, tuyệt đối cấm tích trữ vàng bạc, y phục, gạo thóc, tài sản… cho nên mấy thầy dồn hết hứng thú trong việc thâu chứa đồ cổ.

Và do đó, đức Phật lại cấm chỉ việc chứa bát dư, chế định giới luật nếu ai chứa bát dư phạm Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.

Trong lúc Phật sắp ban hành điều luật này, A-nan được cúng một cái bát nước Tô-ma rất quý, A-nan định đem tặng Đại Ca-diếp, nhưng tôn giả Đại Ca-diếp còn bận du hóa nước ngoài, không có mặt ở thành Xá-vệ. Nếu y theo giới luật không được chứa bát dư thì A-nan không thể để lại mà kịp tặng cho Đại Ca-diếp. A-nan chỉ còn cách đem ý ấy lên bạch Phật. Phật hỏi:

- Còn mấy ngày nữa Ca-diếp mới về lại Xá-vệ?

- Bạch Thế Tôn! Khoảng mười ngày trở lại tôn giả mới về đến.

Đức Phật bèn triệu tập đại chúng, giảng dạy pháp Đầu-đà chơn chánh, và khen ngợi Đại Ca-diếp vâng giữ hạnh Đầu-đà không sái phạm mảy may, dạy Lục Quần Tỳ-kheo nên noi theo hạnh của Tôn giả mà tu tập. Và sau cùng, vì sự tình A-nan đã trình bày, đức Thế Tôn đặc biệt sửa đổi giới điều này, cho phép được chứa bát dư trong mười hôm.

Theo dõi sự kiện này, chúng ta có thể biết địa vị của tôn giả Đại Ca-diếp đối với tâm tưởng của đức Phật, và trong giáo đoàn rất cao vậy.

11- ƯA TU KHỔ HẠNH

Đại Ca-diếp một bề ưa thích tu tập khổ hạnh Đầu-đà. Nói về sự tu tập của Tôn giả, từ trẻ cho đến tuổi già, không kể tình hình ra sao, hoặc là mọi người ân cần nói thế nào, Tôn giả không hề từ bỏ khổ hạnh.

Phàm người tu khổ hạnh Đầu-đà phải đủ mười hạnh:

                    1- Cầu chọn nơi vắng vẻ.
                    2- Chỉ sống bằng cách khất thực.
                    3- Thường ở môït chỗ.
                    4- Ngày ăn một bữa.
                    5- Khất thực không chọn lựa.
                    6- Chỉ có ba y, bình bát, toạ cụ.
                    7- Thường ngồi tư duy.
                    8- Thường tịnh tọa chỗ trống.
                    9- Mặc y phấn tảo.
                    10- Thường ở nơi gò mả.

Sinh hoạt của một vị Đầu-đà cần phải đơn giản và thanh tịnh như thế.

Đối với nhân vật như Đại Ca-diếp, không đi hóa độ chúng sanh mà ưa ở riêng một mình, sống quá ư khắc khổ, so sánh với các vị Tỳ-kheo tích cực tiến bộ thật không giống, tâm từ bi làm lợi lạc chúng sanh của Tôn giả đáng kính phục, nhưng nhiệt tình hoằng pháp thì còn thiếu.

Trừ đức Thế Tôn, việc biện luận với ngoại đạo và giáo hóa các Tỳ-kheo đó là việc của nhị vị tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, còn Đại Ca-diếp chỉ chuyên tâm tu đạo. Trong khi đức Thế Tôn và hai vị đại đệ tử còn tại thế, Đại Ca-diếp chỉ thỉnh thoảng thuyết pháp cho hàng tục gia cư sĩ mà thôi. Sau khi Phật diệt độ, thay thế Phật thống lãnh đại chúng, lực lượng ấy đã được hàm dưỡng từ thời độc tu khổ hạnh trước đây. Tôn giả như một cỗ đại hồng chung, thời lặng thinh thì lặng thinh trầm mặc, nhưng khi chạm duyên cũng phát tiếng lớn vang dội.

Ban đầu hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cũng thường khuyên Đại Ca-diếp nên quên mình để phát tâm Bồ-đề mà ra làm việc hoằng pháp lợi sanh, tuyên dương chân lý. Đại Ca-diếp cũng nhất quyết trả lời:

- Đối với việc hoằng dương chánh pháp, giáo hóa chúng sanh, tôi không thể làm được. Quên tự ngã không phải là chuyện dễ đâu. Dạy dỗ những bọn người không tín tâm, ác độc như thế, tôi thật chẳng có dũng khí và sức lực. Tôi tự lượng sức mình, chỉ kham sinh hoạt tự tu cho chính mình, bền bỉ trong việc khổ hạnh kham nhẫn, để ủng hộ kẻ hậu lai đối với hạnh đầu đà thiểu dục tri túc, biết tôn trọng và thực hành theo. Nhiệm vụ hoằng pháp lợi sanh lớn lao kia, hoàn toàn trông cậy vào các vị.

Hai tôn giả nghe Đại Ca-diếp nói thế không hề thất vọng, trái lại còn xưng tán:

- Trưởng giả đủ khả năng dựng lập pháp tràng về phương diện ấy, thật cũng rất khó khăn. Phật pháp rất nhiều mặt, mỗi người có thể làm theo lý tưởng của mình, theo chí nguyện của mình. Chúng tôi xin chúc hạ trưởng lão!

Đại Ca-diếp không thích sinh hoạt trong đoàn thể ở tinh xá rừng Trúc hay tinh xá Kỳ Viên, thậm chí Tôn giả không thích hòa vui trong cảnh ấy. Tôn giả chỉ ưa tịnh tọa nơi đồng trống, quán tử thi nơi gò mả, hay vá y dưới gốc cây. Tôn giả nhận thấy đống xương trắng hoặc mùi hôi người chết rất thích hợp trong việc tu quán vô thường, khổ, không, vô ngã.

Đại Ca-diếp không sợ mưa to gió lớn, không nệ ngày nắng đêm sương, thân già khô gầy của Tôn giả luôn luôn ở dưới gốc cây trong rừng, hoặc nơi phần mộ xương trắng đồng hoang, mặc cho ai khuyên can, chẳng hề đình chỉ khổ hạnh.

12- ĐỨC PHẬT CHIA NỬA TÒA

Tôn giả niên lạp càng ngày càng cao, đối với việc khổ hạnh đầu-đà càng lúc càng tinh cần.

Một hôm, đức Phật không thể nhìn thấy Tôn giả tuổi cao tác lớn mà cứ sống dầu dãi nắng mưa, ngày đêm phong sương như vậy, nên muốn khuyên Tôn giả bớt khổ hạnh.

Lúc ấy, bánh xe pháp dừng trụ tại giảng đường Lộc Mẫu, đức Thế Tôn cho gọi Đại Ca-diếp. Tôn giả mặc y bá nạp, râu tóc ra dài, chậm chạp đi đến. Các tân Tỳ-kheo ở đấy không biết Tôn giả, thấy hình dáng lôi thôi của Tôn giả đều tỏ ý khinh rẻ, có người còn định bước tới ngăn cản không cho đến gần Thế Tôn.
Phật biết ý đại chúng, liền từ xa gọi Tôn giả:

- Đại Ca-diếp! Ông đến đó ư! Ta còn chừa phân nửa tòa ở đây, ông hãy mau đến ngồi.

Các Tỳ-kheo trẻ tuổi nghe Phật nói, giật mình, không dè ông Tỳ-kheo già đó là tôn giả Đại Ca-diếp danh chấn tông môn. Tôn giả đảnh lễ Phật xong, lui lại vài bước và bạch:

- Bạch Thế Tôn! Con là đệ tử của Ngài, con thật chẳng dám ngồi tại tòa dành riêng cho Thế Tôn.

Lúc ấy, đức Phật nói cho đại chúng rõ oai lực vô biên của Đại Ca-diếp, lịch trình tu tập của Tôn giả tương đồng với Thế Tôn, đời nay nếu không gặp Phật, Tôn giả cũng có thể giác ngộ, chứng quả vị La-hán Độc giác.

Qua sự việc trên, có thể thấy đức Phật quý trọng Tôn giả đến thế nào, thậm chí đối đãi như khách, biểu lộ địa vị trọng yếu của Tôn giả trong giáo đoàn.

Đức Phật bảo Tôn giả không nên tiếp tục khổ hạnh, hãy bỏ bớt y thô nặng nề, mặc y nhẹ của tín thí cúng dường để tịnh dưỡng tuổi già, không nên mệt nhọc quá độ như thế.

Nhưng dù cho đến đức Phật ủy lạo đến đâu, Tôn giả cũng chẳng thay đổi cách tu. Tôn giả thưa với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Hạnh đầu đà đối với con chẳng phải là khổ nhục, trái lại rất an lạc. Con không bị lo lắng ưu phiền về thức ăn, y phục, không màng sự đắc thất trên nhơn gian, con chỉ cảm thấy một sự tự do thanh tịnh thôi.

Đương nhiên có người phê bình lối sống của con nặng về tự lợi, còn như các tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Phú-lâu-na, Ca-chiên-diên thì thay Phật làm nhiệm vụ tuyên dương chân lý, không sợ khó khăn, chẳng tiếc thân mạng, cổ động bánh xe pháp, ủng hộ chúng sanh thấm nhuần pháp vị, đồng được pháp lạc. Về phần con, tuy không đủ nhiệt tình vì người vì pháp, nhưng con không hề quên ân Thế Tôn. Cũng vì muốn báo ân Phật con mới tu học hạnh khổ đầu-đà. Vì chúng sanh cần cứu độ hoàn toàn nương vào sự hoằng pháp của Tăng đoàn. Các Tỳ-kheo bố giáo là bậc thân pháp sư của tín đồ, cũng phải kiện toàn tự thân các vị mới có thể đảm đương công tác cao quý ấy. Còn bổn phận của Tăng đoàn kiện toàn như thế nào? Đương nhiên chỉ có theo sinh hoạt nghiêm túc để bồi dưỡng đức hạnh cho chính mình. Môn khổ hạnh đầu-đà trong Phật pháp cũng là một phương pháp sinh hoạt nghiêm túc, tập quen được lối sống ấy mới có thể khắc khổ, nhẫn nại, kham nhẫn đạm bạc, nhất tâm nhất đức vì pháp vì chúng sanh! Bạch Thế Tôn! Con vì muốn trực tiếp củng cố Tăng đoàn, gián tiếp làm lợi ích chúng sanh, nên luôn luôn nguyện không xả bỏ khổ hạnh. Xin Thế Tôn lượng thứ cho tính cách chấp trước của đệ tử.

Phật nghe xong, rất hoan hỷ. Ngài nhìn Đại Ca-diếp, lại nhìn các Tỳ-kheo, và nói:

- Rất tốt! Tỳ-kheo các ông có nghe lời trưởng lão Đại Ca-diếp vừa nói không? Tương lai chánh pháp của ta bị hủy diệt, không phải do thiên ma ngoại đạo phá hoại, mà vì sự hủ bại tan nát của Tăng đoàn! Đại Ca-diếp nói rất đúng. Muốn hoằng dương Phật pháp, để ánh chân lý mãi mãi chiếu sáng thế gian, điều trước tiên là phải củng cố Tăng đoàn. Muốn củng cố Tăng đoàn phải sinh hoạt nghiêm túc. Người như Đại Ca-diếp mới có thể phụ trách chủ trì chánh pháp của ta!

Này Ca-diếp! Ông cứ tiến tu đạo nghiệp, ta không ép ông. Ông cứ tu theo ý nguyện của mình. Khi nào ông muốn gặp ta, cứ tùy thời mà đến.

Đức Phật và Đại Ca-diếp, tuy là hai mà tâm chỉ một, thầy trò thông cảm nhau. Đức Phật đãi Ca-diếp như khách, như bằng hữu, nhưng tôn giả không quên lễ nghĩa, dùng tư cách đồ đệ mà đáp lại, khiến cho mối tương giao sư đệ càng thêm thâm sâu nồng hậu.

Chúng ta nghe nói đến đức Phật hoặc các vị La-hán, đều tưởng tượng rằng các vị ấy lạnh lùng nghiêm nghị như cây khô, đá lạnh, đối với thế gian chẳng lưu chút tình cảm nào. Thật ra không phải thế. Các vị ấy đã biến đổi nhơn tình tạp nhiễm thành một thứ tình cảm tự nhiên cao thượng, gọi đó là từ bi. Hạt giống từ bi nẩy mầm từ cây Trí tuệ, như đá nam châm thu hút chúng sanh, khiến chúng sanh sớm chiều gần gũi tiếp cận được nhân cách cao thượng ấm áp ấy, liền sửa đổi tập khí của mình.

Trong chốn rừng rậm um tùm của miền nhiệt đới, cây Sa-la trổ hoa bát ngát. Những ngày hạ nhiệt đông hàn, những đêm trăng sáng trải ánh vàng trên vòm lá xanh, trong chốn cư trú thanh tịnh, vắng vẻ ấy, Đại Ca-diếp đã tu tập hằng năm, hằng năm qua đều đặn, dầu cho mười năm cũng như một ngày, cái phong tư cao cả của bậc Thánh đệ tử như còn phảng phất đâu đây.

13- NỐI TIẾP Y BÁT CỦA ĐỨC PHẬT

Ngày tháng thoi đưa, nhanh như điện chớp, ứng thân hóa độ thế gian của đức Thế Tôn đã mãn duyên, vào năm tám mươi tuổi, Ngài báo tin sẽ nhập Niết-bàn.

Cùõng năm ấy, trước tiên là Mục-kiền-liên tuẫn nạn, sau đến Xá-lợi-phất hồi hương nhập diệt, hiện tại đức Thế Tôn lại sắp nhập Niết-bàn, trong Tăng đoàn đâu đâu cũng thấy vẻ sầu thảm. Vì sự lưu truyền của chánh pháp và lãnh đạo Tăng đoàn, đức Thế Tôn đã sớm chú ý chọn người tiếp nối. Hiện nay trong Tăng đoàn, tôn giả Đại Ca-diếp già nua, và A-nan tuổi trẻ được coi như là những nhân vật có thể kế thừa Thế Tôn. Nhất là tôn giả Đại Ca-diếp. Ở trên hội Linh Sơn đức Thế Tôn đã ngầm trao “Chánh pháp nhãn tạng. Niêm hoa vi tiếu” là điển tích tối sơ của Thiền tông.

Khi đức Phật nhập diệt ở thành Câu-thi-na, tôn giả Đại Ca-diếp còn đang hướng dẫn năm trăm Tỳ-kheo du hóa ở nước Đặc-xoa-na-xà phương Bắc. Sau khi nghe tin, tôn giả rất cảm thương, dắt các Tỳ-kheo đi ngày đi đêm về thành Câu-thi-na. Có người nước mắt đầm đìa, có người nằm lăn ra đất khóc than.

Trong chúng Tỳ-kheo có ông Bạt-nan-đà thuộc nhóm Lục Quần Tỳ-kheo, lại rất vui vẻ nói rằng:

- Mấy thầy cần gì phải thương cảm như vậy? Phật-đà Niết-bàn rồi chúng ta mới được tự do. Lão nhân gia ấy còn sống đã bó buộc chúng ta, quản lý chúng ta, Ngài thường rằn ri chúng ta điều này không tốt, điều kia không được làm, cứ lải nhải đến bực mình. Bây giờ, Ngài Niết-bàn rồi, chúng ta càng nhẹ nhỏm, thong thả chứ sao!

Không đợi Đại Ca-diếp quở trách, một thầy Tỳ-kheo bước đến định đánh Bạt-nan-đà. Đại Ca-diếp vội ngăn lại và răn:

- Đức Thế Tôn Niết-bàn, mọi người mất nơi nương tựa nên đều buồn thương, tại sao ông ngu si cho điều đó là việc vui mừng?

Kỳ thiệt Tôn giả phải đập cho ông ta một trận mới được. Tuy là một bậc thánh, nhưng giây phút ấy Tôn giả cũng một phen vọng tưởng, có lúc tợ như con thơ nhớ từ phụ, tưởng đến dung mạo và ngôn từ dạy bảo tha thiết, có khi nhớ đức Phật như nghiêm sư với đệ tử, oai đức khiến người kinh sợ chẳng dám gần, có lúc lại nghĩ đến việc kết tập Pháp bảo, phải nên mời những vị nào tham gia, người nào thuyết kinh, người nào đọc luật, Tôn giả đều suy nghĩ tới nơi. Tôn giả đem tấm lòng của một trưởng lão mà lo lắng cho tiền đồ Phật pháp.

Tóm lại, tâm tư của Tôn giả rất thâm trầm. Lúc ấy kim quan của đức Phật an trí tại chùa Thiên Phủ. Hàng đệ tử vây quanh buồn bã khóc than, và chuẩn bị tưới dầu thơm, sắp củi lửa để làm lễ trà tỳ, nhưng đốt hoài không cháy. Bảy ngày sau, Đại Ca-diếp về đến, từ trong kim quan đức Phật ló hai chân ra, tôn giả trông thấy không cầm được nước mắt, chắp tay đảnh lễ thưa rằng:

- Đức Thế Tôn từ bi! Bậc cứu thế vĩ đại. Xin an tâm, chúng con sẽ đi theo bước chân của Ngài!

Đại Ca-diếp nói xong, đức Phật thâu hai chân vào. Và lúc ấy, giữa những tiếng khóc than kinh động của chúng đệ tử, đức Phật dùng “Tam muội chân hỏa” tự trà tỳ kim thân.

Từ đây trách nhiệm lưu truyền đại pháp, đã do tôn giả Đại Ca-diếp đảm đương.

14- KẾT TẬP TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN

Phật diệt độ khoảng chín mươi ngày sau, các Tỳ-kheo mở hội nghị kết tập pháp điển.

Ban đầu, Đại Ca-diếp cũng một phen khổ tâm khi chọn vị trí kết tập. Tinh xá Trúc Lâm thì quá rộng, ở đấy lại không có nhiều các Tỳ-kheo ly dục chứng quả cư trú. Sau cùng Tôn giả chọn một thạch động trong vùng núi phía Đông Nam của thành Vương Xá, tên gọi là động Tất-ba-la-diên.

Trong rừng núi tịch tịnh, hang động rộng rãi, chính là một cảnh thoát trần trong những cảnh ngoài vòng trần ai. Năm trăm vị A-la-hán đều suy cử tôn giả Đại Ca-diếp, A-nan-đà, A-na-luật, Ưu-ba-ly, Phú-lâu-na làm bậc thượng thủ. Song tôn giả Đại Ca-diếp với tư cách chủ tọa đã cử tội A-nan trước đại chúng, quở trách A-nan chưa chứng Thánh quả, mỗi tội bỏ xuống một thẻ, sáu tội sáu thẻ, oai nghiêm như đức Phật, A-nan dù kiêu khí ngất trời nhưng trước mặt Tôn giả cũng chẳng dám phản kháng, chỉ một bề nhận lỗi.

Đại Ca-diếp rất vĩ đại, sau khi Phật diệt độ, trong những hàng thánh đệ tử đông như thế mà đủ sức thống lý đại chúng, không để cho giáo đoàn bị chia năm xẻ bảy. Do đó đủ biết thanh danh và oai quyền của Tôn giả thật vững chắc như bàn thạch.

Khi Phật còn tại thế, hai vị đại đệ tử anh tài như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên đã hoạt động trong và ngoài giáo đoàn, là hàng đệ tử thân tín của đức Phật. Còn Đại Ca-diếp thì trầm mặc tu đạo, những hoạt động của Tôn giả đều có giới hạn. Nhưng đến khi đức Phật và hai vị đại đệ tử nhập diệt rồi, mới gọi rằng nước cạn bày đá, đảm nhiệm việc lãnh đạo giáo đoàn. Do đó mới thấy ra sức tu dưỡng cao sâu của Tôn giả, và độ lượng rộng lớn của Ngài.

Tác phong của Tôn giả là bảo thủ. Tôn giả không giống tinh thần tiến bộ và tích cực của Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên. Phật giáo ngày nay có khuynh hướng thối ẩn, cư trú rừng núi bảo thủ chú trọng khổ hạnh, đã chịu ảnh hưởng của tôn giả Đại Ca-diếp rất nhiều, điều này là sự thực không thể phủ nhận.

Tôn giả Đại Ca-diếp không có thần thông quảng đại, nhưng đối với bất cứ điều khó khăn nào đều có thể kiên nhẫn, an nhiên mà vượt qua. Đem ánh sáng chân lý của đức Phật cao vọi như Thái Sơn chiếu khắp đại địa, lưu truyền đến đời vị lai vô cùng, đầy đủ tư cách ấy thì trong Tăng đoàn đương thời không có ai sánh bằng Tôn giả.

Ngày kết tập thứ hai trở đi, A-nan tụng kinh, Ưu-ba-ly tụng luật, Phú-lâu-na luận nghị. Đó là sự nghiệp thiêng liêng lớn lao của cuộc kết tập tam tạng lần thứ nhất, đã thuận hòa hoàn thành như thế.

Chúng ta được thừa hưởng cam lồ pháp thủy của đức Phật, chúng ta có kho tàng Thánh điển mênh mông như đại hải kia, chúng ta phải cảm tạ tôn giả Đại Ca-diếp!

15- LONG HOA TAM HỘI NGUYỆN TƯƠNG PHÙNG

Hai mươi, ba mươi năm sau lần kết tập ấy, Đại Ca-diếp bỗng nhiên khởi ý nghĩ yếm thế. Ngài nghĩ “Đức Thế Tôn là bậc đại sư của ta, ân sâu như đại hải, đối xử với ta tình như cha mẹ yêu con, ta đã vì đời sau mà lưu truyền đại pháp, có thể tính là báo đáp được ân Phật một phần trong muôn phần. Hiện nay, ta đã già yếu, thân thể lão hủ này còn luyến tiếc gì, tốt hơn ta nên nhập Niết-bàn”.

Lúc ấy Ngài đã hơn một trăm tuổi.

Ngài liền đến nơi A-nan đang du hóa, phó chúc pháp tạng, yêu cầu A-nan tiếp nối sứ mạng, và sau đó bay lên hư không đến tại các nơi có tháp thờ Xá-lợi của Phật, hết thảy tám chỗ, cúng dường lễ bái.

Tôn giả trở về thành Vương Xá, định đến cáo từ vua A-xà-thế, nhưng quân hầu bảo vua còn đang ngủ. Tôn giả bèn rời thành, đến núi Kê Túc phía Tây Nam, cách đó tám dặm. Ngọn núi này có ba đỉnh cao chót vót, hình dáng như chân con gà. Phân nửa núi trở lên là rừng cây rậm rạp, phân nửa núi trở xuống là thảm cỏ trải dài.

Khi Tôn giả đến dưới chân núi, thì ba đỉnh núi từ từ tách ra thành một nơi tọa thiền bên trong rất đẹp. Tôn giả liền lấy cỏ trải tòa mà ngồi và tự nói: “Hôm nay ta sẽ dùng sức thần giữ gìn nhục thân này, dùng y phấn tảo che phủ trên mình, để đến sáu mươi bảy ức năm sau, Bồ-tát Di-lặc giáng sanh thành Phật, ta sẽ đến bái kiến Ngài, giúp Ngài giáo hóa chúng sanh.” Nói xong, ba ngọn núi khép lại như cũ, giấu kín tung tích Tôn giả.

Vua A-xà-thế nghe tin Tôn giả nhập diệt, rất đỗi bi thương! Lập tức đến gặp tôn giả A-nan, yêu cầu cùng vua đi đến núi Kê Túc. Khi hai người vừa đến nơi, ba ngọn núi lại tách ra, cả hai cùng thấy Tôn giả Đại Ca-diếp đoan tọa nhập định trong đó, trên thân phủ đầy hoa Mạn-đà-la. Nhà vua cùng A-nan cúng dường lễ bái rồi lui ra. Núi tự nhiên khép lại. Ngoái lại nhìn rừng núi tịch tịnh, để sáu mươi bảy ức năm sau, tôn giả Đại Ca-diếp đã trường kỳ giữ gìn y bát của đức Phật, ở tại núi này đợi đức Di-lặc Tôn Phật đến thăm, lại trao y bát ấy cho Ngài. Phong độ lưu truyền giáo hóa ấy, cả hai đều khâm phục vạn phần.

Câu chuyện diễm lệ, huyền ảo này có ghi chép nhiều trong kinh điển. Từ đó, chúng ta có thể nhận ra tư cách vĩ đại của tôn giả, qua ngàn vạn kiếp không lu mờ!

Có người nói: Tinh thần của các bậc vĩ nhân đã hòa cùng tạo hóa, thâm nhập vào chỗ trí áo của trời đất, mà sinh mạng trường tồn với thời gian vô tận. Từ cố sự của tôn giả Đại Ca-diếp, chúng ta có thể thấy sinh mệnh của tôn giả đã vô cùng vô tận, và như thế, giáo pháp của đức Phật nói ra cũng lưu truyền vô cùng vô tận vậy.

Một đời của tôn giả Đại Ca-diếp thật huy hoàng lộng lẫy. Từ lúc sanh ra dưới gốc cây, đến đúc tượng vàng chọn vợ, mười hai năm danh nghĩa phu thê, cho đến khi quy y với Phật bên tháp Đa Tử, xuất thân là con nhà giàu mà kham nhẫn tu tập khổ hạnh, niêm hoa vi tiếu trên hội Linh Sơn, nối tiếp chánh pháp của Phật, nhiếp giữ đại pháp cho đến hơn trăm tuổi, không hề buông lơi một bước, phản đối A-nan tham dự kết tập mà đến khi A-nan khai ngộ chứng quả lại nguyện đem Phật pháp giao phó cho A-nan kế thừa. Đó thật là cuộc đời của một nhân vật vĩ đại, đáng cho chúng ta hộ niệm, học tập.

Tôi viết đến đây, đức tướng và phong tư của Tôn giả dường như hiển hiện trước mắt. Tôi ước nguyện được vinh hạnh tương phùng với Tôn giả trên hội Long Hoa, tôi sẽ hướng về Tôn giả kỉnh lễ.

ANA Luật



A NA LUẬT

THIÊN NHÃN ĐỆ NHẤT

1- TUỔI ĐỒNG NIÊN VÔ ƯU

Trong kinh A-Di-Đà phần giới thiệu chúng hội vân tập, có nêu lên mười sáu vị đại A-la-hán, trong đó A-na-luật-đà là một, và đó cũng chính là tôn giả A-na-luật.

A-na-luật sanh trong dòng dõi vua chúa, vốn là đường đệ của Phật. Sau ngày Tịnh Phạn vương băng hà, đại tướng Ma-ha-nam lên nối ngôi, là anh ruột của A-na-luật.

Tuổi thơ của A-na-luật, vốn là một đứa trẻ thiên tư hoạt bát, rất thông minh mẫn tiệp, đối với âm nhạc, kỹ thuật dường như có tài đặc biệt. Năm bảy, tám tuổi thường ca hát trước đông người, làm những điệu bộ khôi hài khiến ai nấy đều bật cười. Đó là một chú bé được mọi người yêu mến.

Vào độ tuổi ấy, A-na-luật chỉ ăn no rồi đùa giỡn, chơi chán lại đòi ăn. Xuân cũng như hạ, ngày tháng trôi qua trong chốn vương cung vô tư lự.

Năm lên bảy tuổi, cậu bé A-na-luật thường chơi đánh bạc ăn bánh, hễ đánh thua thì phải chung vài cái bánh. Mỗi ngày A-na-luật thua chừng năm, sáu lần, mỗi lần thua chạy kiếm mẫu thân đòi bánh, mẫu thân cũng chìu theo luôn.

Một hôm, A-na-luật đã thua ba lần, ba lần bị mất bánh cho người, đến lần thứ tư cũng theo má má đòi bánh nữa, má má bảo:

- Đã hết bánh rồi! Không còn nữa!

Nhưng A-na-luật chưa từng biết ý nghĩa của câu “Đã hết” hoặc “Không có” là gì, cứ theo má má nheo nhéo đòi cho được cái “bánh không có”. Má má muốn trêu cậu, cầm một cái hộp không đưa cho, để ngỏ ý cho biết hôm nay nhà không còn cái bánh nào.

Nhưng lạ thay, do phước phần của cậu bé, khi má má đem hộp không đến, thì trong hộp lại tự nhiên đầy bánh. A-na-luật vui mừng, vì được một hộp đầy nhóc cái “bánh không có”.

Từ đó về sau, mẫu thân không dám xem cậu như mọi chú bé tầm thường. Qua câu chuyện hộp bánh không mà thành hộp bánh đầy, nhất định lai lịch của A-na-luật rất phi phàm, về sau sẽ được phước báo rất lớn.

Tuy A-na-luật thông minh nhưng vì được sinh dưỡng trong sự nuông chìu, trưởng thành trong cung điện nên cho đến khi mười lăm tuổi, không hề biết đến cuộc sống ở ngoài bốn bức tường hoàng gia.

Có lần, A-na-luật cùng Bạt-đề, Kiếp-tân-na dạo chơi, cả ba bàn tán về vấn đề “Hột gạo từ đâu mà có?”. Kiếp-tân-na nói trước:

- Gạo lấy từ trong nước vo gạo. Tôi thấy lần nọ cung nữ vo gạo vớt lên.

Bạt-đề khoát tay:

- Kiếp-tân-na nói không đúng rồi.

Cậu lại bảo:

- Gạo lấy từ trong nồi cơm, tôi thấy cung nữ bới cơm trong nồi mà.

A-na-luật nghe hai bạn nói không đồng ý. Cậu làm ra vẻ biết chuyện hơn, quả quyết:

- Gạo là do bát vàng sanh ra. Mỗi lần ăn hết cơm, tôi lại thấy cung nữ xới từ bát vàng đem đến.

Qua câu nói của ba vị vương tử, chúng ta có thể thấy nhận thức về xã hội của mấy ông hoàng con thật ấu trĩ.

Các tiểu vương tử này đối với xã hội bên ngoài mờ mịt chẳng biết gì, nhưng cơm áo vật chất hưởng thọ tột đỉnh hào hoa của nhân gian, cơm dâng đến miệng, nước mời tận tay, họ đã trải qua một đời tuổi trẻ vô ưu.

Các hoàng tử đã mười mấy tuổi đầu, vì sao đối với những chuyện thông thường mà hiểu biết lại cạn cợt như thế? Nguyên nhân là từ khi Thái tử dạo chơi bốn cửa thành, cảm thấy sự kinh sợ của sanh, lão, bệnh, tử đã phát nguyện xuất gia học đạo. Từ đó, trong hoàng cung đã quy định không cho phép các vương tôn vương tử ấu niên ra khỏi cung vi. Sống ở trong tháp ngà thì dù là người thông minh Trí tuệ cũng chẳng hiểu hết được chuyện thế gian.

2- NHIỆT TÂM XUẤT GIA

Đến tuổi trưởng thành, A-na-luật đã là một thanh niên tướng mạo đường đường, không còn là cậu bé ngây thơ nữa. Chàng dần dần hiểu được cuộc đời, nhận mặt kiếp nhân sanh, nhằm lúc ấy đức Phật thành đạo, trở về thành Ca-tỳ-la thuyết pháp giáo hóa. Sức cảm hóa của Thế Tôn rất mạnh, chẳng bao lâu trong hoàng tộc nhiều người quy y Phật, xuống tóc xuất gia. Trước tiên là Nan-đà, người sẽ là vua trong tương lai, theo Phật làm Sa-môn. Kế đến là La-hầu-la làm Sa-di. Điều ấy khiến các vương tử thanh niên chấn động. A-na-luật cũng nằm trong tình hình ấy, lập chí xuất gia theo Phật.

A-na-luật đến tìm anh Ma-ha-nam và nói:

- Ca ca! Đức Phật trở về hoàng cung khiến cho mấy ngày gần đây, dòng họ Thích chúng ta nhiều người cũng xuất gia làm Sa-môn, đem cam lồ pháp vũ của Phật truyền đi khắp tứ phương, đó là một cuộc sống đầy ý nghĩa. Nan-đà đã bỏ cô vợ đẹp Tôn-đà-lị, gia nhập Tăng đoàn. La-hầu-la nhỏ tuổi như vậy cũng xuất gia học đạo. Hai anh em ta nếu không có một người xuất gia thật khó coi. Ca ca à! Ý anh thế nào?

Đại tướng Ma-ha-nam anh dũng đã lập nhiều chiến công với quốc gia, nghe em nói, bèn trả lời:

- Tiểu đệ! Lời nói của em giống ý của anh. Hai anh em mình nhất định phải có một người xuất gia mới đáng mặt. Anh định bàn với em, từ nay em hãy lo hiếu dưỡng cha mẹ, để anh theo Phật làm Sa-môn!

A-na-luật lắc đầu không chịu:

- Ca ca! Anh không thể xuất gia được, nước nhà rất cần đến anh. Tuy em cũng biết võ công nhưng sánh với anh thật là thua xa. Xin anh hãy để em xuất gia, tính em thích hợp với lối sống tịch tịnh của Tăng đoàn. Em không ưa chỗ ồn náo, mà cũng rất nhàm chán ngũ dục của hoàng cung.

Ma-ha-nam đành phải nhượng bộ trước lập luận của em. Nhưng Phật-đà quy định, muốn xuất gia phải có sự ưng thuận của cha mẹ, A-na-luật chỉ còn cách năn nỉ cầu khẩn xin với vương phụ vương mẫu, bằng lòng cho mình được gia nhập Tăng đoàn làm Tỳ-kheo.

Lòng cha mẹ thương con tha thiết, làm sao đồng ý trước yêu cầu đó. A-na-luật nói cách mấy cũng không được. Đôi ba phen năn nỉ, đôi ba phen bị từ chối.

Sau cùng vì chí nguyện xuất gia kiên cố, A-na-luật tính bề tuyệt thực cho đến chết. Song thân chàng không còn cách nào khác hơn, bèn phủ dụ:

- Nếu như con muốn xuất gia, con hãy thương lượng với vương tử Bạt-đề, nếu Bạt-đề xuất gia thì chúng ta cho con đi xuất gia với chàng. Nếu Bạt-đềø không chịu thì con đừng đòi hỏi trông mong nữa.

Thuyết phục Bạt-đề xuất gia không phải là chuyện dễ. Ai cũng biết sau đức Phật, La-hầu-la xuất gia, vua Tịnh Phạn lập Bạt-đề làm Thái tử. Chàng sẽ thừa kế vua Tịnh Phạn làm quốc chủ Ca-tỳ-la-vệ, xuất gia sao được? Nhưng A-na-luật nghe vương phụ nói xong, chẳng hề thối chí. Chàng cao hứng đi tìm Bạt-đề, đem ý định xuất gia theo Phật ra nói và rủ Bạt-đềø cùng xuất gia với mình. A-na-luật chăm chú đợi Bạt-đề trả lời.

Đối với việc từ bỏ dục lạc, vinh hoa phú quý của cuộc đời để làm thầy Sa-môn học đạo, vương tử Bạt-đề cảm thấy rất khó. Nhưng đối với chỗ thân tình như A-na-luật, nếu chối từ thẳng thì chẳng tiện chút nào. Vương tử suy nghĩ giây lâu, miễn cưỡng nói:

- A-na-luật! Xuất gia làm Tỳ-kheo chẳng còn được lưu luyến dục lạc thế gian, tôi và em đều còn trẻ làm sao đủ sức chịu nổi? Em hãy đợi vài năm, chúng ta vui hưởng hết những thú vui vương giả, bảy năm sau tôi sẽ đi xuất gia với em.

Rõ ràng là Bạt-đề khéo léo từ chối, nhưng A-na-luật đôi ba phen nói rõ niềm vui của cuộc đời xuất gia, nên từ bảy năm Bạt-đề hẹn lại một năm, từ một năm còn lại một tháng, từ một tháng giảm còn bảy ngày. A-na-luật thấy Bạt-đề hẹn sau bảy ngày sẽ cùng đi xuất gia, mới hoan hoan hỷ hỷ cáo biệt về nhà.

Bảy ngày sau, hai vị vương tử này cùng với A-nan, Đề-bà, Kiếp-tân-na, Bà-sa, Nan-đề cả thảy bảy người đồng lén bỏ nhà ra đi, dẫn theo chàng thợ cạo Ưu-ba-ly. Họ tìm những con đường Phật thường đến du hóa. Khi đến mé rừng thôn Di-na, các vương tử cởi bỏ y phục, bảo Ưu-ba-ly cạo hết râu tóc cho bảy người, và khoác ca-sa, đến ra mắt Phật.

Đức Phật chưa cho gia nhập Tăng đoàn ngay, bảo họ đến ở trong một tịnh thất, tịnh tọa một tuần lễ để quên hết thân thế cao sang của mình, rồi sau mới chánh thức cho xuất gia, ra mắt đại chúng.

3- CỰ TUYỆT THIẾU NỮ CẦU HÔN

Sau khi xuất gia, A-na-luật nghe giảng kinh điển, tập quen lối sống đạm bạc, đối với lời dạy của đức Phật rất hoan hỷ phụng hành.

Tuy chưa chứng quả nhưng được động viên bởi niềm vui Phật pháp, và muốn báo ân đức Phật đã cho phép xuất gia, A-na-luật dự định đi hành khước một phen, làm một chuyến giáo hóa phương xa. Đức Thế Tôn rất hoan hỷ và khuyến khích Tôn giả. Theo ý Ngài, hàng đệ tử cần phải có nhiệt tâm hoằng pháp lợi sanh, trong khi làm việc độ sanh mới có thể nuôi lớn tín tâm, tín tâm mạnh mới có thể khai ngộ chứng quả.

Thầy Tỳ-kheo trẻ tuổi A-na-luật, nghi biểu trang nghiêm, phong tư mỹ mạo, màu da sáng rỡ, mũi như mỏ chim anh vũ. Cũng vì tướng hảo đoan chánh ấy nên trên đường hoằng pháp đã một phen bị thiếu nữ đeo đuổi.

Hôm ấy, A-na-luật từ tinh xá Kỳ Viên đi đến nước Kiều-tát-la, trên suốt đường trường không có trú xứ cho Tỳ-kheo, thầy không còn cách nào khác hơn là xin ngủ nhờ nhà dân chúng. Trong chốn đồng quê vắng vẻ, làng xóm thưa thớt, A-na-luật ghé lại một ngôi nhà có vẻ rộng rãi, định xin tá túc qua đêm. Thật chẳng ngờ hôm ấy trong nhà đi vắng hết, chỉ có một cô gái trẻ tuổi ở nhà.

Thầy hết sức do dự. Một vị Tỳ-kheo nghỉ đêm tại một ngôi nhà chỉ có một thiếu nữ, chẳng biết nên hay không nên, vì lúc ấy đức Phật chế giới không đề cập đến điểm ấy. A-na-luật nhìn ngoài trời thấy một sắc tối đen, mặt trời bị mây đen phủ kín như sắp mưa to, A-na-luật không biết làm sao nên phải ở lại nhà ấy. Thầy vào nhà độ một lúc, lại có một ông già lỡ đường ghé vào xin tá túc, nhưng cô gái chủ nhà từ chối quyết liệt. Thấy cô đối xử với ông già không chút gì lễ độ, cũng không có tình người, A-na-luật đã thầm ngạc nhiên.

Thiếu nữ đối với A-na-luật rất ân cần, mời trà mời nước, hỏi gần hỏi xa. A-na-luật chỉ một bề ngồi tịnh tọa, nhất tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, mong cho trời mau sáng để đi khỏi nơi đây.

Đến nửa đêm, ánh đèn dần dần mờ ảo mông lung. Thiếu nữ đến bên giường A-na-luật thốt lời tình tứ:

- Em biết thầy là một Sa-môn, đối với Sa-môn mà có ý nghĩ này nọ thì không phải, nhưng từ khi em gặp thầy thật khó ngăn được cảm tình. Xin thầy hãy tin em, em không phải là hạng con gái trắc nết trăng hoa, rất nhiều chàng công tử đến cầu hôn mà em chẳng nhận lời ai. Em thấy thầy dung mạo thanh tân, hành vi đoan trang, em không sợ xấu hổ phận gái mà xin nguyện tự đính ước với thầy. Từ nay mời thầy cứ ở lại nhà em, ba má em nhất định rất vui mừng đấy ạ.

A-na-luật vốn dòng dõi vương tôn anh tuấn, đối với chuyện ái tình của các cô thiếu nữ thầy cũng có chút ít kinh nghiệm. Vốn từ thời còn ở hoàng gia, cũng có nhiều công nương bao vây xin cầu hôn, tuy nhiên A-na-luật nhận thấy ái tình chẳng vui sướng gì, chàng không bị dục nhiễm mê hoặc. Chỉ có tu đạo mới thật là niềm vui an ổn nhất.

Khi lửa ái tình của thiếu nữ bộc phát, khó mà dập tắt ngay. A-na-luật chỉ còn cách nhắm nghiền mắt không ngó ngàng đến cô gái để cô ta mắc cỡ mà lui ra. Nhưng cô nàng lại có ý bất chánh, tiến tới nắm tay thầy. Thầy vẫn ngồi yên như một quả núi đá không nhúc nhích, cô nọ lại dạn dĩ ôm choàng lấy thầy. Lúc đó A-na-luật mới trừng mắt nhìn cô trách rằng:

- Này cô nương! Cô không mắc cỡ sao? Nam nữ còn không thể cẩu thả như vậy, huống chi tôi là người xuất gia, cô lại đối với tôi chẳng có chút lễ độ. Tình ái của nam nữ trên thế gian là nguồn gốc của bể khổ sanh tử, gây ra đủ thứ phiền não, thị phi rối rắm. Cô hãy dập tắt lửa tình của cô, hãy nhìn kỹ lại lòng mình.

Lời nói nghiêm nghị của A-na-luật khiến thiếu nữ hổ thẹn cúi đầu. Sau đó, cô sanh tâm hối hận, xin A-na-luật tiếp dẫn cho mình quy y Phật, làm Ưu-bà-di.

Tình nam nữ là tập quán của loài người, nhưng người tu phải vượt khỏi tình người mới tiếp thọ được tính Phật. Từ đó về sau, A-na-luật không dám ngủ lại ban đêm ở nhà dân gian.

4- LOÀI SÒ ỐC HAM NGỦ

Đạo tâm của A-na-luật rất kiên cố, tuy gặp sắc đẹp mà không xao động, tâm địa của thầy quang minh ai cũng biết. Nhưng, có một phen vì thùy miên, thầy bị đức Phật quở trách nặng nề.

Trong buổi giảng kinh của Thế Tôn, A-na-luật bị con ma hôn trầm bì quyện ám ảnh nên không cưỡng được, thầy ngủ gục tại tòa. Đức Phật ở xa nhìn đến, thấy vậy bèn nói:

                        Dốt thay kẻ mê ngủ,
                        Thu mình trong vỏ sò,
                        Một giấc ngủ ngàn năm,
                        Không nghe danh hiệu Phật.

Người kế bên bèn xô nhẹ A-na-luật, thầy hoảng kinh thức dậy. Đức Thế Tôn hỏi thầy:

- A-na-luật! Ông đi xuất gia vì sợ phép nước, hay vì sợ đạo tặc?

A-na-luật vội đứng lên cung kính thưa:

- Thưa không phải!

- Vậy thì vì lý do gì mà ông xuất gia?

- Thưa Thế Tôn! Vì con nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, muốn giải thoát ưu bi, khổ não.

- Mọi người đều khen ông không vì nữ sắc mà phạm giới, chắc ông tự mãn điều ấy lắm, ông xem, trong khi ta thuyết pháp mà ông ngủ ngon như vậy.

A-na-luật nghe Phật quở, liền quỳ xuống, chắp tay thưa:

- Bạch Thế Tôn! Xin từ bi lượng thứ cho sự ngu si giải đãi của con, từ nay về sau, cho đến lúc chết con không ngủ trở lại nữa!

Đối với đệ tử đã biết nhận tội sám hối, đức Phật rất hoan hỷ. Và từ khi A-na-luật phát thệ nguyện, đức Phật lại cổ động an ủi thầy, khuyên thầy nên gắng dụng công, việc tu hành cố nhiên không thể quá buông lơi, nhưng cũng không thể quá gấp rút. Từ đó về sau, A-na-luật dụng công miên mật từ sáng đến tối, từ đêm đến ngày không ngừng nghỉ.

Tu hành như thế, không ngủ một lúc, hoặc một ngày hai ngày thì chẳng sao. Nhưng lâu ngày chầy tháng, sức người tuy có thể miễn cưỡng duy trì, nhưng thân tứ đại sẽ mang bịnh không kham. Quả thật ít lâu sau, vì không ngủ nghê gì cả A-na-luật bị sưng húp hai mắt, nhức nhối khó chịu.

Đức Phật biết thầy tinh cần dụng công đến sưng mắt, Ngài rất lo lắng. Một hôm đức Phật cho gọi A-na-luật và từ hòa bảo thầy:

- A-na-luật! Ta đã nói với ông, tu hành mà bất cập thì không xong, mà thái quá cũng không được.

- Con đã từng phát nguyện trước đức Thế Tôn, con không thể làm trái lời nguyện.

- Ông đừng quan tâm đến vấn đề phát nguyện, con mắt mới là quan trọng.

Tuy đức Phật từ bi nói như vậy, nhưng A-na-luật vẫn nhất quyết không chịu ngủ. Đức Phật lại tìm phương tiện nói:

- Này A-na-luật! Tất cả chúng sanh phải có thức ăn mới sống, lỗ tai dùng âm thanh làm thức ăn, lỗ mũi dùng mùi hương làm thức ăn, lưỡi dùng vị nếm làm thức ăn, thân dùng xúc chạm làm thức ăn, con mắt cũng dùng ngủ nghỉ làm thức ăn, ông không ngủ không được, con mắt sẽ thiếu nhu cầu, mà ngay cả Niết-bàn cũng cần đến thức ăn huống chi con mắt.

- Niết-bàn ăn những gì?

- Niết-bàn dùng pháp không phóng dật làm thức ăn! Không phóng dật mới đến được cảnh giới vô vi, cảnh giới vô vi cũng cần dùng thiền duyệt pháp hỷ làm thức ăn.

- Bạch Thế Tôn! Con không ngủ cũng chẳng hại gì, xin Ngài yên tâm!

Lòng từ bi của Phật, A-na-luật rất cảm kích, nhưng thầy không muốn làm trái lời nguyện. Thầy thức mãi cho đến lúc đôi mắt sưng đỏ. Đức Thế Tôn bèn cho mời ngự y Kỳ-bà đến trị bệnh cho thầy. Kỳ-bà khám bệnh xong bảo A-na-luật chỉ cần ngủ trở lại là mắt sẽ lành ngay, nhưng A-na-luật vẫn cương quyết không ngủ.

Chẳng bao lâu hai mắt thầy mù hẳn.

Từ câu chuyện trên, chúng ta thấy sự quyết tâm tu đạo của tôn giả A-na-luật. Dù biết rằng mắt sẽ mù mà vẫn không rút lui tâm nguyện, không trái lời tự hứa của mình. Đức Phật chỉ mới nói một câu mà Tôn giả đã phụng hành như thế đủ biết lòng cung kính của Tôn giả đối với Phật như thế nào.

5- ĐỨC PHẬT ĐÍCH THÂN VÁ Y

A-na-luật bị mù khiến cuộc sống của thầy có nhiều điều bất tiện, như đối với việc khất thực, vá y thật khó khăn.

Trong Tăng chúng có nhiều vị khỏe mạnh thân tình, mỗi khi đi khất thực về thường đem phần cơm dư chia sớt cho các Tỳ-kheo bệnh. Cho nên đối với việc ăn uống, A-na-luật chẳng bận tâm lắm. Từ khi bị hư mắt, không trông thấy mọi vật, A-na-luật lại càng không bị ngoại cảnh lay động, một lòng tinh thành tu đạo.
Một hôm, ba y của thầy đã rách nát, mấy lần thầy định chằm vá lại, nhưng con mắt không thấy đường làm sao may vá. Cho đến khi chúng rách quá không biết làm sao, gặp lúc A-nan đi qua chỗ của thầy, A-nan thấy vậy mới nói:

- Này huynh A-na-luật! Ba y của huynh rách hết rồi sao không vá lại. Đức Phật có dạy: Thầy Tỳ-kheo y phục mới hay cũ không cần, nhưng phải chú trọng cho tề chỉnh, sạch sẽ.

- Thưa huynh A-nan! Tôi cũng đã thử vá mấy cái y, nhưng con mắt tối đen không xỏ chỉ được. Như nếu huynh có rảnh đến giúp tôi một phen được chứ?

A-nan rất hoan hỷ đáp ứng, hẹn ngày đến vá giúp ba y.

A-nan về đến tinh xá Kỳ Viên định tìm thêm một vị Tỳ-kheo nữa để giúp A-na-luật, nhưng thiên nhĩ của Phật đã nghe hai người đối đáp, khi gặp A-nan, Ngài liền hỏi:

- Này A-nan! Sao ông không nói với ta đi vá y giúp A-na-luật?

A-nan nghe Phật hỏi bất ngờ, vội thưa:

- Bạch Thế Tôn! Ngài là bậc rất tôn quý, những việc vụn vặt của đệ tử chúng con không dám làm bận rộn Thế Tôn. Con và các Tỳ-kheo đều muốn giúp A-na-luật vá y, chúng con đang dự định đi.

- A-nan! Ông đừng nói thế. Ta cũng như các ông, cũng là một phần tử trong Tăng đoàn, ta sẽ đi với ông. Ông khỏi tìm nhiều người làm chi.

Đức Phật nói lời ấy khiến A-nan vô cùng cảm động. Mục-kiền-liên đứng kế bên cũng cảm kích lòng từ sâu thẳm của Phật, các vị đều nguyện theo Phật đến giúp A-na-luật.

Phật đến núi Ba-la-la, bảo A-na-luật:

- A-na-luật! Ông đem hộp kim chỉ ra đây, ta đến để giúp ông vá y.

Nghe tiếng Phật, A-na-luật bất ngờ hoang mang, trong đôi mắt mù bỗng ứa vài giọt lệ, không biết phải nói thế nào đây.

Đức Phật xâu kim, lấy vải trong hộp ra đo cắt. A-nan giúp phụ may luôn. Trong vòng một ngày đức Phật đã vá xong ba y cho A-na-luật.

Một người là tôn sư, là bậc Thế Tôn viên mãn phước đức; một người là đệ tử, là Tỳ-kheo mù lòa, trong tình sư đệ tương quan, thầy từ ái, trò cung kính, đã biểu hiện tình sư đệ của nhà Phật, thân giáo trọng hơn ngôn giáo, đã nêu lên một tấm gương tốt đẹp cho hậu thế chúng ta.

6- NGUYÊN NHÂN SỰ ĐỌA LẠC CỦA PHỤ NỮ

A-na-luật tuy mù lòa nhưng tâm rất sáng suốt, chỉ đối với sinh hoạt hằng ngày của một người mù thật là gặp nhiều điều bất như ý. Từ khi đức Phật vá ba y giúp Tôn giả, Ngài lại càng lân mẫn hơn. Đức Phật dạy Tôn giả tu tập “Kim cang chiếu minh tam- muội” chẳng bao lâu A-na-luật chứng được Thiên nhãn thông. Tôn giả cảm thấy hân hoan, cảm kích không thể tả. Đức Phật cũng hoan hỷ, trong tâm cũng thư thái, từ đó Ngài mới yên lòng.

Thiên nhãn có thể thấy khắp, không phân biệt gần xa, không kể trong ngoài. A-na-luật mất nhục nhãn mà được thiên nhãn như thế, chúng Tăng đều ái mộ, kính trọng Tôn giả. Điều đó tức nhiên là do sức từ bi của Phật gia hộ, nhưng cũng do chí nguyện kiên quyết tu hành của Tôn giả mới được thành tựu. Từ đó, A-na-luật đối với việc vá y, trì bát không còn lo lắng, chỗ người khác không nhìn thấy tôn giả đều thấu rõ. Trong kinh A Di Đà, đã đặc biệt nêu đại danh A-na-luật trong hàng thánh đệ tử, vì thiên nhãn của Tôn giả có thể thấy được thế giới Cực Lạc ở phương Tây, dùng thiên nhãn để chứng minh cho hàng chúng sanh sơ học dễ sanh lòng tin tưởng vào cõi nước của Phật A-di-đà.

Thiên nhãn của Tôn giả không những chỉ thấy thế giới Cực Lạc, mà cũng thấy mọi tình hình ở chốn địa ngục. Một hôm, Tôn giả nhìn thấy rất nhiều phụ nữ bị đọa trong địa ngục, bèn đến hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn! Hôm nay con thấy có rất nhiều phụ nữ bị sa đọa vào địa ngục. Theo con thấy, người nữ rất dễ tín phụng lời Phật dạy, người nữ nhiều lòng nhân từ hơn nam giới, vì cớ sao họ lại bị đọa vào địa ngục nhiều hơn?

- Này A-na-luật! Trong Phật pháp, người nữ dễ tín phụng đó là sự thật, nhưng người nữ dễ tạo tội cũng là một sự hiển nhiên. Người nữ có ba thứ tâm lớn hơn nam giới. Thứ nhất, mỗi sáng sớm mới thức giấc, tâm xan tham của nữ nhân rất nặng, họ mong rằng tất cả tài bảo trên thế giới đều gom vào nhà mình. Thứ hai, lúc ban trưa, tâm tật đố của họ tăng lớn mạnh, cảm thấy rằng toàn thể nhân loại đều làm chướng ngại mình. Thứ ba, lúc xế chiều, tâm dâm dục của họ lẫy lừng, lúc nào cũng mong có người dựa kề bên mình. A-na-luật! Tâm xan tham, tật đố, dâm dục của nữ nhân rất dễ chiêu cảm họ phạm tội. Đó là nguyên nhân khiến họ đọa địa ngục rất nhiều.

Nhân sức thiên nhãn của Tôn giả thấy người nữ đọa địa ngục đã khiến đức Phật thuyết một bài pháp cho hàng tín nữ hôm ấy, khiến các bà, các cô một phen chứng kiến mà tỉnh ngộ.

A-na-luật chứng Thánh quả, được thiên nhãn, trở thành bậc đệ tử thượng thủ trong Tăng đoàn. Nhưng đôi khi tôn giả luận đạo với Xá-lợi-phất, vì vấn đề Thiên nhãn thông mà tôn giả cũng bị Xá-lợi-phất răn dạy cho một phen. Số là, A-na-luật đến hỏi Xá-lợi-phất:

- Thưa Tôn giả! Tôi dùng thiên nhãn thanh tịnh có thể nhìn thấy ba ngàn đại thiên thế giới. Tôi được chánh niệm tinh tấn không lay động, hiện tại thân thể tôi khinh an như dạo chơi trong trời đất tịch tịnh, tâm tôi đã lìa chấp trước không còn tán loạn. Xin hỏi Tôn giả, đó có phải là ly phiền não đắc giải thoát không?
Xá-lợi-phất, bậc thượng thủ đệ nhất trong Tăng đoàn, thường thay Phật thuyết pháp, nghe tôn giả A-na-luật nói rồi liền bày tỏ ý kiến:

- Tôn giả A-na-luật! Vừa rồi ông nói có thiên nhãn thấy suốt ba ngàn đại thiên thế giới, đó là tâm ngã mạn. Ông nói ông có chánh niệm bất động, đó là tâm trạo cử. Ông nói tâm ông đã lìa chấp trước, không còn tán loạn, đó là tâm cuồng vọng. Theo sự hiểu biết của tôi, cần phải xa lìa tâm ngã mạn, tâm trạo cử, tâm cuồng vọng, mới là lìa phiền não đắc giải thoát.

Đối với lời dạy của Xá-lợi-phất, A-na-luật chẳng những không giận mà rất cảm kích. Tôn giả biết rằng lời nói của Xá-lợi-phất là lời nói của bậc chân chánh thấy đạo. A-na-luật là một người rất khiêm tốn vậy.

7- TRONG RỪNG TỊCH TỊNH

Mùa an cư thứ mười, Phật trụ tại nước Câu Diệm Di, trong chúng đệ tử lúc ấy nổi lên sự tranh chấp chia rẽ mãnh liệt. Nhân đó, đức Phật thuật lại câu chuyện vua Trường Thọ nhẫn nhục, để nhắc nhở mọi người chấm dứt sự tranh cãi.

Thế Tôn dạy: “Đem oán hận để dẹp oán hận, oán kia không bao giờ dứt, chỉ có từ bi nhẫn nại mới dập tắt lửa oán thù”.

Lời Phật dạy, nhiều người cảm động đã trừ bỏ tâm sân nhuế, nhưng còn số ít ưa gây gổ phi pháp, không chịu nhường nhịn ai hết. Khi ấy, đức Phật lại nhớ đến đức nhẫn nhượng khiêm tốn của A-na-luật. Ngài bèn đi bộ một mình đến khu rừng Ba-lợi-da-sa-la nước Bạt-kỳ để thăm A-na-luật đang tu tập tại đó.

Trong rừng Ba-lợi-da-sa-la, ngoài A-na-luật còn có Bạt-đề, Kiếp-tân-na, ba vị cùng tu chung một chỗ. Cả ba đều là anh em chú bác với nhau, khi còn tại gia rất thân thiện, đến lúc xuất gia cũng thân thiện. Ba vị có một lời minh ước, đồng y chỉ với đức Phật, luôn luôn tuân theo lời chỉ dạy của Thế Tôn tu tập.

Trong đó, A-na-luật hiện thời là một vị A-la-hán chứng Thiên nhãn, còn Bạt-đề, Kiếp-tân-na cũng trong năm đầu xuất gia, khai ngộ ngay mùa an cư. Ba vị thánh sống chung một nơi, đồng một sinh hoạt an tịnh hòa nhã, điều ấy không cần nói.

Ba vị ước định chung, bình thường thì không ai nói chuyện với ai, năm ngày họp mặt luận bàn đạo lý một lần, trình bày sự tu hành tâm đắc, hay cần sửa đổi nội dung sinh hoạt thì nêu ra. Thường ngày các vị đi vào làng khất thực, người nào trở về trước thì trải sàng tòa, châm nước trong lu, sắp đặt bồn rửa chân, vải chùi chân để bên lu nước. Thọ trai xong, thức ăn còn dư đem để một nơi cao ráo, hoặc rọng trong nước đã lọc sạch côn trùng. Người về sau nếu ăn không no sẽ lấy thức ăn đó ăn tiếp.

Sau khi thu dọn gọn ghẽ, tự mình rửa tay, rửa chân, sửa sang tọa cụ và vào trong tịnh thất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng hoặc tọa thiền. Người về tiếp theo, nếu ăn chưa no thì ăn tiếp thức ăn của người trước để lại, nếu như có lợi dưỡng khác thì cũng để dành như vậy. Ăn rồi rửa chén bát, lau khô cất riêng một nơi, quét dọn chỗ ngồi ăn, dẹp cất y bát, rửa tay chân, trải tọa cụ tọa thiền tu tập như người trước. Cho đến xế chiều, người xuất định trước bèn đến xem trong lu có còn nước hay hết, nếu hết thì đi xách thêm, một người xách không nổi thì đưa tay ra dấu kêu thêm người nữa đến giúp. Hai người im lặng khiêng nước xong, im lặng trở về phòng. Và cứ thế, sinh hoạt của các vị trong chốn rừng u tịch đều đặn trôi qua.

Đức Phật không ưa chỗ sân si ồn ào, nhớ nghĩ đến A-na-luật nên đi đến khu rừng hòa bình của ba vị tôn giả. Ngoài bìa rừng có người canh giữ, ông ta không biết đức Phật, vì bình thường Ngài đi giáo hóa các nơi thì có nhiều đệ tử theo sau, hôm nay đức Phật đi một mình, nên trong lúc bất ngờ ông ta không dè đó là đức Phật quang lâm, bèn cản lại:

- Xin Ngài đừng vào đây, trong rừng này có ba vị thánh đang tu tập.

Đức Phật mỉm cười, từ tốn đáp:

- Ông hãy vào nói với họ có người đến thăm, chắc chắn họ rất mừng khi thấy ta.

Người giữ rừng vào trước báo tin. A-na-luật thoáng nhìn ra thấy đích thị Phật-đà quang lâm đều lộ vẻ mừng rỡ. Ba người vội vàng ra nghinh tiếp, A-na-luật đỡ y bát, Bạt-đề trải tòa, Kiếp-tân-na múc nước rửa chân. Đức Thế Tôn được sự đón tiếp thành kính của ba vị đệ tử. Ngài rửa tay chân xong liền an tọa, hỏi thăm về cách sinh hoạt và sự tu tập. Ba vị đều thật tình trình bày. Đức Thế Tôn nghe xong rất hoan hỷ, khen ngợi:

- Các ông tu hành hòa hợp như thế, cuộc sống đầy an lạc, không tranh cãi đàm luận, nhất tâm nhất đức, một thầy một pháp tu như sữa hòa với nước, trên đời không có cái đẹp nào hơn.

Đức Phật khen xong lại nói thêm về sự tu hành của Ngài trong kiếp quá khứ để sách tấn ba người. Từ một nơi gây gổ đến một nơi hòa bình như chốn này, đức Phật rất hoan hỷ. Đối với sự thăm hỏi bất ngờ của Thế Tôn, A-na-luật thật là vui mừng phấn khởi.

8- CẢM HÓA ĐẠO TẶC

Sau khi chứng Thiên nhãn, tôn giả A-na-luật không phải hoàn toàn ở trong chốn rừng núi lo tu tập phận mình, trong tâm Tôn giả thường nghĩ rằng: Hôm nay ta được niềm vui này đều nhờ ân đức của Phật, muốn báo đáp ân ấy ta nên hoằng pháp lợi sanh, ta nên đi hóa đạo những nơi chưa có người bố giáo.

A-na-luật bề ngoài có vẻ lạnh lùng, nhưng trong tâm nhiệt tình vô hạn. Từ hoàng cung của vua chúa, đến phủ đệ của trưởng giả đều lưu dấu vết giáo hóa của A-na-luật. Núi sâu, thôn trang cũng thấy bóng hình của Tôn giả.

Xóm Ma-na-đề-đa ở nước Chiêm-bà (Campa) có người đau nặng, nghe tôn giả A-na-luật thuyết pháp liền dứt hết lo buồn phiền não, tự nhiên mạnh hẳn. Đối với người bệnh, Tôn giả thuyết pháp an ủi, thường rất có hiệu quả. Tôn giả cũng thích thăm viếng người bệnh luôn.

Trừ việc đem lại niềm vui cho bệnh nhân, đối với việc cảm hóa kẻ hung ác hồi đầu, tôn giả A-na-luật cũng có nhiều biện pháp.

Như trước đã kể, khi A-na-luật ngủ đêm tại nhà một thường dân, đã bị thiếu nữ trong nhà dụ dỗ lôi kéo. Từ đó, Tôn giả phát nguyện không ghé nhà ai ban đêm. Điều ấy đối với một vị Tỳ-kheo đi hóa đạo thật có nhiều việc bất tiện, nhưng A-na-luật đã quen với nếp sống đơn giản, ngày ăn một bữa, dưới cây ngủ một đêm, đó là chuyện thường.

Một hôm, A-na-luật đang du hóa tại một làng quê, chiều tối thì đi ra khu rừng kế cận tọa thiền. Hôm ấy, trên không trăng soi mờ nhạt, mặt đất in bóng cây lưa thưa, một vài ngôi sao băng qua bầu trời, gió thổi lao xao, Tôn giả khép mắt ngồi yên, đợi trời rạng đông.

Đêm càng sâu càng vắng, hình dáng tôn giả chìm lẫn trong rừng cây, im phăng phắt. Bỗng từ xa có tiếng người xì xào bước về phía Tôn giả. Tôn giả khẽ đằng hắng, cả bọn đều dừng lại cách Ngài không xa, Tôn giả chú ý nhìn xem họ là ai. Té ra đây là một bọn cường đạo vừa đi ăn hàng về, định tụ tập trong khu rừng này chia chác với nhau. A-na-luật thở dài một tiếng. Bọn cường đạo biết có người, một tên trong bọn lên tiếng:

- Các bạn! Chúng ta bị lộ rồi, thiệt xúi quẩy, phải giết ngay tên ấy mới được.

Cả bọn rút phắt dao ra, cầm lăm lăm trên tay sáng giới. A-na-luật nói lớn:

- Các ngươi muốn giết ta, hãy đến giết đi. Nhưng ta chết rồi, mấy người cũng không toàn mạng!

Bọn cướp nghe nói kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, chẳng biết đối phó ra sao. Tên đầu đảng xem xét hồi lâu mới nói:

- Ông là ai? Lại chen vào phá hoại việc làm ăn của chúng tôi đêm nay!

A-na-luật trang nghiêm trả lời:

- Ta là Sa-môn đang tịnh tọa tại chỗ này, bảo rằng ta thấy các ngươi làm quấy thì được, còn nói ta phá hoại việc của các ngươi thì không đúng.

- Ông sẽ đi tố cáo chúng tôi phải chăng?

- Ta chẳng cần đến quan phủ tố cáo làm gì. Tuy ta không báo cáo các ngươi, quan trên không biết được hành động của các ngươi, nhưng nhân quả báo ứng chẳng tha cho các ngươi bao giờ. Ta xót thương cho các ngươi sau này chịu nhiều quả khổ bi thảm, đáng tiếc thay!

Lời nói của Tôn giả đánh thức lương tâm của bọn cướp. Chúng liền vứt khí giới, bỏ lòng hung ác, bản chất thuần thiện hiện bày. Bọn họ sám hối sửa đổi, và lãnh thọ lời chỉ dạy của Tôn giả, đều phát nguyện quy y Phật, thay lòng đổi mặt để làm người tử tế.

Sáng hôm sau, A-na-luật bảo bọn cướp đem hết tài bảo trả lại cho dân chúng. Những gia đình bị mất cướp đều cảm tạ Tôn giả, cũng nguyện quy y Phật, vâng làm theo lời Phật.

9- TU HỌC BÁT ĐẠI NHƠN GIÁC

A-na-luật một bề hoằng pháp, một bề lo tu học. Một hôm, Tôn giả ở tại nước Chi-đề, thôn Sấu Thủy Chữ. Trong lúc tịnh tọa, Tôn giả bèn suy tư: “Đạo chẳng phải do tham dục mà đạt được, cần phải tri túc mới đạt đến. Đạo không thể tìm cầu ở những nơi ồn náo, chỉ ở những nơi vắng vẻ, an nhàn mới thấy được đạo. Cầu đạo phải tinh cần, chánh niệm, phải đa văn và Trí tuệ mới làm xong.”

Đang khi suy nghĩ như vậy, đức Thế Tôn ở tại vườn Lệ Dã nước Bà-kỳ-sấu biết được tâm Tôn giả, bèn đặc biệt ngự đến thôn Sấu Thủy Chữ khen A-na-luật đã tư duy chân chánh, khởi niệm chân chánh. Một lần nữa, A-na-luật lại được vinh hạnh tự thân Phật quang lâm đến chỗ cư ngụ của mình.

A-na-luật đem vấn đề của mình suy nghĩ ra trình và thỉnh Phật ấn chứng, thỉnh Phật dạy rõ vấn đề. Tôn giả hỏi:

- Bạch Thế Tôn! Sống trong Tăng đoàn lục hòa, không nghĩ đến lợi riêng, quên bản ngã, điều ấy chúng con làm được, đối với chúng sanh phải hết lòng từ bi, nhân ái, điều ấy chúng con cũng đã biết. Nhưng bạch Thế Tôn! Chúng tại gia rất đông mà hàng đệ tử xuất gia đi vào xã hội để hoằng pháp lợi sanh cũng rất đông, làm thế nào để họ được giác ngộ, tấn nhập Niết-bàn. Xin đức Phật từ bi khai thị.

Đức Thế Tôn bèn hoan hỷ giảng Bát Đại Nhân Giác:

- A-na-luật! Ông hỏi điều ấy rất hay, ông đã nghĩ đến vấn đề cho người tu học Bồ-tát đạo, ta sẽ vì ông giảng nói Bát Đại Nhân Giác, hàng đệ tử Phật nên chí thành tụng niệm luôn ngày lẫn đêm.

Điều thứ nhất, các ông đối với thế gian và nhân sinh nên quán vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, cần rời xa sanh tử, cầu giác ngộ, cần phải quán sát như thế.

Điều thứ hai, các ông cần phải biết căn nguyên của khổ, vốn là đối với thế gian tham dục không chịu rời bỏ. Các ông nên ít muốn vô vi, mới được thân tâm tự tại.

Điều thứ ba, các ông cần xét kỹ tâm không biết chán đủ của mình, suốt ngày do tham cầu mà tạo tội, nếu có thể an bần thủ đạo, tri túc thường lạc, lấy Trí tuệ làm sự nghiệp, như thế cuộc sống mới bình an.

Điều thứ tư, các ông không nên giải đãi trong khi làm việc lành. Đối với sự lợi ích cho người không nên thối tâm. Tiêu diệt phiền não, hàng phục ma chướng mới ra khỏi lao ngục của ba cõi.

Điều thứ năm, các ông cần phải nhận rõ sanh tử u mê rất đáng sợ, cần phải để tâm nghiên cứu các học thuật, nhận rõ đạo lý rồi, nên phát tâm giáo hóa chúng sanh, đem an lạc đến cho họ.

Điều thứ sáu, các ông phải biết rằng người nghèo khổ rất nhiều lòng oán hận. Bồ-tát phải đem tài vật cứu tế họ, dùng tinh thần an ủi họ, dạy họ không nên ghi nhớ hận thù, không nên oán trách người khác.

Điều thứ bảy, các ông sống trong cuộc đời đừng để cho ngũ dục đánh ngã, không kể là xuất gia hay tại gia, cần phải đừng đắm nhiễm thế lạc, cần có nếp sống thanh tịnh cao khiết.

Điều thứ tám, các ông đừng làm kẻ ích kỷ, nên phát tâm Đại thừa độ khắp tất cả chúng sanh, nguyện cho chúng sanh thoát khổ, đừng vì riêng mình mà cầu an lạc.

Nhân lời thưa hỏi của tôn giả A-na-luật, đức Phật đã giảng tám điều cần yếu cho người tu học Bồ-tát, rất nhiều người theo đó tu hành, cải thiện sanh hoạt, khiến cho nếp sống trở nên an lạc tự tại.

Ngày hôm khác, A-na-luật nhập định tư duy về lời dạy của Phật trong Bát Đại Nhân Giác, tôn giả nghĩ rằng: “Pháp môn này là pháp thiểu dục tri túc, chẳng phải pháp không tri túc, là pháp viễn ly, chẳng phải là pháp quần tụ, là pháp tinh tấn chẳng phải pháp giải đãi, là pháp chánh niệm, không phải pháp vọng niệm, là pháp tịch tịnh, không phải pháp sân nhuế, là pháp Trí tuệ, chẳng phải là pháp ngu si.”

Suy tư của Tôn giả hòa điệu với lời dạy của đức Phật, như một khúc hợp tấu nhịp nhàng về chân lý của vũ trụ, về con đường tu tập hạnh giải thoát.

10- CÂU CHUYỆN TRONG NHỮNG NĂM CUỐI

Tôn giả hoạt động bên ngoài Tăng đoàn như thế nào, thì trong giáo đoàn đức Thế Tôn cũng đãi ngộ Tôn giả như thế đó. Cuộc đời của Tôn giả nhất định có nhiều sự tích vĩ đại huy hoàng. Hiện tại chúng ta không có nhiều tài liệu để thuật lại, chúng ta chỉ biết rằng tôn giả cũng như các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên… các đại đệ tử đều địa vị như nhau trong Tăng đoàn.

A-na-luật diệt độ lúc nào? Ở đâu? Chúng ta không biết rõ. Song chúng ta có thể biết chắc rằng khi đức Thế Tôn nhập Niết-bàn tại thành Câu-thi-na, rừng Ta La Song Thọ, tôn giả A-na-luật và tôn giả A-nan đều có mặt bên cạnh.

Lúc ấy nhằm ngày rằm tháng hai, trên đỉnh núi phía Tây trăng tròn vằng vặc, đức Thế Tôn nằm giữa hai cội Ta-la, toàn thân phủ sắc trắng, các đệ tử vây quanh bốn bên quỳ lớp lớp. Đức Phật đã dạy lời tối hậu, đêm tĩnh mịch không một tiếng thở mạnh. Ngài dặn dò cặn kẽ các đệ tử nên trì giới, hoằng pháp tu tâm, giữ gìn khẩu nghiệp, thiểu dục, tinh tấn,… những điều ấy đã ghi lại tường tận trong kinh Di Giáo.

Cuối cùng, như còn lo ngại cho hàng đệ tử về sau, đức Thế Tôn hỏi:

- Này các Tỳ-kheo! Đối với pháp ta đã giảng dạy các ông gắng giữ đừng quên, dù chỉ quên một phần trong muôn ngàn. Ta như lương y, biết bệnh cho thuốc, mà lành bệnh hay không, chẳng phải lỗi ở ông thầy. Ta như người dẫn đường tài giỏi, dẫn người đến đường lành, đi cùng không đi chẳng phải lỗi ở người hướng đạo. Này các Tỳ-kheo! Những pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên ta đã nói ấy, đều là chân lý ta đã chứng ngộ, là đèn sáng cho thế gian, là thuyền từ của bể khổ. Người nào hiểu rõ, không còn nghi ngờ đối với Tứ đế, Mười hai nhân duyên là đã vào đạo. Nay ta sắp nhập Niết-bàn, nếu các ông còn có điều nghi ngờ hãy mau ra thưa hỏi, ta sẽ giải thích cho.

Đức Phật đã đắng miệng, tâm lão bà tha thiết, hỏi đi hỏi lại ba lần trong đêm tịch vắng, đại chúng đều lặng thinh không một người thưa hỏi. Đó là vì đức Phật sắp Niết-bàn nên vỗ về an ủi các đệ tử, và cũng vì các đệ tử đối với pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên đã hiểu rõ không còn nghi. Đại chúng đều là những đệ tử theo Phật lâu năm, đối với pháp căn bản không còn chỗ nào không hiểu.

Lúc ấy tôn giả A-na-luật là người đại diện đủ tư cách trong lúc đức Thế Tôn sắp Niết-bàn, quỳ gối hữu, chắp tay cung kính thay cho đại chúng, bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đệ tử chúng con đều đã hiểu sâu Tứ đế, Mười hai nhân duyên là chân lý của vũ trụ nhân sinh. Trên thế gian này, mặt trời có thể lạnh, mặt trăng có thể nóng, Tuyết Sơn có thể biến thành biển cả, đại địa có thể biến thành gò đất nhưng giáo pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên của Phật nói không thể khác.

Đức Thế Tôn an tịnh nghe A-na-luật thưa xong, trên gương mặt lộ vẻ hoan hỷ. Câu trả lời cuối cùng của A-na-luật đã an ủi được nỗi khổ tâm của Ngài trong bốn mươi chín năm hành khước hóa đạo.

Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, trong số năm trăm vị đại A-la-hán kết tập kinh điển trong núi Kỳ-xà-quật nhất định có tôn giả A-na-luật. Nhưng nói đến sự tích của Tôn giả về sau không thấy lưu truyền, thật là một điều đáng tiếc!

Tôn giả A-na-luật, có ý chí kiên cường, không lay chuyển. Nhân một buổi thùy miên mà nghe lời răn dạy, từ đó cho đến khi mắt mù không hề thối tâm, sức tinh tấn của Tôn giả đến như thế, thật là cao vòi vọi khiến người cảm thán không thôi! Mất nhục nhãn mà được thiên nhãn, tu hành an tường tự tại, truyền đạo an tường tự tại, thật không hổ là vị thượng thủ trong giáo đoàn.

Ca Chiên Diên


CA CHIÊN DIÊN

LUẬN NGHỊ ĐỆ NHẤT

1- THI TÀI DIỄN GIẢNG VỚI ANH

Tại thôn Di Hầu, nước A-bàn-đề (Avanti) miền Nam Ấn, có một gia đình giàu có dòng Bà-la-môn, được dân chúng toàn thôn kính nể.

Hôm nay, tôi giới thiệu tôn giả Ca-chiên-diên, đã xuất sanh từ gia đình ấy. Phụ thân Tôn giả là quốc sư đương thời. Gia đình có nhiều đất đai rộng lớn, kẻ ăn người ở cả trăm, quyền thế, tài phú, là bậc đại nhơn gia đệ nhất của cả nước.

Tôn giả Ca-chiên-diên vốn tên gọi là Na-la-đà, con thứ hai của quốc sư Ca-chiên-diên. Ca-chiên-diên là họ, về sau Tôn giả nổi tiếng nên mọi người dùng họ để thay tên gọi.

Ca ca của Tôn giả cũng là một người thông minh, anh tuấn, hào sảng, ban đầu theo cha xuất gia làm Bà-la-môn, sau đi tham học khắp các nước, trải qua nhiều nơi, bái phỏng nhiều minh sư, cho nên thông đạt rất nhiều thứ học thuật, học rành nhiều tài nghệ. Sau thời gian du học, một hôm chàng trở về cố hương, triệu tập mọi người lại công khai tuyên thuyết chỗ nhận thức của mình về triết lý Vệ Đà tối cao.

Trong khi ấy, Ca-chiên-diên chưa hề bước ra khỏi cửa, biết anh trở về giảng luận Vệ Đà, chàng cũng ra một thông cáo và lập một giảng đài đối diện với giảng đài của anh, đồng thời diễn thuyết triết học Vệ Đà. Chàng trổ biện tài vô ngại, thuyết minh rõ những chỗ bí yếu, thu hút hết thính chúng của anh quay về mình. Mọi người nghe xong đều phê bình rần rộ: “Em giỏi hơn anh xa”.

Ông anh vốn tánh háo thắng, bị một phen đả kích, sanh lòng tật đố với Ca-chiên-diên. Hai anh em bất hòa, gây gổ ồn ào đến trước phụ thân. Ca ca nộ khí xung thiên, thưa với cha:

- Thưa cha! Xin cha trừng trị em con. Hắn vô phép, vô tắc làm mất mặt con, con đã du học nhiều năm làm sao lại thua hắn? Vậy mà khi con đang diễn giảng hắn cũng đăng đàn đối lập, đoạt hết thính giả của con!

Thiếu niên Ca-chiên-diên điềm nhiên, chậm rãi giải thích:

- Xin cha lượng xét! Học vấn là chuyện công khai, ai cũng có quyền nghiên cứu và diễn giảng. Ca ca đi du học nước ngoài, con ở nhà nghiên cứu, con không có ý tranh hơn với Ca ca. Con chỉ nghĩ rằng: Mấy năm nay nghiên cứu ở nhà, không biết có được thành quả thế nào? Ca ca đi du học về mà chỉ mang một bụng hơn thua, con ở nhà chỉ thật lòng học hỏi. Xin cha đừng bận tâm, chúng con tự giáo dục chúng con mới phải, mong rằng Ca ca cũng đồng ý với con như vậy.

Phụ thân tuy là quốc sư, nghe hai quý tử bàn cãi cũng không biết phân xử ra sao. Rốt cuộc, ông bàn với phu nhân đem gởi Ca-chiên-diên đi phương Nam học đạo với tiên A-tư-đà ở núi Tân Đà, gần thành Ưu-thiền-da-ni. Nếu để chàng ở nhà thì ông anh không thể xuất đầu lộ diện.

2- LỜI CHỈ GIÁO CỦA CỮU PHỤ

Tiên A-tư-đà là cậu ruột của Ca-chiên-diên, trưởng huynh của mẫu thân chàng. Ông là vị tiên nhơn bác học thần thông của Ấn Độ đương thời. Khi đức Thế Tôn đản sanh làm Thái tử, ông đã nhận lời mời của vua Tịnh Phạn, đến nội cung xem tướng Thái tử. Xem tướng xong, ông nói với vua Tịnh Phạn:

- Đại vương! Vị Thái tử hiền minh này tương lai nhất định sẽ xuất gia học đạo, và thành tựu quả Phật. Thật đáng tiếc cho tôi đã già quá rồi, không kịp đợi Ngài thành Phật, tôi đã qua đời. Tuy không thể lãnh thọ giáo lý của Ngài, nhưng tôi sẽ dạy đệ tử tôi theo Ngài học đạo.

Nói xong, ông rơi nước mắt và lui ra.

Từ khi Ca-chiên-diên bị phụ thân gởi đến đây, chàng rất được tiên A-tư-đà yêu mến. Ông đem hết sở học truyền dạy cho đứa cháu thông minh. Ca-chiên-diên cũng không cô phụ lòng hy vọng của cữu phụ, chẳng bao lâu chàng thông đạt cả tứ thiền, ngũ thần thông.

Từ đó, Ca-chiên-diên không còn nhớ nghĩ đến gia đình. Thứ nhất, chàng không muốn bám vào ảnh hưởng của thân phụ, bị thiên hạ cho là con của quốc sư mà cung cung kính kính. Thứ hai, là nghĩ đến ông anh háo thắng của mình, chàng biết không có cách gì ở chung cho nổi. Chàng quyết định sống riêng thế giới của mình. Cha mẹ sai người đến đón chàng trở về nhà, chàng cũng khéo léo từ chối.

A-tư-đà biết Ca-chiên-diên không bị tình thương gia đình ràng buộc, rất vui. Một hôm, ông bảo Ca-chiên-diên:

- Ca-chiên-diên! Như chí nguyện của con bây giờ, mai sau con sẽ là một nhân vật vĩ đại, nhưng con phải gặp minh sư mới được. Chỗ hiểu biết của ta, hiện tại không đủ cho con cầu học. Đức đại thánh Phật-đà đã xuất thế, con hãy đợi sau khi Ngài thành đạo, mau mau theo học với Ngài.

Ca-chiên-diên nghe lời thầy dạy, bán tín bán nghi. Chàng chỉ tin một điều, đó là lời tiên đoán mai sau chàng sẽ trở thành một nhân vật vĩ đại.

Ngày nọ, A-tư-đà dắt Ca-chiên-diên xuống núi, đến vườn Lộc Dã nước Ba-la-nại, xây cất một ngôi tịnh thất và an trụ luôn ở đó. Tịnh thất hoàn thành, A-tư-đà bảo Ca-chiên-diên mỗi ngày cầu đảo ba lần, cầu cho đức Đại giác Phật-đà mau đến ngày chứng quả. A-tư-đà lại bảo cháu:

- Ca-chiên-diên! Theo ta tính quẻ dự đoán, đức Phật chẳng bao lâu sẽ thành đạo. Sau đó nhất định sẽ đến Lộc Dã Uyển mà quay bánh xe pháp trước nhất. Ta chỉ biết được như thế, còn đức Phật giác ngộ chân lý gì, e rằng ta không có phước để biết điều ấy. Con nên nhớ kỹ điều này, đức Phật thành đạo rồi, con phải mau mau đi tìm Ngài cầu đạo và tu học đó nhé!

Ít lâu sau, A-tư-đà chấm dứt thọ mạng, từ giã cõi đời. Ca-chiên-diên không còn thầy, từ đó phát huy học vấn và tài năng. Cha là quốc sư, cậu ruột là đại tiên A-tư-đà, tuy Ca-chiên-diên không hề nghĩ tới điều này nhưng quần chúng trọng vọng nhàø học giả không để đâu cho hết. Đáng tiếc, Ca-chiên-diên bị chìm trong danh văn lợi dưỡng, quên đi di ngôn của cậu là phải đi cầu đạo với đức Phật.

3- BÀI KỆ THẦN BÍ

Ca-chiên-diên tự cho mình đã đắc đạo, xứng đáng cho người đời cúng dường, đâu cần mong đợi đức Phật xuất thế làm gì. Do đó, vị thầy thân thiết qua đời không lâu, ông chẳng còn cầu đảo để sớm gặp Phật-đà.

Thời gian sau, tại miền đất hoang gần thành Ba-la-nại, người ta đào bới được nhiều di tích của một cổ thành mấy ngàn năm trước. Trong ấy có một tấm bia đá trên mặt khắc một lối chữ mà chẳng ai biết là thứ chữ gì. Dường như đó là một bài kệ, nhưng không ai đọc ra. Thiên hạ đồn rằng: Ai mà đọc được tấm bia đá đó, chắc chắn vị đó là một bậc đại giác mới hiểu được như vậy.

Một hôm, quốc vương Ba-la-nại bảo các đại thần:

- Nước chúng ta được một số bảo vật lưu truyền từ cổ đại, trong đó có tấm bia đá ghi kệ văn, các ngươi phải mau mau tìm hiểu cho ra. Nếu không, các nước lân cận sẽ cười nước chúng ta không có người trí. Nội trong bảy hôm, nếu như không ai hiểu được bài kệ ấy, ta sẽ cách chức các khanh.

Mệnh lệnh của nhà vua tuy thật nghiêm khắc, nhưng các đại thần từ xưa đến giờ chưa từng thấy thứ chữ này, đều lấm lét nhìn nhau chẳng biết phải làm gì. Sau cùng, các quan dâng kiến nghị lên nhà vua, xin treo bảng thông báo cho toàn quốc, ai đọc được bài kệ trên bia cũ sẽ được trọng thưởng mỹ nữ và tài vật châu báu.

Yết thị của nhà vua nêu ra, tin tức bay đến tai Ca-chiên-diên. Thầy lập tức nhớ đến cậu A-tư-đà đã từng dạy cho mình các thứ chữ trên mọi quốc gia, và những thứ chữ của chư Thiên mình cũng được học rất nhiều. Cho nên thầy rất mực tự tin ra gỡ bảng.

Quả thật, Ca-chiên-diên đọc được toàn bộ bài kệ. Thầy nói đó là thứ văn tự của Phạm Thiên, người không có thần thông chẳng thể nào thấu rõ được. Thầy bèn phiên dịch bài kệ ra cho quốc vương nghe, ý tứ như thế này:

                        Ai là vua trong các vị vua?
                        Ai là thánh trong các bậc thánh?
                        Thế nào là người ngu?
                        Thế nào là bậc trí?
                        Làm sao để lìa cấu uế?
                        Làm sao để đạt được Niết-bàn?
                        Ai là kẻ chìm trong biển sanh tử?
                        Ai là người tiêu diêu nơi cõi nước giải thoát?

Lâu nay, mọi người đọc không ra bài kệ thần bí, Ca-chiên-diên đã vén tấm màn bí mật lên, và toàn quốc đều truyền tụng rất nhanh chóng. Tuy ai nấy đều biết đọc suông như thế, nhưng chẳng người nào hiểu được ý chỉ của bài kệ ra sao, ngay cả Ca-chiên-diên cũng không giải đáp được.

Bài văn trên thạch bia ấy, mỗi câu là một nghi vấn trừu tượng, nếu đem các học thuyết đương thời để giải đáp cũng chỉ được phần nào, còn muốn thấu đáo toàn bộ vấn đề thiệt là không có lời đáp. Nhà vua tuy công nhận sức bác học của Ca-chiên-diên, thông hiểu cả văn tự Phạm Thiên, nhưng thầy không giải thích được nghi vấn của bài kệ, đã lưu lại một dấu hỏi lớn. Nhà vua lại ra lệnh treo giải thưởng, yêu cầu học giả trong thiên hạ đến khai thông vấn đề.

Ca-chiên-diên không chịu thua, thầy bèn hứa với nhà vua nội trong bảy ngày nhất định sẽ trở lại giải đáp ý chỉ này.

4- THỈNH GIÁO ĐỨC PHẬT

Ca-chiên-diên đã hứa chắc với nhà vua, trở về khảo cứu triệt để, thiệt là cái ý chỉ của bài kệ chẳng thể dùng trí tưởng mà truy tầm cho được. Phen này chỉ có một bậc đại giác ngộ mới có thể giải đáp được thôi.

Đến lúc không còn biện pháp gì nữa, Ca-chiên-diên phải đi cầu cứu người khác. Ban đầu thầy đến chỗ Phú-lan-na Ca-diếp thỉnh giáo, sau đó lại tìm đến từng người trong nhóm lục sư ngoại đạo học hỏi, mà ý kiến của họ chỉ rất thô thiển, cũng giống như Ca-chiên-diên một thứ, chẳng phải là ý nghĩa đích thực của kệ văn.

Cùng đường hết lối, Ca-chiên-diên mới nghĩ đến Phật-đà. Nghĩ đến Phật, thầy lại càng không muốn đi thỉnh giáo. Thầy nghĩ: “Bài kệ này, văn tự cõi trời, các lão Bà-la-môn trưởng thượng, uy quyền một cõi mà còn không biết, Cù-đàm tuổi còn trẻ làm sao mà biết được?” Sau cùng, nhớ đến lời cậu trước khi tạ thế, đã hai ba phen đinh ninh căn dặn, sau khi Phật thành đạo, nhất định mình phải đi tìm Ngài tu tập. Nhưng Cù-đàm tuổi tác không bao lăm, làm sao thành tựu được công hạnh Phật-đà viên mãn ư? Sau rốt thầy mới đả thông tư tưởng, ngộ đạo không thể căn cứ trên tuổi tác lớn nhỏ mà quyết định, và nhắm hướng Lộc Dã Uyển đi tới.

Từ xưa đến nay, quả thật người có thể giải đáp bài kệ ấy chỉ có Phật. Chẳng kể văn kệ trên tấm bia là thật hay không thật, nhưng nó ám chỉ một ý nghĩa sâu xa. Đức Thế Tôn nhiều năm nỗ lực tu hành, mục đích là để khai thông vấn đề đó. Sự chứng ngộ của Ngài là một giải đáp hết sức sống động cho câu hỏi đã nêu.

Ca-chiên-diên bái kiến đức Phật, mới biết lời nói của cữu phụ không sai. Thầy chưa biết được Trí tuệ của Phật như đại hải, chỉ mới thấy tướng hảo trang nghiêm của Ngài, đã khởi lòng cung kính vô biên.

Ca-chiên-diên chắp tay, tụng qua bài kệ một lượt, cầu mong đức Phật giải đáp cho.

Đức Thế Tôn chẳng cần suy nghĩ, như đại chung vừa chạm nhẹ đã vang tiếng, Ngài dùng kệ đáp lại rằng:

                        Vua trong các vua là vua cõi trời thứ sáu.
                        Thánh trong các thánh là đức Phật đại giác.
                        Bị vô minh nhiễm ô gọi là kẻ ngu
                        Hay diệt hết các phiền não là bậc trí.
                        Tu đạo, trừ tham, sân, si tức là lìa cấu uế.
                        Hoàn thành giới định huệ tức chứng Niết-bàn.
                        Người chấp trước nơi ngã pháp chìm trong biển sanh tử
                        Người chứng được pháp tánh duyên khởi dạo chơi trong cõi giải thoát.

Ca-chiên-diên rất thông minh, nghe Phật đáp xong, mỗi câu mỗi lời đều thâm nhập vào tạng phủ, mối nghi ngờ ám ảnh trong tâm đều được ánh sáng Trí tuệ dẹp tan. Thầy vui mừng lặng đi giây lâu không nói nên lời, sau cùng mới tụng lại bài kệ của Phật và hướng về phía Ngài đảnh lễ. Mối cảm kích của Ca-chiên-diên chẳng lạ gì, vì vừa nghe lời đức Phật thầy liền khai ngộ, theo đó mà thông hiểu chân lý.

Đức Phật rất ưa thích ông thầy Bà-la-môn này, Ngài khen Ca-chiên-diên thiện căn sâu dày, và lại dạy đạo lý cho một phen nữa. Ca-chiên-diên lễ tạ xong, liền đem bài kệ đáp của đức Phật trở về thuật cho nhà vua nghe. Sau đó tuyên bố với các tín đồ của mình rằng từ nay thầy sẽ quy y đức Phật, làm đệ tử bậc đại Thánh.

5- KHUYÊN NIỆM TAM BẢO

Ca-chiên-diên thiên tư thông tuệ, rốt cuộc bị Trí tuệ cao siêu và nhân cách vĩ đại của đức Phật cảm hóa, trở thành một đệ tử được khai ngộ và chứng quả trong Tăng đoàn. Ca-chiên-diên rất vui mừng, chẳng những tự mình từ đây được cứu độ, mà còn làm toại nguyện ngày xưa của cậu mình là A-tư-đà.

Tôn giả Ca-chiên-diên vốn là một nhân vật phi phàm, huống chi hiện nay đã theo Phật xuất gia chứng quả A-la-hán. Tôn giả thông đạt rất nhiều kinh luận ngoại đạo, lại có rất nhiều bằng hữu ngoại đạo, Tôn giả phát nguyện trước nhất sẽ cảm hóa những bạn tu còn ngơ ngẩn trên đường mê nẻo tà, mỗi mỗi đưa về quy y Phật, để lãnh thọ giáo lý của Thế Tôn.

Do đó, Ca-chiên-diên ở trong Tăng đoàn không những nhiệt tâm phục vụ và tu hành, mà đối với bên ngoài lại cũng nhiệt tâm hoằng pháp, tuyên dương giáo lý. Người hay hoằng đạo chẳng phải đạo hoằng người, chân lý của đức Phật, được sức phát động của tôn giả Ca-chiên-diên, đã dễ dàng phổ cập trong xã hội, đi sâu vào lòng người thì cũng là việc hiển nhiên.

Chân lý cứu đời của đức Phật vốn thường hằng xưa nay không biến đổi, dù trải qua ngàn vạn kiếp cũng trường tồn như mới, Ca-chiên-diên càng tuyên dương càng tăng thêm tín tâm. Tôn giả nhận thấy mình là sứ giả của đức Phật thiệt là một vinh hạnh lớn. Lòng tin và sự nhiệt thành của Tôn giả khiến đại danh Ca-chiên-diên như hương thơm bay xa, ai ai cũng biết tên tôn giả.

Một hôm, Phật trở về Ca-tỳ-la hóa đạo. Ca-chiên-diên cũng theo Phật, ngụ tại tinh xá trong thôn Ha-lợi, và tất cả những gia đình trong thôn này dầu lớn, dầu nhỏ đều lưu dấu vết giáo hóa của Tôn giả. Ngày nọ, trưởng giả Bát Thành bị bệnh, Tôn giả bèn đến thăm và đặc biệt thuyết pháp cho ông nghe để giải trừ bệnh khổ.

Ca-chiên-diên bước vào nhà trưởng giả, thấy ông còn nằm bệnh trên giường, bèn đến bên thăm hỏi:

- Này trưởng giả! Nghe tin ông có chút bệnh, tôi vâng lời đức Phật, đến đây an ủi ông. Ông có chạy chữa thầy thuốc gì không?

- Kính tạ ân đức Phật và Tôn giả, bệnh của con không còn hy vọng, bao nhiêu thầy đều nói con mang bệnh bất trị – Trưởng giả Bát Thành rất thương cảm mà nói.

- Ông hãy xưng niệm Tam bảo, để nương nhờ oai đức Tam bảo khiến tâm ông được thanh tịnh, bệnh tình cũng thuyên giảm đi.

- Bạch Tôn giả! Chúng con quy y Tam bảo là mong ủng hộ Tam bảo, tịnh hóa nhân gian. Chúng con đã hiến dâng tất cả tài vật của chính mình, thì không nên trở lại cầu mong nơi Tam bảo.

- Thật ra là như vậy, thế gian vô thường không thể cầu xin Tam bảo cho được thường trụ, thân thể bệnh hoạn không thể cầu Tam bảo cho mạnh luôn. Tín ngưỡng là hy sinh cá nhân nhỏ hẹp để thành tựu đại ngã. Đàn việt có chút ít bệnh khổ, chúng tôi có thể đến thuyết pháp không cần phiền đến Phật, Pháp, Tăng. Nhưng nếu sức người không có cách giải cứu, thành tâm cầu nguyện Tam bảo, thì từ quang phổ chiếu, ông làm như vậy chẳng có lỗi chi.

Bát Thành nghe tôn giả nói, mỗi ngày đều một lòng nhất tâm xưng niệm Tam bảo, căn bệnh bất trị của ông dần dần thuyên giảm.

Điều đó, tuy Phật pháp rộng lớn vô biên, nhưng cũng là do Ca-chiên-diên lưu tâm đến người bệnh, dùng nước cam lồ từ bi của Phật pháp trị liệu cho nỗi khổ của chúng sanh.

6- TUYÊN NÓI PHÁP BÌNH ĐẲNG

Ca-chiên-diên có khi tu học bên đức Phật, có khi một mình đi vân du giáo hóa các nơi. Phương pháp giáo hóa của Ca-chiên-diên và Phú-lâu-na có chỗ bất đồng. Khi Phú-lâu-na thuyết pháp thường là tập hợïp ngàn vạn thính chúng đến nghe, còn tôn giả Ca-chiên-diên thì thích thuyết pháp riêng từng người.

Từng người, từng người một, đối diện mà giảng dạy, đó là lối thuyết pháp thân thiết nhất, khiến chân lý dễ dàng thâm nhập trong tâm người nghe. Quả thật chẳng lầm, không kể là ai ai, chỉ cần nghe Ca-chiên-diên nói vài câu liền có ấn tượng đẹp và niềm tin nơi lời nói của Tôn giả.

Một hôm, Phật trụ tại tinh xá Kỳ Viên, Ca-chiên-diên thì ba y một bát độc hành băng rừng núi, qua những cánh đồng mênh mông, đến nước Ma-thâu-la (Mathura) ở phía Tây, giáo hóa.

Tôn giả đến Ma-thâu-la, trước tiên xem xét dân tình, phong tục địa phương, lề lối sinh hoạt tập quán của nước này xong xuôi mới vào thành bái kiến quốc vương.

Vua Ma-thâu-la một phen thấy Ca-chiên-diên bèn hỏi:

- Tôn giả! Tôi nghe nói Ngài vốn dòng dõi Bà-la-môn, đó là một chủng tộc cao quý nhất, còn Phật-đà dòng Sát-đế-lợi, mà nay Ngài trở lại quy y với ông ta, làm đệ tử ông ta, thiệt là chẳng ép uổng lắm sao?

- Đại vương! Chuyện đó chẳng những không ép uổng gì hết, mà trái lại, tôi cảm thấy rất hân hạnh được làm đệ tử bậc đại thánh Phật-đà.

- Lạ thật! Từ bỏ dòng dõi thanh tịnh sanh từ miệng Phạm Thiên để làm đệ tử một người dòng Sát-đế-lợi, thiệt là chẳng ai hiểu nổi.

Nhà vua này ngoan cố và thủ cựu, chấp vào thành kiến u mê, chấp ngã đầy bụng chẳng thèm nghe lời của Tôn giả chút nào.

Tôn giả chẳng hề giận, ôn hòa giải thích cho nhà vua nghe:

- Này đại vương! Ngày xưa tôi là Bà-la-môn tôi cũng nghĩ như đại vương. Nhưng sau khi nghe Phật-đà giáo thị, tôi mới biết đó là nhận thức sai lầm. Trong xã hội chia ra giai cấp Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Phệ-xà, Thủ-đà-la các chủng tộc không đồng. Còn trên nghề nghiệp thì có tôn giáo, chánh trị, thương nghiệp, nông công phân loại. Điều ấy không sai, nhưng do đó mà chia cách ra, giải thích về dòng dõi có hơn kém, thiệt là phi pháp. Người trong dòng dõi nào cũng có thiện có ác. Hiện tại trong chủng tộc Bà-la-môn nhiều người làm những điều ác như sát sanh, tà dâm, tà kiến, lại nói rằng là người tôn quý ư? Người tôn quý hay hạ tiện không phải do dòng họ, người tu đạo làm lành, giác ngộ chứng quả, thì chẳng kể thuộc chủng tộc nào đều là bậc tôn quý, là bậc nhất, là thanh tịnh cả.

Dưới lời thuyết giáo ấy, vua Ma-thâu-la chợt giác ngộ, nhà vua tự nói:

- À! Thì ra đó là lỗi của ta. Trong đất nước này, nhà tù chỉ nhốt toàn chủng tộc Thủ-đà-la, còn Bà-la-môn phạm pháp thì không sao cả. Hèn gì, xã hội hỗn loạn, nhân dân ta thán bất bình.

Ca-chiên-diên biết nhà vua thấy được chỗ sai lầm, thật tâm hối lỗi, bèn nói tiếp:

- Đại vương! Đại vương cần tín phụng chánh pháp. Đức Phật đại giác ngộ là bậc tối tôn tối quý trong loài người. Chúng ta quy y Phật làm đệ tử, tìm sự giải thoát tự do cho sinh mệnh, đó thật là hạnh phúc và vinh dự lắm!

Vua Ma-thâu-la được tiếp thọ Phật pháp bình đẳng, bèn yêu cầu Tôn giả giới thiệu để quy y Phật.

Nhà vua ra lệnh đại xá, thả hết những tù nhân dòng Thủ-đà-la, chỉnh đốn lại chánh trị, không còn nể mạnh hiếp yếu, bỏ luôn luật pháp bất công, không phân biệt giai cấp, giữa người và người đều chịu một quốc pháp như nhau. Từ đó toàn cả nước vui mừng, nhân dân lạc nghiệp. Ai nấy đều cảm kích sự giáo hóa của tôn giả Ca-chiên-diên, cảm kích Phật pháp từ bi, bình đẳng.

7- LUẬN VỀ TƯ CÁCH BẬC TRƯỞNG THƯỢNG

Ca-chiên-diên theo đức Phật, tuyên bố chủ trương “Bình đẳng giữa bốn chủng tộc”. Điều ấy khiến nhiều Bà-la-môn không chịu được. Hễ gặp cơ hội họ liền tìm Ca-chiên-diên chất vấn, họ nghĩ rằng “Không triệt hạ Ca-chiên-diên thì các Bà-la-môn từ nay không cất đầu lên nổi”.

Tôn giả Ca-chiên-diên rất giỏi biện luận, không kể người đó là Bà-la-môn quyền uy đến đâu, khi gặp mặt, Tôn giả chỉ dùng vài lời ngắn gọn, không nói dài dòng lôi thôi, đều khiến kẻ vấn nạn phải vui vẻ khâm phục.

Một hôm, Tôn giả ở trong nước Ba-la-nại, cùng với các Tỳ-kheo đồng học thọ thực trong trai đường, tinh xá nằm bên ao Ô-nê. Có một Bà-la-môn, niên kỷ thuộc hàng trưởng thượng, biết Tôn giả đang ở đấy liền đến khiêu chiến. Lão Bà-la-môn chống gậy, làm thinh đứng bên cạnh Ca-chiên-diên, ý ông ta tưởng rằng: Ca-chiên-diên thấy mình đến chắc sẽ đứng dậy nhường chỗ ngồi. Nào dè ngoài ý dự đoán của lão, Ca-chiên-diên chẳng thèm nhìn đến ông, Bà-la-môn đợi hồi lâu bèn nổi giận, lớn tiếng trách:

- Các ngươi là giống gì? Đối với người già cả như ta tại sao không đứng dậy nhường ghế ngồi hử?

Các Tỳ-kheo một phen thất kinh, lắm vị đứng lên định nhường chỗ cho Bà-la-môn ngồi. Chỉ có Ca-chiên-diên chẳng nao núng chút nào, nói với Bà-la-môn nọ:

- Ông là người nào mà đến đây lớn tiếng ầm ĩ? Chúng ta có phép cung kính của chúng ta, nhưng mà ở đây không có ai là trưởng thượng và tiền bối.

Lão đạo sĩ Bà-la-môn nổi giận, quơ gậy chỉ vào cái đầu bạc của mình, nộ khí xung thiên la lên:

- Già cả như lão đây không phải là trưởng thượng hả? Không đáng cho người cung kính hả?

- Ông ấy à? Ông không đáng gọi là già lão, cũng không đáng thọ sự cung kính của chúng tôi! –Ca-chiên-diên nói một cách khi dễ.

- Tại sao ngươi khi người quá vậy?

Lão Bà-la-môn nổi giận lôi đình, lấy gậy chỉ chỏ Ca-chiên-diên. Đối lại, Ca-chiên-diên rất điềm tĩnh, từ tốn nói:

- Tôi thấy cử chỉ và lời nói của ông thô tháo như thế, tôi mới nói ông không đáng gọi là người lớn, không đáng cho người ta kính trọng. Đừng kể là Bà-la-môn, dầu cho tám, chín chục tuổi, tóc bạc răng rụng mà không chân chánh tu đạo, đắm chìm trong trần sắc, không bỏ được phiền não, tham sân tật đố, người đó chỉ đáng gọi là thiếu niên. Như các người tuổi trẻ hai mươi quanh đây, da dẻ còn tươi nhuận, đầu tóc đen nhánh, nhưng họ đã thoát khỏi sự trói buộc của ái dục, không còn tham cầu nơi thế gian, không có chút xíu ý niệm bất bình sân hận. Được như vậy, chúng ta mới gọi người đó là bậc trưởng thượng, là bậc lão túc, đáng được tất cả chúng ta cung kính.

Lão Bà-la-môn nghe nói xong, chẳng biết trả lời lại thế nào, làm thinh đi ra.

8- CÓ ĐẠO ĐỨC KHÔNG PHẢI Ở TUỔI TÁC

Thuyết phục một Bà-la-môn râu bạc, từ đó chẳng được an ổn vô sự gì, danh tiếng Ca-chiên-diên càng to, các giáo đồ Bà-la-môn càng không thể tha thứ Tôn giả.

Lại có một Bà-la-môn khác, rất giỏi biện luận, nghe nói Ca-chiên-diên đối với Bà-la-môn lão niên của họ chẳng những không cung kính mà còn bắt bẻ lại khiến phải ngậm miệng chẳng nói được gì, ông Bà-la-môn này rất tức giận, từ xứ Câu-thi-ni-la ở phía Bắc xa xôi hỏi thăm tìm đến chỗ của Ca-chiên-diên tại thành Ba-la-nại, vừa chạm mặt ông ta đã kêu đích danh Ca-chiên-diên mà hỏi:

- Ca-chiên-diên! Tôi nghe người ta nói, Ca-chiên-diên là gốc Bà-la-môn, nay cải giáo làm Sa-môn, có phải vậy chăng?

- Đúng vậy, ông xem tôi đang đắp ca-sa đây.

- Người phản bội tín ngưỡng của mình, lỗi nhiều ít?

- Từ cái tín ngưỡng tà chấp nọ kia đi theo đạo lý quang minh chánh tín này, không có lỗi gì cả! – Ca-chiên-diên trả lời rất đanh thép.

- Ông chẳng phải là hạng người vô danh tiểu tốt, ông đã từng nghiên cứu tinh thâm pháp điển Mã Nổ của Bà-la-môn chúng ta, ông cải giáo theo Phật, chuyện đó chưa thể bỏ qua, mà còn nghe đồn ông hay giảng thuyết Phật pháp cho các Bà-la-môn để rủ rê họ theo mình, hành động ấy thật là vô lễ.

- Người đã đi qua, chỉ lại cho bạn đồng hành những chỗ lầm lạc của đoạn đường cũ, đó là lời dạy từ bi của đức Phật.

Được kể là hạng người ăn nói, mà gặp phải Ca-chiên-diên, ông Bà-la-môn này cũng chẳng làm gì được. Nhưng ông ta chưa chịu thua, nhớ đến mục đích của mình đến đây, bèn hỏi lại:

- Ca-chiên-diên! Tôi lại hỏi ông điều này. Nghe nói Ca-chiên-diên làm Sa-môn Tỳ-kheo đã không cung kính Bà-la-môn lão túc, không đứng dậy tiếp đón cũng không mời ngồi. Nếu quả như vậy, nếu ông tự cho là Tỳ-kheo, cũng không được vô lễ như vậy.

Ca-chiên-diên thẳng thắn, chậm rãi đáp:

- Câu hỏi của ông, sự thật là thế. Ca-chiên-diên tôi từ khi quy y với bậc Chánh biến tri Phật-đà, quả thật không cung kính phụng sự các lão túc Bà-la-môn, điều đó cũng hợp lý thôi, vì tôi đã chứng thánh quả. Ông đừng đem tuổi tác già trẻ mà đến đây chất vấn, lễ và pháp không thể lộn xộn được.

Bà-la-môn nghe lời biện luận khéo léo của Ca-chiên-diên, rốt cuộc thấy hổ thẹn không nói thêm lời nào. Về sau bỏ tà chấp, yêu cầu tôn giả giới thiệu để làm đệ tử Phật.

Tôn giả thật đáng kính trọng vậy!

9- GIẢI ĐÁP NGUYÊN NHÂN TRANH CÃI

Chân lý nếu không biện biệt thì không sáng tỏ được. Trong Tăng đoàn có một vị như Ca-chiên-diên, khiến bao nhiêu người vấn nạn đều có phần kiêng nể.

Một hôm, Ca-chiên-diên đang ôm bát khất thực trên đường, gặp một đạo sĩ Bà-la-môn đi ngược chiều, ông ta mời Ca-chiên-diên đứng lại và hỏi:

- Tôn giả! Hôm nay gặp Ngài ở đây thật là may mắn. Tôi có một vấn đề muốn thỉnh giáo, mong Ngài lấy tư cách khách quan để giải nghi giùm tôi.

- Chẳng có chi, ông nghi hoặc điều gì?

- Tôn giả! Tôi thấy trên thế gian, Sát-đế-lợi tranh đấu với Sát-đế-lợi, Bà-la-môn tranh với Bà-la-môn, vì lý do gì mà họ tranh đấu mãi như vậy?

Ca-chiên-diên đáp:

- Vì tham dục mê hoặc.

- Thưa Tôn giả! Vậy chớ Tỳ-kheo các Ngài tranh cãi nhau lại là lý do nào?

- Do ngã kiến và pháp chấp.

Đạo sĩ Bà-la-môn nhắm mắt lại, đưa tay vò đầu dường như cố sức suy nghĩ về lời đáp của Tôn giả. Thái độ của ông ta có phần kỳ quặc khiến dân chúng hai bên đường chú ý. Xưa nay, thầy Tỳ-kheo nói chuyện với đạo sĩ Bà-la-môn ở giữa đường đã là chuyện lạ, huống gì Bà-la-môn này lại có thái độ như thế.

Một vị Tỳ-kheo đắp y vàng, trang nghiêm tề chỉnh đứng đấy, cùng một đạo sĩ Bà-la-môn khổ hạnh râu tóc phủ khắp mình, lại đứng nhắm mắt vò đầu lia lịa, bốn phía quần chúng chú mục vào hai người như sắp sửa xem một vở tuồng vui nhộn.

Đạo sĩ Bà-la-môn suy nghĩ một chặp, mở mắt ra lại hỏi:

- Tôn giả! Ngài đáp rất công bình hợp lý, song tôi nghĩ rằng trên thế gian này có nhân vật nào ly khai được tham dục, ngã kiến và pháp chấp không?

Ca-chiên-diên chẳng chút do dự đáp ngay:

- Có lão sư của tôi là đức Phật, hiện đang thuyết pháp tại thành Xá-vệ. Ngài là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ngài không còn phiền não tham dục, ngã kiến, pháp chấp, là bậc đạo sư của ba cõi, là mô phạm của nhân thiên.

Đạo sĩ Bà-la-môn rất cảm kích đối với lời thuyết pháp của Ca-chiên-diên, ông ta liền yêu cầu Tôn giả giới thiệu cho ông ta quy y Phật, làm một đệ tử cư sĩ.

Quần chúng bên đường mục kích cảnh Tôn giả thuyết phục đạo sĩ đều hoan nghênh. Nhiều người quỳ tại chỗ đảnh lễ Tôn giả như chúc mừng thắng lợi! Tuy vậy, Tôn giả chẳng lộ vẻ tự đắc, Ngài khiêm tốn đáp lễ lại mọi người, và cùng Bà-la-môn (nay đổi thành cư sĩ tục gia) cáo biệt, thản nhiên tiếp tục con đường khất thực của mình.

10- RĂN DẠY BỌN THIẾU NIÊN VÔ LỄ

Ca-chiên-diên xuất thân từ Bà-la-môn và qua lại biện luận với Bà-la-môn rất nhiều. Thảy đều do Tôn giả là một nhân vật cao cấp, có danh vọng và địa vị trong giáo phái Bà-la-môn, một phen cải giáo quy y Phật. Điều ấy làm chấn động cả một tín ngưỡng thần quyền.

Các giáo sĩ Bà-la-môn công kích vấn nạn Ca-chiên-diên rất nhiều, nhưng số Bà-la-môn duy trì tình bằng hữu với Tôn giả, tự giác tín ngưỡng cần để tự do cũng không phải ít.

Một phen nọ, Ca-chiên-diên hành hóa tại cố hương A-bàn-đề (Avanti) thôn Di-hầu. Trong thôn có một Bà-la-môn tên Lỗ-ê-già, ông ta đối với Tôn giả rất cung kính tôn trọng.

Một hôm, đám thiếu niên con em của Bà-la-môn Lỗ-ê-già lên núi chặt củi, bọn chúng đi ngang một hang đá thấy Ca-chiên-diên đang tĩnh tọa bên trong, chúng liền kêu réo nhau ồn ào, đem Tôn giả làm trò đùa với nhau.

- Ê! Lại đây! Mày lại đây coi Sa-môn đầu trọc ở đây nè!

- Nhìn làm quái gì? Lão trọc ấy chẳng có thú vị gì cả!

Đám đệ tử của Lỗ-ê-già nhao nhao mỗi người một câu rần rộ ngoài cửa động, trong bọn này có một tên can gián:

- Úy! Các bạn đừng chế nhạo người ấy, ổng là người thầy mình tôn kính lắm đó.

Tuy vậy, bọn thiếu niên bướng bỉnh vẫn cười đùa, chế nhạo ầm ĩ, thậm chí còn lấy đá chọi vào hang.

Ca-chiên-diên đang tĩnh tọa phải đứng dậy bước ra ngoài, răn dạy bọn chúng một phen:

- Này các chú! Lúc trước các Bà-la-môn tu hành đàng hoàng, cấm tuyệt ngũ dục. Bây giờ thì Bà-la-môn cưới vợ đẻ con, giống như người thế tục. Các chú xem hành vi của các chú chẳng khác bọn trẻ nít hoang đàng vô lễ, bộ thầy các chú dạy như vậy đó hả?

Thái độ của Ca-chiên-diên oai nghi như sư tử làm bọn thiếu niên nép một bên chẳng dám hó hé, nhưng trong bụng rất căm tức. Lúc về nhà, bọn chúng liền mách lại với Lỗ-ê-già, nói Ca-chiên-diên đã mắng chửi Bà-la-môn thế nọ, thế kia.

Lỗ-ê-già nghe xong, nổi giận nói rằng:

- Ta đối với Ca-chiên-diên rất tôn kính mà ông ấy trở lại mắng nhiếc chúng ta, ta phải đi tìm ông ấy hỏi cho ra lẽ!

Lỗ-ê-già sát khí đằng đằng tức tốc chạy đến thạch động của Tôn giả, phen này không làm lớn chuyện không xong. Nhưng khi gặp Ca-chiên-diên nghiêm trang, ôn hòa thuật lại những lời của bọn trẻ và lời nói của mình cho ông ta nghe. Lỗ-ê-già cảm thấy xấu hổ, cúi đầu chẳng nói lời nào.

Ca-chiên-diên thừa cơ hội nói tiếp:

- Này bạn Lỗ-ê-già! Ông nghe tôi nói đây, tín ngưỡng và sự tu tập của chúng ta là cốt giải thoát sanh tử, đạt được sinh mệnh tự do. Trăm ngàn lần không thể đem tín ngưỡng và việc tu biến thành một thứ nghề làm ăn. Hiện nay, trong số các đạo sĩ Bà-la-môn, làm lễ cúng tế cho người đời, dường như là có ý kinh doanh, lìa gia đình để làm Bà-la-môn tu đạo có được mấy người chân chánh? Phần lớn toàn là vì danh văn lợi dưỡng, tự mình làm ra vẻ chí thành mà thật là hư dối. Đã không được cứu độ mà mang chiêu bài tôn giáo để thỏa mãn dục vọng của riêng mình, thiệt là chuyện đáng buồn!

Các Bà-la-môn thời nay đều là ngoài tâm cầu pháp, nếu không cầu phước báo nhân thiên thì cũng đem hiện tượng trong vũ trụ ra mà giải thích tới lui, có mấy người nhận thức được chính mình? Thầy của tôi là đức Phật, là vị cứu tinh cho các nhà tu đạo đang lẩn quẩn trên đường tôn giáo. Ông là hảo hữu của tôi, mong rằng ông sẽ bỏ mọi điều tà chấp, đừng ham làm thầy thiên hạ, đem tâm tình bao la đồng theo đức Phật mà học tập với tôi đi!

Lỗ-ê-già nghe xong, lộ vẻ thẹn mà nói:

- Tôn giả! Ngài nói rất đúng. Giờ đây tôi sẽ nhất nhất làm y theo lời chỉ giáo của Ngài.

Thiệt là tợ như vác cây đại đao muốn đâm người, mà chẳng đâm trúng Ca-chiên-diên, trở lại bị Tôn giả dùng lời lẽ sắc bén bẻ gãy, Lỗ-ê-già chỉ còn cách buông hết các thứ võ trang vọng tà chấp, đầu hàng Ca-chiên-diên – Luận nghị đệ nhất .

11- THUYẾT MINH LÝ VÔ THƯỜNG

Ca-chiên-diên biện tài vô ngại, nghị luận già dặn không ai sánh kịp, trong Tăng đoàn cũng như ngoài xã hội, danh cao vòi vọi không ai không biết.

Đức Phật rất thích các đệ tử lỗi lạc, chỉ cần có chút khả năng cũng được nêu lên tán dương. Ca-chiên-diên là một thánh đệ tử phi thường, đức Phật mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe nói đến tên tôn giả đều rất hài lòng. Cho nên một hôm Ngài đến giáo hóa nước A-bàn-đề, bèn bảo Tôn giả thay Ngài giảng nói đạo lý vô thường cho tứ chúng.

Ca-chiên-diên đảnh lễ đức Phật trước sau mới nói:

“Các vị đại thiện tri thức! Tất cả mọi sự tụ hội đều có lúc ly tán, có sanh ắt có tử, có thành thì có hoại, các pháp hữu vi trên thế gian dù cho sơn hà đại địa, sum la vạn tượng cũng không thoát khỏi pháp tắc vô thường!

Các vị hãy nhìn xem, mùa xuân trăm hoa đua nở, một trận gió thu thổi tới liền biến thành cảnh tượng lá vàng rơi lả tả, vốn là tuổi trẻ mặt đẹp sắc hồng, trải qua năm tháng liền thành da nhăn tóc bạc, già nua lụm cụm.

Làm người nếu quả như không thoát khỏi sự vô thường thì cái sinh mệnh ngắn ngủi này thiệt là cô độc và bi ai lắm. Như giọt sương đọng trên cành, vừa lúc mặt trời lên chiếu rọi muôn ngàn tia sáng, nó đã tan biến theo bóng đêm.

Quyến thuộc, ân ái mà đến lúc già chết cũng không ai thay thế được. Con cháu hiếu thuận, trong lúc ông bà xuôi tay nhắm mắt cũng chỉ biết vây quanh người mà khóc kể, khóc đến mấy cũng không níu được vô thường, cũng không làm ông bà sống lại.

Kim ngân tài bảo cũng chẳng nương cậy được vững bền. Qua một cơn thiên tai, hỏa hoạn liền mất hết giá trị. Danh vọng quyền thế cũng không thật, trên thế gian có vương hầu nào không từng bị lật đổ?

Không rõ lý vô thường sẽ bị màu sắc rối ren của thế gian lừa đảo. Kìa là thiên nhiên núi xanh sông biếc, kìa là loài người sức khỏe tráng kiện, đây xã hội, đèn hồng rượu lục, mấy thứ ấy mới nhìn qua thật thú vị vô cùng, mà cũng thật là cạm bẫy hại người, vì đã chứa sẵn sự vô thường lo sợ.

Suy nghĩ kỹ mà xem, thế gian chỉ có vô thường là trên hết, nơi nơi đều là hư ngụy, giả dối lừa đảo. Chỉ có chân lý nhân quả và nghiệp lực mỗi người tạo tác là không hư ngụy, không dối gạt thôi. Nhân quả và nghiệp lực như bóng theo hình, dù sống dù chết chúng đều theo dính bên ta.

Vì thế, thưa các vị đại thiện tri thức! Người tu chúng ta cần phải có tinh thần khiêu chiến với con ma vô thường. Theo lời chỉ dạy từ bi của Phật-đà, chúng ta cần phải nỗ lực khẩn thiết tu tập, nhận thức được bộ mặt thật của chính mình, phá tan thế gian vô thường, chứng đắc sinh mệnh vĩnh cửu. Chúng ta không cầu sống, mà cũng chẳng bị chết!”

Lời chỉ dạy thống thiết của Tôn giả, nghĩa lý phân minh làm cảm động tất cả tứ chúng trong hội.

Thay Phật thuyết pháp, chỉ có Ca-chiên-diên biện tài nghị luận, mới đầy đủ tư cách ấy, mới được vinh dự ấy.

12- NÓI ĐẠO LÝ PHÁT TÀI CHO KẺ NGHÈO

Sau khi tuyên hóa tại nước A-bàn-đề, Tôn giả trở về nước Xá-vệ để nghe đức Thế Tôn thuyết pháp. Trên đường đi, Tôn giả gặp một phụ nữ tay cầm vò nước, ngồi khóc thảm thiết bên mé sông. Thấy qua cảnh tượng, tự nhiên Tôn giả động tâm và sanh lòng lân mẫn, Ngài e rằng cô này vì một chuyện bất đắc chí nào đó, không giải quyết được mà nhào xuống sông tự vẫn.

Tôn giả đến trước và hỏi:

- Này cô! Chuyện gì khiến cô buồn thảm mà ngồi đây khóc lóc?

Cô kia càng khóc lớn:

- Chẳng việc gì đến ông, nói với ông làm quái gì?

- Này cô! Cứ nói tôi nghe, tôi là đệ tử Phật, tôi có thể giúp cô giải quyết vấn đề được chứ.

- Ông mà làm cái gì. Ông coi, trên đời này không công bằng, giàu nghèo khác nhau trời vực. Tôi là một kẻ nghèo cùng suốt đời khổ sở, tôi bị cái khổ bần cùng mãi, đến nỗi không còn muốn sống nữa.

Cô nói xong, lại lăm le nhảy xuống nước, Ca-chiên-diên vội kéo cô ta lại, từ bi giảng giải:

- Này cô! Đừng buồn thảm như vậy. Trên đời này có biết bao nhiêu người nghèo đâu phải mình cô. Vả lại, nghèo cùng không hẳn là bất hạnh, là khổ sở. Kẻ giàu chưa chắc là khoái lạc. Cô coi mấy người phú hộ lắm của nhiều tiền kia, hằng ngày cứ bị tham dục sân si quấy rối khổ sở. Làm người ở đời chỉ cần sống bình an là quý, bần cùng có gì bi thảm đâu nào?

Cô ta lại vùng vằng la lối:

- Ông là Sa-môn, ông không cần đến tình đời, còn tôi đâu có được. Ông phải biết tôi là đầy tớ cho một nhà phú hộ, cùng đời mạt kiếp làm kẻ tôi đòi, cơm áo không đủ, tự do chẳng có, mà còn gặp chủ nhân hắc ám, tham lam hung dữ chẳng có chút xíu từ tâm. Tụi tui làm công chuyện hễ sai một chút là lãnh đòn, nghe chửi, muốn sống không yên, muốn chết chẳng được, nghĩ đến nỗi cùng cực đó đều do kiếp nghèo mà ra, bảo sao tôi không buồn không khổ?

- Cô à! Tuy nhiên như vậy, cô cũng đừng bi quan. Tôi sẽ chỉ cho cô một cách phát tài và thoát khỏi nghèo khổ.

- Cách gì vậy ông? – Cô ta quẹt nước mắt, hy vọng nhìn Tôn giả.

- Ồ, cách này rất đơn giản. Cô đã bị bần cùng làm khổ, thì cô cứ đem bần cùng bán quách cho người khác đi.

- Bần cùng mà bán cho ai? – Cô nọ lại la lên – Ông lại nói giỡn, bần cùng mà đem bán được thì trên cõi đời này không còn người nghèo. Có ai mà chịu mua cái nghèo bao giờ?

Ca-chiên-diên trả lời:

- Bán cho tôi, tôi chịu mua.

- Bần cùng có thể bán được, mà cũng là ông mua. Nhưng ở đời này ai biết cách bán nó ra sao.

- Hãy bố thí! Tôn giả khai thị tiếp. Cô nên biết sự giàu nghèo ở đời đều có nhân duyên. Người nghèo sở dĩ nghèo hoài là vì đời trước không chịu bố thí và tu phước, người giàu sở dĩ giàu sang sung sướng là vì đời trước họ đã bố thí và tu phước. Vì vậy bố thí, tu phước là cách bán nghèo mua giàu tốt nhất đó.

Người nữ tỳ nghe xong, Trí tuệ khai thông, đến hôm nay cô mới biết cách làm giàu. Nhưng cô lại đau khổ mà hỏi rằng:

- Thưa Tôn giả! Ngài dạy chí phải, con đã biết cách để được phát tài. Nhưng con nghèo quá mức không có chút gì cả, cái vò nước trong tay con cũng là của chủ nhà, họ giữ của còn hơn giữ mạng sống, Ngài bảo con bố thí cái gì bây giờ?

Ca-chiên-diên đưa bình bát cho cô ta, nói:

- Bố thí không cần phải là tiền bạc, thấy người khác bố thí mà mình phát tâm vui vẻ cũng được. Cô hãy múc nước đổ đầy bát cho tôi, đó là cô đã bố thí rồi!
Người nữ tỳ liền hiểu rõ ý nghĩa bố thí, liền làm theo lời dạy. Về sau nhờ công đức cúng nước cho Tôn giả, cô được sanh lên cõi trời Đao Lợi.

Ca-chiên-diên đầy đủ phương tiện thuyết pháp, gọi rằng Luận Nghị Đệ Nhất, thật là danh bất hư truyền.

13. ĐỔI ÁI TÌNH THÀNH TỪ BI

Một hôm, Tôn giả đi giáo hóa tại một nước rất xa xôi tên Ba-la-lê-viên và cư trú trong rừng trúc của một trưởng giả.

Đương lúc đó, vua nước ấy – Văn Đồ Vương gặp một biến cố đau đớn, đó là vị đệ nhất vương phi mà vua rất yêu dấu chẳng may mệnh bạc. Nhà vua buồn khổ muôn phần, bỏ ăn bỏ uống, không ngó ngàng gì đến triều chánh, ngày nào cũng khóc lóc thảm thiết.

Người đã chết, dù là bậc quyền thế tôn quý như vua chúa, cũng không thể bảo sống trở lại được. Vua Văn Đồ thì không thể nào quên tình ân ái cũ, ra lệnh các quan đại thần ướp xác vương phi và quàn trong cung, mỗi ngày nhà vua đều đối diện tử thi mà than thỉ:

- Ôi! Cái miệng xinh kia sao không nói chuyện với trẫm? Đôi tay kia sao không ôm trẫm? Vương phi yêu dấu ôi! Sao không chịu mở mắt nhìn trẫm?

Nỗi bi ai của nhà vua cứ triền miên bất tận như thế, các quan đại thần cũng chẳng có cách gì, họ khuyên can nhà vua xin đừng buồn thảm quá độ, nhà vua chẳng để tai lời nào, lại nói: “Muốn nhà vua hết buồn, cách tốt nhất là làm sao cho vương phi sống lại” nhưng chuyện ấy ai mà làm được.

Trong lúc bối rối, bế tắc, các đại thần chợt nghĩ ra: Tôn giả Ca-chiên-diên hiện đang giáo hóa ở đây, hy vọng nơi oai đức và tài biện luận khéo léo của tôn giả, chắc thuyết phục nhà vua có thể dứt bỏ mối bi ai, lấy lại dũng khí mà chỉnh đốn triều ca.

Các quan dâng kiến nghị lên vua:

- Muôn tâu đại vương! Trong nước ta hiện nay có một đại đệ tử của đức Phật đang du hóa, đó là tôn giả Ca-chiên-diên, một bậc đại thần thông, đại oai đức, Trí tuệ uyên bác không vấn đề gì không hiểu, ngay cả văn tự Phạm Thiên trên tấm bia cổ Ngài cũng biết được! Tôn giả biện tài vô ngại, mỗi khi nói chuyện gương mặt thường nở nụ cười. Xin thỉnh đại vương hãy đến gặp Ngài, chắc chắn sẽ có nhiều lợi ích.

Vua Văn Đồ nghe tâu, vội hỏi:

- Thần thông của người ấy có thể gọi vương phi ta sống dậy không?

Các đại thần lúng túng, đều chẳng biết trả lời ra sao, trong ấy có một vị đã từng nghe tôn giả thuyết pháp, cung kính đáp:

- Muôn tâu đại vương! Có thể hay không thể làm cho vương phi sống dậy, điều ấy chúng thần không dám trả lời chắc, chuyện ấy chỉ có đến thỉnh giáo tôn giả Ca-chiên-diên mới biết được thôi.

Vua Văn Đồ chuẩn y lời tâu của các quan liền lập tức ban lệnh đi ngay. Nhà vua ngự xe loan, mang theo nhiều lễ vật đến rừng trúc. Gặp mặt Tôn giả vua liền yêu cầu cứu mạng cho vương phi hồi sinh.

Ca-chiên-diên bẻ một nhánh cây gần đấy, nói với nhà vua:

- Này đại vương! Hãy đem nhánh cây này về cung, mà giữ cho nó tươi xanh hoài, đừng khô héo, được không?

- Điều đó không thể được, cây đã lìa cội rễ, làm sao mà sống, mà xanh tươi.

- Vậy thì phu nhân đã hết nghiệp, thọ mạng đã chấm dứt, mà bảo sống trở lại, chuyện ấy làm được sao?

Ca-chiên-diên hỏi trở lại, vua Văn Đồ ngay lúc đó liền giác ngộ lý vô thường, người đã chết không thể sống lại.

Tôn giả biết tâm nhà vua, liền thuyết pháp tiếp theo:

- Này đại vương! Ngài là vua một nước, Ngài cai trị toàn dân, toàn thể dân chúng là người của nhà vua chớ chẳng riêng một mình vương phi là của vua đâu. Đại vương nên đem tấm lòng thương một mình vương phi mở rộng ra thương khắp hết người trong thiên hạ, dùng từ bi thay thế tình yêu riêng tư, thì quốc gia mới hưng thịnh, dân chúng sẽ ủng hộ nhà vua mãi mãi.

Vua Văn Đồ nghe xong, bừng tỉnh cơn mê, dứt hết mọi buồn thương, đảnh lễ cáo biệt tôn giả, trở về cung an táng vương phi, chỉnh đốn triều chánh, thương dân như con. Từ đó cả nước mừng vui, ai nấy đều cảm kích tài khéo thuyết pháp của Tôn giả Ca-chiên-diên.

Ngày nay khói lửa tràn lan trên thế giới, chúng ta mong mỏi tinh thần Nghị luận đệ nhất của Tôn giả Ca-chiên-diên sống lại trong Tăng đoàn Phật giáo để thuyết phục các nhà lãnh tụ hiếu chiến kia.