headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 25/09/2018 - Ngày 16 Tháng 8 Năm Mậu Tuất - PL 2562 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtc2  Mong
LỄ AN VỊ PHẬT TỨ ĐỘNG TÂM Tại TVTL Chánh Giác

Lời Giáo Huấn

Lời dâng

luanhoi

LoigiaoHuan2

Cung kính

Ngưỡng bạch Thầy,

Đây là mùa Hạ lần thứ mấy trong đời tu của Thầy, chúng con nhớ rất rõ dòng thời gian chảy qua mạch sống luân lưu, từ thuở sông nước Rạch Tra róc rách vỗ vào bờ khúc hoan ca, mừng đón bậc chân tăng ra đời.

Song chỉ ngần ấy năm tháng không đủ để nói lên tuổi công đức của một bậc chân tăng trải qua nhiều đời tu hành. Nó chỉ điểm xuyết lên khoảng thời không bất tận một chút nhân duyên hữu hạn, để chúng con được gặp Thầy, gặp bậc minh sư và được tiếp độ tu hành như ngày hôm nay.

Nhân duyên này, hạnh ngộ này, thật cao thâm, thật hy hữu! Toàn thể chúng con xin nguyện trân quý gìn giữ bằng tất cả công phu tu tập của mình. Thầy đã có mặt, luôn có mặt bên cạnh chúng con như máu huyết luôn tuôn chảy trong từng sớ thịt đường gân, nuôi lớn và duy trì giới thân huệ mạng cho chúng con giữa muôn trùng nghiệp thức vây bủa.

Thuyền đại nguyện đi vào đời, Thầy đã đến với chúng sanh và chúng con tự nhiên như mẹ hiền đến với con dại. Chúng đệ tử một lòng trông mong khát ngưỡng từng giọt sữa pháp của Ân sư từ lúc mới bước chân vào đạo cho tới ngày hôm nay. Tất cả huynh đệ chúng con không ai không nhờ vào ân pháp hóa của Thầy mà vui mà sống, mà lớn lên trong từng phút từng giây.

Thường Chiếu cứ mỗi sáng sáng chiều chiều, bóng Thầy hiển hiện tươi mát trong lòng Tăng Ni. Bình minh đổ tràn xuống hoàng hôn, lung linh ánh từ tâm. Thầy đã đến và gọi chúng con lên đường. Phải nhớ là dạo chơi trong cõi mộng mà vẫn thường tại giữa thiên thu vĩnh tuyệt. Đó là hạnh nguyện, là bản hoài, là lời dạy như in của Thầy. Nhật Quang con không bao giờ dám quên.

Với chúng đệ tử, khi dạy dỗ tu hành Thầy rất mực nghiêm cẩn, lúc an ủi vỗ về Thầy quá đổi từ nhân. Ánh mắt Thầy, bóng dáng Thầy… in đậm trong lòng Tăng Ni tứ chúng một cuộc đời vì pháp quên thân. Giới và hương đức hạnh của Thầy trở thành đóa hoa tâm mãn túc, xông ướp khắp nhân sinh trái tim Bồ-tát bi trí tròn đầy.

Con còn nhớ,

Có những lần bất cẩn, chúng con đi xa về muộn, Thầy không ngủ, thức suốt trông trăng đợi đệ tử về, không một lời oán trách. Anh em chúng con kinh hãi xuất mồ hôi, dập đầu sám hối. Nguyện đời đời theo gót Ân sư, dừng bước lãng du đãng tử.

Lần ấy trở về, nhớ Thầy con thao thức hằng đêm, giận mình đáng trách, kính thương Thầy đúng bậc Tôn sư. Và từ dung ấy đã che chở trọn một đời con.

Hôm nay nhân ngày mãn Hạ, huynh đệ chúng con lại cùng nhau quây quần bên chân Thầy, mừng khánh tuế Ân sư. Và lời giáo huấn của Thầy năm xưa chợt sống lại trong lòng Tăng Ni, tiếp sức cho chúng con trên bước đường trở về cố hương vốn còn xa xôi dịu vợi.

Ngưỡng bạch Thầy,

Chúng con có Thầy là có tất cả. Thầy là nguồn sống hiện sinh, trào dâng. Để từ đó nuôi dưỡng bao thế hệ anh em chúng con lớn lên trong ngôi nhà thiền tông, mà Thầy đã một đời dày công gầy dựng.

Chúng đệ tử nguyện cúi đầu vâng giữ phụng hành giáo huấn của Thầy, để Thầy được vui, sống lâu nơi đời với chúng con và chúng sanh, cùng kết duyên tu hành cho tới ngày viên mãn.

 Kính nguyện Thầy tứ đại luôn nhu hòa, trí tuệ tròn sáng, tình thương lan tỏa sưởi ấm khắp muôn phương.

Ngưỡng vọng về Thầy, chúng con kính cẩn ghi lại bài giảng mùa an cư kiết hạ của Thầy năm xưa tại thiền viện Thường Chiếu, thay cho lời chúc Hạ của Thầy đến toàn thể Tăng Ni tứ chúng trong ngày Khánh tuế hôm nay.

Cúi mong Thầy thương xót chứng tri cho lòng thành của chúng con.

Cung kính đảnh lễ Thầy,
Ngày 24-07 năm Nhâm Thìn.
Con,
NHẬT QUANG

 

Danh Sách Đạo Tràng Trúc Lâm

DANH SÁCH CÁC ĐẠO TRÀNG TRÚC LÂM

1 Sùng phúc - TV Sùng Phúc , Long Biên, Hà Nội
2 Quán Sứ - Hà Nội
3 Tuệ Đức - Đống Đa, Hà Nội.
4 Hiền Trí  - Đống Đa, Hà Nội.
5 Đức Hải - Chùa Nga My, Quốc Oai, Hà Nội
6 Thanh Đạo – Chùa Sen Chiểu, Sơn Tây, Hà Nội
7 Thanh Nghiêm – Chùa Mai Trai, Sơn Tây, Hà Nội
8 Thanh Minh – Hoàn Kiếm, Hà Nội
9 Phù Yên -Thiền tự Hoa Nghiêm, Chương Mỹ
10 Thái Đức -  TP Thái Nguyên
11 Thanh Thái  - TP.Thái Nguyên
12 Tuệ Trí - Thiền tự Long Hoa, Văn Giang, Hưng Yên
13 Phúc Minh - Chùa Đào Xá, Ân Thi, Hưng Yên
14 Hồng Ân - Chùa Hồng Ân, Tiên Lữ, Hưng Yên
15 Quang Đức - Lạc Sơn, Hòa Bình
16 Yên Tử 1 - TVTL Yên Tử, Uông Bí, Quảnh Ninh
17 Yên Tử 2 - TVTL Yên Tử, Uông Bí, Quảnh Ninh
19 Ngọa Vân Am - Long Tuyên, Hạ Long, Quảng Ninh
20 Kiên Cố -  Bãi Cháy, Hạ Long , Quảng Ninh
21 Phúc Lạc - Yết Kiêu, Hạ Long, Quảng Ninh
22 Phúc Tuệ - Bãi Cháy, Hạ Long , Quảng Ninh
23 Phúc Truyền - Yên Thọ, Đông Triều - Quảng Ninh
24 Phúc Linh - TVTL Giác Tâm, Vân Đồn, Quảng Ninh
25 Giác Ngộ - Hạ Long, Vân Đồn, Quảnh Ninh
26 Phật Từ - Hạ Long, Vân Đồn, Quảng Ninh
27 Chánh Pháp  - Đình Bản, Từ Sơn, Bắc Ninh
28 Thanh Thạnh - Chùa Tiêu Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh
29 Thanh Sơn - Chùa Duệ Khánh, Tiên Du, Bắc Ninh
30 Chánh Tín - Hàm Rồng, Thanh Hóa
31 Tuệ Sơn - Chùa Vồm, Thiệu Hóa, Thanh Hóa
32 Phước Hải - Tx, Phước Hải, Sầm Sơn, Thanh Hóa
33 Tây Thiên - TVTL Tây Thiên, Tam Đảo , Vĩnh Phúc
34 Thanh Tín - Tam Đảo, Vĩnh Phúc
35 Thành Phúc - Vĩnh Trường, Vĩnh Phúc
36 Thành Trí - Chùa Dọc Thông, Tam Đảo, Vĩnh Phúc
37 Thanh Tâm - Thiền Tự Giao Sơn, Tam Đảo - Vĩnh Phúc
38 Thanh Bình - Tháp Bình Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc
39 Thanh Giác - Quảnh Cư, Lập Thạch, Vĩnh Phúc
40 Thanh Huệ - Mê Linh - Hà Nội
41 Thanh Xuân - Thanh Xuân -  Hà Nội
42 Thanh Ba - Chùa Thanh Ba, Phú Thọ
43 Phúc Đức - Chùa Phúc Đức, Phú Thọ
44 Phúc Hỷ - Lâm Thao, Phú Thọ
45 Phụng hoàng – TV Trúc Lâm, Đà Lạt
46 Đông Giác - Cát Tiên, Lâm Đồng
47 Đông Thiền - Cát Tiên, Lâm Đồng
48 Đông Nguyên - Madagui, Lâm Đồng
49 Đông Tuệ  -  Bảo Lộc, Lâm Đồng
50 Bảo Định  - Buôn Hồ, Đăk Lăk
51 Viên Giác – Thiên Tự Viên Giác, Nha Trang
52 Sen Trắng – TX Ngọc Giáng, Đà Nẳng
53 Tâm Minh - Chùa Linh sơn, Tánh Linh, Bình Thuận
54 Sen Xanh – Thiền Tự Viên Minh, Phan Thiết, Bình Thuận
55 Tường Vân - Phan Rí Cửa, Bình Thuận
56 Tâm Nguyên - Phan Rí Cửa, Bình Thuận
57 Tâm Viên - Phan Rí Cửa, Bình Thuận
58 Đạo tràng Trúc Lâm Phúc Đức  - Phan Thiết, Bình Thuận
59 Phật Hiền – Phan Thiết, Bình Thuận
60 Đạo tràng Trúc Lâm Chánh Thiện - Tánh Linh- Bình Thuận
61 TVTL Viên Ngộ, Phan Rang, Ninh Thuận
62 Phật Đạo – Nhơn Trạch, Đồng Nai
63 Phật Tánh – Chùa Bửu Phước, Vĩnh Cửu, Đồng Nai
64 Tuệ Phát – Nhơn Trạch, Đồng Nai
65 Tỉnh Giác – Định Quán, Đồng Nai
66 Phật Tâm – Định Quán, Đồng Nai
67 Đông Quang – Định Quán, Đồng Nai
68 Phật Thông - Huyện Bù Đăng, Tỉnh Bình Phước
69 Chánh Tâm – Bình Châu, Xuyên Mọc, Bà Rịa Vũng Tàu
70 Phật Ân – Bà Rịa Vũng Tàu
71 Bồ Đề – TV Bảo Hải, Bà Rịa Vũng Tàu
72 Bồ Đề – TV Bảo Hải, Bà Rịa Vũng Tàu
73 Huệ Nhiên - Bà Rịa Vũng Tàu
74 Phật Đăng  - Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu
75 TL Phúc Trường - Thủ Dầu Một, Bình Dương
76 Thái Tuệ - Quận 8 - TP.HCM
77 Tuệ Tâm - Tuyền Lâm Quận 5, TP.HCM
78 Tâm Đức - Chùa Hưng Long , Quận 10, TP.HCM
79 Lộc Uyển - Quận 6, TPHCM
80 Đại Xã - 319 An Dương Vương, Quận 5, TP.HCM
81 Hưng Phát - Chùa Đại Hạnh, Quận 3, TP.HCM
82 Tuệ Quang - TV Tuệ Quang, TP.HCM
83 Đức Huệ - Chùa Đức Huệ, Nhà Bè, TP.HCM
84 Đạo Tràng Phật tử Phú Lâu Na - TP.HCM
85 Huệ Tánh - Gò Đầu, Tây Ninh
86 Bảo Đức - Cần Giuộc, Long An
87 An Thanh – Thủ Thừa – Long An
88 Phước Huệ – Bến Lức - Long An
89 Phật Minh – Chùa Phật Huệ, Bến lức, Long An
90 Trúc Lâm Bảo An  – Chùa Bảo An, Tân An, Ninh Kiều, Cần Thơ
91 Dũng Mãnh – Chùa Vĩnh Khánh, Vĩnh Châu, Sóc Trăng
92 Phật Trí – Chùa Đại Giác, Sóc Trăng
93 Phật Châu – H. Vĩnh Châu, Sóc Trăng
94 Phật Huệ – Thiền Tự Vạn Phúc, Bạc Liêu
95 Hưng Thiền - TX. Bạc Liêu
96 Phước Hưng - P Nhà Mát- TP. Bạc Liêu
97 Vạn Phúc  - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu
98 Vạn Thiện - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu
99 Vạn Thành - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu
100 Vạn Thông - Vĩnh Lợi - TP. Bạc Liêu
101 Vạn An - Vĩnh Trạch - TP. Bạc Liêu
102 Phật Duyên – Chùa Linh Quang H. Mỏ Cài, Bến Tre
103 Phật Hải  - Tân Hồng - Đồng Tháp
104 Tinh Tấn – Quan Âm Cổ Tự, Cà Mau

 

Mọi ý kiến góp ý, sửa đổi, bổ sung xin vui lòng email về địa chỉ: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

BBT

 

POURQUOI AI-JE CHOISI DE VALORISER LE BOUDDHISME SOUS LA DYNASTIE DES TRẦN ? Thiền Thất Thường Lạc

POURQUOI AI-JE CHOISI DE VALORISER LE BOUDDHISME SOUS LA DYNASTIE DES TRẦN ?

Texte vietnamien du Maître thiền, Vénérable THÍCH THANH TỪ
Extrait du livre « Les Trois Questions Essentielles Dans Ma Vie De Moine »

Traduit par Diệu Anh
Revu par le Groupe Saddharma [Source]

Pendant presque dix huit siècles, du IIème au XXème siècle, l'histoire du bouddhisme vietnamien a connu des périodes fastes et des périodes de déclin. Comme nous faisons partie d'une génération descendante, nous éprouvons la nécessité de faire redécouvrir à notre époque contemporaine la meilleure période du bouddhisme vietnamien afin de le revaloriser aux yeux des moines et moniales ainsi qu’aux bouddhistes laïcs vietnamiens pour qu’ils puissent suivre la voie. Il s'agit là d'une lourde responsabilité. Ayant bien assimilé la sagesse de la pratique bouddhique au vu de la bonne utilisation des deux unités de principe et de circonstance propice, nos moines bouddhistes auront le privilège d’aborder le courant de la voie bouddhique actuelle, de repérer dans l’histoire du bouddhisme vietnamien l’épisode approprié qui peut s’adapter au rythme de la conjoncture actuelle du pays.

Nous nous efforçons de porter sur nos propres épaules cette importante tâche. C'est ainsi qu'après plusieurs années de réflexion, j'ai pris la décision de choisir le bouddhisme sous la dynastie des Trần comme une passerelle dans la reconstruction du bouddhisme du Vietnam actuel. Une telle décision s’appuie sur de nombreuses raisons.

I. REVALORISER LE BOUDDHISME VIETNAMIEN

1.1 Période De Déclin

Entre le milieu du XIXème siècle et celui du XXème siècle, au Vietnam, le bouddhisme a connu l'épisode le plus sombre de son histoire, car durant presque un siècle, notre pays était sous la domination française, interdisant tout regroupement collectif, toute religion à caractère national. Comme le bouddhisme était intimement lié au peuple vietnamien, les dominateurs déployaient tous les moyens de restriction possibles afin de déprécier la fidélité du peuple et de le soumettre. C'est ainsi que durant cette période, les éminents sages se retiraient peu à peu sans pouvoir former de futurs successeurs. Dans les pagodes, il n'y avait plus de talentueuses personnalités vertueuses pour enseigner, mais d’autres individus qui, de plus en plus nombreux, "s'abritent derrière Bouddha/Ẩn dương nương Phật", ou qui se réfugient sous "le couvert de la miséricorde/Núp bóng từ bi" comme moyen de survivre. Ecoutez ce chant populaire pour en prendre conscience:

                    Quelle tranquillité d'être gardien de pagode,
                    A psalmodier des Sūtra, invoquer Bouddha et avoir plus de vivres qu’il ne faut pour sa subsistance.
                    Que Bouddha ne joue pas le mauvais tour de s'en aller,
                    Car pagode sans Bouddha, le gardien devra aussi la déserter.

En se réfugiant dans la pagode mais sans aucune motivation de pratiquer le Dharma, ces individus sans scrupule, n'hésitent pas à commettre les pires actions. C'est en cela qu'ils causent des préjudices incalculables suscitant de nombreuses réactions ironiques et satiriques:

                    Pour la vie de moine, Bouddha recommande le régime végétarien,
                    Alors l’on peut manger de la viande de chiot et non du chien…

C'est ainsi que les pagodes se transforment en refuge familial d’individus pour qui, les seuls moyens d'existence se résument à "se mettre à l'abri, sous le couvert de la miséricorde/Núp bóng từ bi". Alors, pour exprimer les mécontentements, les profanes profèrent des railleries telles que:

                    L’épouse du moine s’occupe de ses affaires,
                    Sa tunique noire, son chapelet, sa belle maisonnette
                    Pour qu'il puisse mener une vie heureuse…

Durant cette période de déclin du bouddhisme vietnamien, la majorité des gens entraient en religion soit après des échecs personnels ou par dépit amoureux ou encore pour cause de maladie, de vieillesse... De tels états d'esprit influençaient fortement la vie littéraire de l'époque. Paraissaient alors en abondance des romans et des pièces de théâtre ayant pour thème la vie affligeante des religieux et religieuses de cette catégorie. Même à l'heure actuelle en 1977, certaines personnes persistent à croire que c'est le désappointement, la déception amoureuse.... qui ont motivé les jeunes gens à se faire moines ou moniales. Il n’y a ni égard ni déférence envers les moines bouddhistes. Avec un tel état d’esprit, comment pourrait-on avoir encore de la considération pour les enseignements de Bouddha ? Voilà la douloureuse question qui m'a incité à œuvrer pour la restitution du bouddhisme vécu sous la dynastie des Trần.

1.2 Le Roi Devenu Moine

En Inde un prince quittait sa famille pour la quête de la voie de la libération afin d'adoucir les souffrances des êtres vivants. De même au Vietnam un roi délaissait son trône et se retirait dans les hautes montagnes pour se consacrer à la pratique spirituelle afin de pouvoir apporter de l’aide à son prochain. Si un prince indien sacrifiait richesse et gloire, y compris le futur trône d'empereur, à la recherche de la Voie qui permettrait de délivrer les êtres vivants de toute souffrance, cette Voie devrait être sublime et transcendante.

Longtemps après, au Vietnam, le roi Trần Nhân Tông, ayant bien saisi l’essence du bouddhisme, abandonna son trône au sommet de sa gloire au profit de son fils, et se fit ordonner moine. Si le bouddhisme n'est pas sublime et extraordinaire, comment a-t-il pu amener un roi à "déconsidérer le trône doré comme une vieille sandale déchirée", à troquer le manteau royal contre l'habit de moine, et enfin à se retirer pour sa vie de moine dans la montagne ?

En Inde comme au Vietnam, le bouddhisme possède une force exceptionnelle au point de convaincre un prince et un roi de sacrifier leur vie sociale radieuse pour une vie austère vouée à la pratique de perfectionnement de soi. Au Vietnam, sous la dynastie des Trần, l'ascension du bouddhisme est prodigieuse. Deux événements marquants de cette période en témoignent : le roi lui-même et le lauréat des concours impériaux/Trạng Nguyên se retirèrent pour l’ordination bouddhique. Leur consécration a permis aux religieux de ce temps de retrouver leur dignité d'antan, tout en redorant l'emblème bouddhique. En évoquant la qualité exceptionnelle du bouddhisme à l'époque des Trần, nous n’aspirons qu’à revaloriser le bouddhisme vietnamien actuel.

1.3 Le Premier Patriarche Vietnamien Du Bouddhisme Thiền Tông

Au Vietnam, du VIIème siècle au XVIIIème siècle, la propagation du bouddhisme était assurée par les différentes lignées de Méditation/Thiền Tông. La plupart des Voies descendantes de Méditation répandues au Vietnam sont venues de Chine, telles que la lignée « Tỳ Ni Đa Lưu Chi », la lignée « Vô Ngôn Thông » et la lignée « Thảo Đường ». La plupart des maîtres fondateurs de chacune d'elles sont d'origine chinoise, ou indienne, à l'exception de la lignée « Trúc Lâm/ Forêt de bambou du mont Yên Tử » dont le fondateur Trúc Lâm Đại Đầu Đà est bien légitimement un vietnamien. Etant donné qu'un maître vietnamien est plus communicatif et mieux approprié pour prodiguer un enseignement plus adapté à ses compatriotes, il aurait répondu plus justement aux souhaits, aspirations, habitudes et besoins spirituels des bouddhistes vietnamiens.

II. L'EVEIL N'EST PAS LE PRIVILEGE SPECIFIQUE DES RELIGIEUX, LES LAÏCS PEUVENT EGALEMENT Y ACCEDER PAR LA PRATIQUE

2.1 Le Roi Trần Thái Tông (1218-1277)

Voici le premier roi de la dynastie des Trần, un roi naturellement attaché au bouddhisme. Ayant vécu des situations difficiles et douloureuses, il décida de se réfugier au mont Yên Tử en 1236 avec l'espoir de suivre l’enseignement du maître Viên Chứng qui résidait à la pagode Hoa Yên. En réponse à la sollicitation du roi, ce maître disait: "Je ne suis qu'un vieux moine vivant depuis longtemps dans ce lieu sauvage. Mes os sont devenus rigides, mon visage émacié. Je me contente de légumes et de quelques marrons pour me nourrir, de l'eau de montagne pour me désaltérer et de la forêt comme lieu de méditation. Mon esprit est aussi léger qu’un nuage ballotté par le vent. Votre majesté! qu'espérez-vous trouver en quittant votre position de maître suprême pour venir dans cet endroit montagneux et sauvage ? "

Le roi lui répondit: "Mes parents m'ont abandonné dès ma tendre enfance. Très tôt, je suis devenu un orphelin esseulé, sans appui. De plus, préoccupé par l'idée de la non-permanence des institutions royales antérieures avec leurs décadences et ascensions toujours fluctuantes, je suis venu ici, dans cette montagne reculée avec l’unique intention d'acquérir la bouddhéité et je n'espère rien d'autre. "
Viên Chứng répondit : "Bouddha ne réside pas dans la montagne, il est plutôt présent dans notre esprit. Dès que celui-ci demeure silencieux et omniscient, cette connaissance est la bouddhéité. Maintenant, si votre majesté réalise cet état d’esprit, vous deviendrez immédiatement Bouddha, sans nul besoin de chercher à l’acquérir ailleurs."

Peu après, le premier ministre Trần Thủ Độ accompagné d'un régiment royal partit à la recherche du roi. Il le retrouva au mont Yên Tử et le persuada le revenir au palais. Sur les insistances de son premier ministre, le roi demanda l'avis du maître Viên Chứng qui conseilla: "Un roi se doit de considérer le désir de son peuple comme sien. A présent, si le peuple souhaite votre retour auprès de lui, vous ne pourrez pas agir autrement. Cependant, que cela ne vous disperse pas de renforcer votre quête bouddhique en approfondissant l’étude des Sūtra."

Le roi se trouva donc contraint de revenir auprès de son peuple et de continuer à régner. Durant plus de dix années, dès qu’il disposa des moments libres, il invita d’éminentes personnalités bouddhistes à se rendre au palais pour s’enquérir de leur connaissance religieuse, en particulier sur l’essence de la méditation. Le roi racontait: « Je lis souvent le sutra du Diamant, arrivé à la phrase "Délivré de toute attache, la bouddhéité apparaît/ Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", je dépose le livre canonique, et en la murmurant, subitement l’éveil me saisit.» Aussitôt j’ai transcrit cette illumination en cantique nommé "Guide de la Méditation".

Même en pleine fonction de souverain, le roi continuait à approfondir l’enseignement bouddhique et à pratiquer la méditation jusqu'à l'Eveil. C'est une preuve suffisante pour affirmer que c'est le manque de détermination et non les circonstances multiples et préoccupantes qui rendent la pratique difficile à réaliser. Qui peut prétendre avoir des préoccupations et des responsabilités plus complexes qu’un roi, surtout un roi intensément préoccupé de l’avenir de son pays ! Etant fermement déterminé à se perfectionner, ce roi Trần est parvenu à atteindre l'Eveil. Voilà un brillant modèle exemplaire à suivre sur notre chemin du perfectionnement.

En 1257, lorsque les Mongols/Nguyên Mông envahirent notre pays, le roi Thái Tông commandait lui-même les troupes sur plusieurs fronts. Il était présent à tous les endroits périlleux, ce qui maintint considérablement le moral des soldats et les incita à combattre vaillamment. Au début de l'année 1258, leurs troupes avaient finalement combattu avec succès contre les envahisseurs et chassé les Mongols qui s'enfuirent à Vân Nam. Ce roi est un véritable maître Thiền, très imprégné du bouddhisme. Il a maintes fois écrit des cantilènes ayant pour but d'éviter d'ôter la vie des autres:

                        Les morts bien enveloppés dans des sacs de couverture,
                        Redoutaient tous la mort et aimaient la vie.
                        C’est pourquoi les Saints et les Sages depuis longtemps
                        ne souhaitaient pas voir mourir ceux qui préfèrent vivre.

Pourtant, lors de l’envahissement des Mongols, il avait dû commander ses troupes pour combattre les ennemis, il avait sûrement une raison à cela.

Après avoir cédé le trône à son fils, il se retira dans la région montagneuse Vĩ Lâm, ancienne capitale Hoa Lư, y construisit la cabane Thái Vi où il se réfugiait pour sa pratique spirituelle tout en prodiguant des conseils utiles aux habitants. Il les incitait à observer les Cinq Préceptes, dont le troisième a été commenté comme suit:

                        Joues discrètement parfumées, visage satiné comme une pêche épanouie.
                        A les voir, les yeux s’y sont rivés et l'esprit est légèrement ébranlé.
                        Pourtant cela n'est qu'une enveloppe charnelle malodorante,
                        Capable de découper les entrailles humaines sans nul besoin de couteau.

Les quatre états de naissance, vieillesse, maladie et mort, ont été souvent rappelés dans son enseignement. Dans les Sūtra, ces quatre états sont dénommés "les Quatre Monts" dont le deuxième a été décrit comme suit :

                        La vie humaine est tellement éphémère,
                        Qu'il s'agisse d'un être humain ou divin, aucun espoir de prévoir s'il mourra jeune ou vieux.
                        A la tombée du jour, l'ombre se couche sur les champs de mûriers
                        Le corps est fragile comme le jonc ou le saule en automne.
                        A cette époque, les cheveux de Phan Lang étaient encore noirs
                        Aujourd'hui les cheveux de Lã Vọng sont déjà blancs.
                        La vie continue à tourbillonner sans regret
                        Comme le soleil se couchant derrière la montagne ou l’eau qui suit son cours.

Quelques Observations Sur Le Roi Trần Thái Tông

Si l’on compare le roi Trần Thái Tông à l’empereur de Chine Lương Võ Đế, on peut mettre en valeur les caractéristiques suivantes:

Le roi Lương Võ Đế (464-549) était un fervent bouddhiste, un assidu prêcheur des sutras tel que Phóng Quang Bát Nhã/Emission de lumière de la Sagesse, un commentateur talentueux des Sūtra … Toutefois en l'an 520, le patriarche Bodhidharma/Tổ Bồ Đề Đạt Ma est venu en Chine. Il a rencontré le roi, lui a parlé de la Méditation, sans l'avoir convaincu. Bodhidharma continua alors son chemin vers le nord où il résida à la pagode Thiếu Lâm. A la fin du règne de Lương Võ Đế, Hầu Cảnh complotait pour le détrôner. Avec ses régiments, il assiégea la capitale Kiến Khang. Malgré les propositions de contre-offensive de ses ministres, le roi s'y refusa et même donna l'ordre de fermer les portes de la ville, puis se contenta de prier en vue d'éloigner l'ennemi. Il n'avait pas obtenu le résultat souhaité et finit par perdre son pays, y compris sa propre vie.

Contrairement à Lương Võ Đế, le roi Trần Thái Tông, bien qu’ayant déjà réalisé la conscience thiền, n’avait pas hésité à conduire ses troupes pour lutter contre les envahisseurs mongols, et avait réussi à chasser l'ennemi hors de son pays qui retrouva enfin la paix. Le réflexe approprié du roi Trần Thái Tông lui a apporté succès et possibilité de continuer paisiblement sa pratique de la méditation.

Voilà une démonstration probante mettant en relief la différence des résultats obtenus par ces deux rois épris de bouddhisme selon leur prise de position face à des situations similaires.

Quand la citadelle fut assiégée par l'ennemi, au lieu de haranguer ses troupes pour la défendre, le roi Lương Võ Đế les incita à la prière avec l’intention de chasser l'ennemi. Ainsi, il s’est servi de la religion pour gérer un conflit politique, ce qui a causé sa perte. Quant au roi Trần Thái Tông, il a su faire la part des choses. Il n'imposa pas les doctrines de la religion, ce qui lui permit de sauver son pays du danger. La pratique bouddhique consistant à perfectionner les vertus et à développer la sagesse relève du domaine de la religion et d’un choix personnel. Quand le pays fut envahi par les ennemis extérieurs, tout le peuple se mobilisa pour lutter. Le chef souverain fit appel au patriotisme de son peuple et commanda l’état-major pour défendre son pays. Ceci relève du domaine de la politique. Il s’avère fondamental de savoir faire la distinction entre le domaine religieux et le domaine politique. Le bouddhiste ayant pris refuge auprès des Trois Joyaux se doit d’observer les Cinq Préceptes. Il se rend fautif s'il commet un acte de tuerie car cela concerne son propre perfectionnement et relève du domaine religieux. Mais lorsque le pays est envahi, la responsabilité de chaque citoyen est de se mobiliser pour le défendre. Ainsi il aura assuré son devoir de citoyen, même si durant les batailles, il arrive que les soldats bouddhistes sont obligés de tuer leurs ennemis. Cet acte ne devrait pas être assimilé à la simple transgression du premier précepte, celui qui consiste à ne pas tuer.

Quoique le roi Trần Thái Tông ait poursuivi inlassablement sa pratique spirituelle, il a réussi durant toute sa vie à assumer sa fonction, celle de protéger et de construire son pays. En temps de guerre, il a su se sacrifier pour sauver son pays et son peuple, mais en temps de paix il n'a pas hésité à prodiguer de bons conseils à ses sujets, malgré son grand âge. Il leur enseignait la meilleure façon de défricher la terre, de créer des exploitations agricoles, tout en leur montrant la bonne pratique bouddhique afin de réaliser leur propre perfectionnement. Le bon roi Trần Thái Tông se souciait aussi bien du bien-être matériel de ses administrés ainsi que de leur confort moral et spirituel. Conscient que l'équilibre physico-psychique est la base même d'une existence réellement heureuse, le roi appliquait les principes bouddhiques à la vie courante de façon très positive.

Voilà un roi bouddhiste authentique, très imprégné de l'enseignement de Bouddha, qui possédait une connaissance profonde et vaste du Dharma, mais qui se contentait seulement de quelques principes bouddhiques de base afin d’enseigner à ses sujets les bonnes conduites dans la vie courante. Par exemple, il encourageait l'observance des Cinq Préceptes permettant d’assurer l'ordre et la sécurité dans la société. Avec des rappels incessants sur la loi de la causalité, il incitait à la pratique des bonnes actions, à l'ouverture du cœur de compassion envers les indigents, à la solidarité et à la tolérance envers autrui. En revanche, lorsqu’il s'agit de régner en tant que monarque, le roi eut recours au confucianisme pour étatiser le pays, en proférant des lois permettant la prévention ou la lutte contre les infractions. En 1238, le roi a organisé pour la première fois un concours spécial pour sélectionner les lettrés de haut niveau/Thái học sinh, cela fut réitéré une fois tous les sept ans. En 1253, il établit le concours "Les trois lauréats du grand concours impérial/Tam Khôi" : Le premier lauréat/ Trạng Nguyên, Le deuxième lauréat/ Bảng Nhãn et Le troisième/ Thám Hoa… Ayant su ainsi appliquer à bon escient les principes religieux dans les affaires de l’Etat, le roi a réussi à faire du Vietnam de son temps, un pays paisible et prospère pour longtemps.

2.2 Tuệ Trung Thượng Sĩ, Un Haut Fonctionnaire (1230-1297)

Le commandant de l'armée Trần Tung, fils de Trần Liễu, a commandé à deux reprises les troupes pour combattre les Mongols. A la fin de la guerre lorsque le pays a retrouvé la paix, il se retira au fief Tịnh Bang/Domaine paisible devenu village "Vạn Niên/10.000 ans" où il s'adonnait à la pratique de la méditation sous la direction du maître Tiêu Dao à la pagode Phước Đường. En témoignage de son respect pour lui, le roi Thánh Tông lui a décerné le titre de "Tuệ Trung Thượng Sĩ", tout en lui confiant l'éducation religieuse, en particulier la pratique de la méditation, de son fils le prince Trần Khâm. Cet homme exceptionnel méritait bien les éloges du futur roi Trân Nhân Tông. Dans un extrait du « Recueil sur les paroles célèbres de Tuệ Trung Thượng Sĩ », il écrivit : "Quel esprit et quelle tenue de Thượng Sĩ dégageant une apparence solennelle, aux gestes dénotant une droiture et une prestance surtout lorsqu’il se concentre à merveille sur la méditation sous une brise rafraîchissante au clair de lune ! Les éminents sages de l’époque disaient tous de Tuệ Trung que c'était très difficile d'estimer sa valeur, vu la profondeur de ses connaissances et la clarté de sa sagesse dans des circonstances que ce soit dans des situations favorables ou difficiles!". Des laïcs venaient solliciter son enseignement sur les principes de la méditation. Les moines également lui rendaient visite et s'enquéraient de ses précieux conseils. Cet éminent personnage enclin au bonheur de la solitude était un fort partisan de l'indépendance. Aussi l'exprimait-il clairement dans l’œuvre intitulée « Joies de vivre en harmonie avec la nature »:

                            Les lacs et mers ne m’ont jamais troublé l’esprit clair,
                            Les jours et les mois passent vite comme la flèche ou la navette.
                            Mes moyens d'existence se résument à la brise fraîche et au clair de lune,
                            La montagne verte et la mer bleue comblent mon existence.
                            Dès l'aube je déploie les voiles vers les océans lointains,
                            Le soir venu, je lève ma flûte narguant vent et nuage,
                            Pour remercier les Trois Joyaux qui n’ont fourni aucune nouvelle
                            A part la barque abandonnée sur cette plage de sable.

La vie de ce grand homme fut simple et modeste, sans gloire ni lucre, son cœur parfaitement équanime à tout moment. Le quatrain suivant "Liberté et Equanimité/Tự Tại" le montre bien:

                            Les liserons et les souris envahissent le terrain en l'absence de l'homme.
                            A l'âge avancé, je me retire parmi les monts et les forêts.
                            Dans ma chaumière aux portes de bois, ma vie s'écoule paisiblement.
                            Devant toute dualité fausse ou vraie, mon esprit demeure équanime.

Lorsque la nation fut menacée, le grand homme partit au front pour défendre son pays et sauver son peuple. En temps de paix, il se contentait de vivre en harmonie avec les principes de la méditation, de s'adonner en toute liberté aux charmes tranquilles des lacs et océans, aux délices de la liberté des contrées sauvages, mais toujours prêt à venir en aide à autrui en cas de nécessité. La belle vie de Thượng Sĩ est à l'image d'un tableau dessiné à l'encre de chine.

2.3 Le Roi Trần Thánh Tông ( 1240-1290 )

Fils du roi Trần Thái Tông, il accéda au trône en 1258, sous le règne Thiệu Long. Il suivit l'enseignement de la méditation du moine national Đại Đăng. C'est au cours de la lecture du Recueil des enseignements du maître Đại Huệ que le roi fut pris d'un accès d'émotion qu'il exprima dans cette stance:

                        Depuis trente ans, j’ai brisé les tuiles et perforé les carapaces de tortues.
                        Que de fois, j'ai transpiré au cours de séances de méditation.
                        Jusqu'au jour où j’ai découvert mon vrai visage
                        Et me suis aperçu que depuis toujours, il manquait la moitié de mon nez.

Parlant de la Méditation, le roi Trần Thánh Tông disait : " Les manifestations de l’esprit sont claires et silencieuses, sans allée ni venue, sans augmentation ni diminution, flottant sur tout phénomène grand ou petit, qu’il soit favorable ou défavorable, mouvant comme le nuage ou tranquille comme le mur, léger comme une plume ou pesant comme un rocher. L’esprit s’expose dans son intégralité sans objet ni trace à tel point qu’il nous est difficile de le sonder ; mais pour vous j’ai tâché de le décrire aussi clairement que possible " [Extrait de Thánh Đăng Lục.]

A travers ses écrits, nous voyons que le roi Thánh Tông a déjà profondément pénétré l’essence de la méditation lorsqu’il était encore sur son trône, en pleine fonction, au milieu de la Cour, sans avoir besoin de se réfugier dans la forêt ou dans la montagne pour se perfectionner, ce qui ne l'a pas empêché d'atteindre l'Eveil. C'est justement ce que le maître Viên Chứng a dit : "Bouddha est en notre esprit". A celui qui a su s’observer jusqu’aux tréfonds de son esprit atteindra un jour l'Eveil. Il est évident que se perfectionner par la pratique de la méditation ne constitue aucunement un obstacle aux préoccupations de ce monde. Tous les êtres peuvent bénéficier de cette possibilité de perfectionnement. Voilà la preuve tangible démontrant que, sous la dynastie des Trần, la pratique de la méditation a bien abouti à des résultats très positifs.

III. BUT DE LA LIGNEE DE MEDITATION TRÚC LÂM YÊN TỬ

3.1 Le Premier Patriarche Trúc Lâm (1258-1308)

Il est le fils de roi Trần Thánh Tông et de la reine mère Nguyên Thánh, nommée Trần Khâm. Devenu adulte il apprit la pratique de la méditation sous la direction du maître Tuệ Trung à qui son père l'a confié pour son éducation religieuse. Un jour, pour répondre à sa question sur "l'obligation essentielle de la méditation", Tuệ Trung disait : "S'éclairer soi-même est le devoir primordial, ne pas attendre d’aide extérieure/Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc". Ces paroles lui ont ouvert l'accès à la voie, aussi a-t-il reconnu Tuệ Trung comme son maître.

A l'âge de 21 ans (1279), il est devenu empereur sous le titre Trần Nhân Tông. A deux reprises en 1285 et en 1288, il a dû diriger ses troupes pour lutter contre les envahisseurs mongols et ramener la paix au pays. En l'an 1293, il céda le trône à son fils Trần Anh Tông et devint le Guide suprême du roi régnant/ Thái Thượng Hoàng. En 1299, il se fit ordonner moine à Yên Tử. Il portait le nom de " Le grand ascète de la forêt de bambous/ Trúc Lâm Đại Đầu Đà" et devint par la suite le premier Patriarche de cette lignée de Méditation Yên Tử. Tenant compte de l'origine de sa prise de conscience, l’Ecole de méditation Yên Tử a choisi comme guide la devise suivante : "Il est primordial de s'éclairer soi-même et de ne pas compter sur l'aide extérieure."

3.2 La Devise " Le Devoir De S'éclairer Soi-Même Sans Compter Sur Autrui" Vue A Travers La Vie De Bouddha, Son Dharma Ainsi Que Les Méthodes De Méditation Qui S’ensuivent.

3.2.1 Bouddha a établi la totalité de sa pratique spirituelle sur l’observance de la vision profonde

En l’occurrence pendant quarante neuf jours et nuits assis au pied de l'arbre Bodhi, Bouddha pratiqua la vision pénétrante et en atteignant l'Eveil, Il devint Bouddha. Le Bienheureux, fondateur du bouddhisme, a acquis l'Eveil grâce à la pratique de la vision pénétrante ; d’où le leitmotiv de "s’éclairer soi-même est un devoir primordial", et dans son accomplissement, Il ne comptait que sur lui-même, sans aucune aide extérieure ; d’où l’expression "sans compter sur autrui."

3.2.2 L'enseignement de Bouddha

Les quatre Tomes d’Āgama sūtra/Kinh A Hàm, les six cents volumes de Sūtra du Prajñā/Kinh Bát Nhã, le Sūtra du Lotus/Kinh Pháp Hoa… ne sortent pas du cadre de cette devise "S'éclairer soi-même…". Le Sūtra Āgama est basé sur la doctrine des "Quatre Nobles Vérités/Tứ Diệu Đế", et aucune des "Trente sept Rubriques auxiliaires de l’Eveil/ Ba mươi bảy Phẩm trợ đạo" n’a jamais omis de recourir à la pratique de la vision profonde. De tous les Sūtra de Prajñā, le Sūtra du Cœur est le condensé ultime dans lequel la sentence telle que "la pratique de la vision profonde des cinq agrégats permet de reconnaître leur vacuité propre" constitue la base du travail de perfectionnement. Le but exprimé dans le Sūtra du Lotus est de reconnaître la nature de Bouddha en soi. L'aventure du Misérable qui a retrouvé son richissime de père est bien l’allégorie de "l'éclairement de soi".

3.2.3 Toutes les méthodes de la Méditation Bouddhique sont basées sur la Vision profonde:

a) L'Ecole Theravāda
A l'heure actuelle, en matière de Méditation, l'Ecole Theravāda enseigne soit la Méditation sur les Quatre Etablissements de l’Attention/Thiền Tứ Niệm Xứ/Catvari-sṃṛṭiupasṭhānani, soit la Méditation de Vipassanā/Thiền Minh Sát Tuệ.
La Méditation sur les Quatre Etablissements de l’Attention comporte:
            ▪ L’Attention au Corps reposant sur la concentration de l'état d'impureté corporelle.
            ▪ L’Attention aux Sensations ayant pour trame la souffrance.
            ▪ L’Attention à l’Esprit basée sur son caractère impermanent.
            ▪ L’Attention aux Dharma/Phénomènes fondée sur leur Non-soi.

En somme la Méditation sur les Quatre Etablissements de l’Attention constitue un entraînement de l’éclairement de soi.
Quant à la Méditation de Vipassanā, elle tire profit d'abord de la parfaite conscience de la respiration, c'est-à-dire de la durée respiratoire et du rythme des inspirations et expirations… Ainsi concentré sur le mouvement respiratoire, le mental parviendra à se pacifier. Dans la foulée, le pratiquant développe sa vision profonde sur son entité physico-psychique, identifiant ainsi la non-permanence, la souffrance, la vacuité, et le non-soi comme faisant partie de la nature exacte des êtres et des phénomènes. Suivre la respiration et méditer sur la non-permanence du corps et de l'esprit… ne sont que des moyens habiles de "l’introspection permettant de s'éclairer soi-même. "

b) L'Ecole Mahayaniste est basée sur la vision profonde selon l’enseignement dans le Sūtra de Prajñā:

            ▪ Soit "la pratique de la vision profonde des cinq agrégats permettant de reconnaître leur vacuité propre" enseignée dans le Sūtra du Cœur.
            ▪ Soit "la visualisation pénétrante de tous les êtres et phénomènes qui ne sont que songes, chimères, écume, ombre, rosée et éclair…, donc illusoires et éphémères" dans le Vajracchedikā Prajῆāpāramitā sūtra/ Sūtra du Diamant/ Kinh Kim Cang Bát Nhã.

Ces deux modes de concentration de méditation ne sont autres que "l’éclairement de soi". Il en est de même pour les "Trois Méditations/Tam quán" qui ont été mises au point par le maître Huệ Văn, suite à la réalisation de sa conscience zen lors de l’étude du Madhyāmika Śāstra/Trung Quán Luận. Puis le Maître enseigna la méthode des Trois Méditations à son disciple Huệ Tư (515-577) qui fonda par la suite "l'Ecole Mahayaniste des Trois Méditations". Cette méthode s'appuie sur la fameuse stance suivante du Madhyāmika Śāstra: "Tous les phénomènes s’interpénètrent dans un réseau de multiples interdépendances. Or tout ceci découle de la vacuité. Comme ils sont aussi l’expression d’une identité apparente, il en résulte une vision de la Voie du Milieu". D’où la Méthode d’une Triple Méditation : la concentration sur la vacuité/Không quán, la concentration sur l’illusion/Giả quán et la concentration sur la Voie du Milieu/Trung đạo quán. La pratique de cette triple méditation revient également à "l’éclairement de soi".

c) Le Bouddhisme Thiền Tông repose effectivement sur le "principe de s’éclairer soi-même". Le premier patriarche Bodhidharma a prôné cette devise: "Aller directement à l’esprit de l'homme afin de découvrir la vraie nature de Bouddha en soi/ Trực chỉ nhơn tâm kiến tánh thành Phật". En effet, sans cette vision profonde, comment peut-on voir clair en soi? Et sans avoir découvert sa vraie nature, on n’aura pas la possibilité de reconnaître la bouddhéité, car effectivement Bouddha n'est pas en dehors de soi, mais dans l’esprit de chacun de nous, selon le bouddhisme Thiền Tông.

3.2.4 Pourquoi doit-on s'observer pour mieux s’éclairer soi-même ?

Le pratiquant bouddhiste se doit de connaître son corps et son esprit tels qu’ils sont. Les êtres se méprennent d’eux-mêmes car toutes leurs activités ne servent qu’à assouvir le moi alors qu’ils ignorent complètement qui ils sont. A cause de l’attachement mental provenant de l’ignorance, ils ont commis des erreurs qui engendrent des souffrances à eux-mêmes et à autrui. S’ils se donnent la peine d'éclairer leur for intérieur afin de voir les choses telles qu’elles sont, alors toutes les idées préconçues seront anéanties. Ce serait une source de paix et de bonheur pour soi et pour les autres.
La vision profonde s’opère en deux temps:

a) Reconnaître parfaitement l’impermanence du corps et du mental

Ecoutez la stance intitulée "l’auto-recommandation à soi" de Tuệ Trung Thượng Sĩ:

            Les jours et les mois passent comme l'eau qui s’écoule, la fortune et la célébrité sont semblables aux nuages qui flottent.
            Le souffle du feu d’incinération éteint, tout être vieux ou enfant redevient poussière.
            L'esprit ainsi que son fluide mental quittent le corps comme dans un rêve.
            Dans sa vie courante, l'homme se laisse manipuler comme une marionnette.
            Toute la journée, il badine en cherchant à saisir les ombres…
            Dans les rêves nocturnes, beaucoup d'actions se trament ; mais une fois réveillé, tout est vide.
            Dans un songe, le grossier et le subtil se façonnent.
            Au réveil, il n’en subsiste plus rien…

Quant au patriarche Trúc Lâm, il décrivait ses sentiments dans la stance intitulée « Joies ressenties dans une cabane en montagne »:

                Des pensées bienveillantes ou malveillantes me quittent comme les fleurs tombées,
                Gloire et lucre refroidissent mon cœur sous la pluie nocturne.
                La pluie a cessé, la fleur est mise à nu, la montagne est silencieuse,
                L'oiseau a chanté une fois et c'est déjà la fin du printemps.

Le corps composé de ses quatre agrégats ainsi que l’esprit de lucre et la gloire, le vrai et le faux sont tous impermanents et illusoires. En prenant conscience de cela, le pratiquant parachève la réalisation de l’éveil. En revanche, l'être profane ne cesse de considérer sa forme physique et son esprit discriminant comme de vraies réalités, d’où la source intarissable de souffrances. Aussi sur le chemin du perfectionnement, il est essentiel de savoir "s'éclairer soi-même" pour avoir une vision juste de toutes choses.

b) Reconnaître la vérité immuable à travers un corps impermanent

Dans la composition sur "Les louanges de l’esprit du Bouddha/Phật tâm ca" de Tuệ Trung, il y a un passage disant ceci :

                    Pour saisir l’esprit, ne le cherchons pas à l'extérieur,
                    Sa nature profonde est telle quelle, vide et silencieuse.
                    Le Nirvāṇa, la naissance et la mort sont reliés artificiellement,
                    Les souffrances et le Bodhi sont de vains adversaires.
                    L’esprit est Bouddha et Bouddha est l’esprit,
                    De tout temps resplendit cette merveilleuse instruction.
                    A l'arrivée du printemps, les fleurs s'épanouissent naturellement,
                    Au retour de l'automne, l'eau devient profonde…
                    Calme, calme, calme, laissons-nous aller jusqu’aux tréfonds de nous-mêmes,
                    La source originelle de tous les dharmas se retrouve dans l’esprit de Bouddha.
                    Or l’esprit de Bouddha s’identifie au nôtre,
                    Ainsi soit-il de tout temps.
                    Méditer pendant la marche mais aussi en position assise,
                    Une fleur de lotus illuminera le fourneau…


Le patriarche Trúc Lâm disait aussi:

                    Ainsi donc Bouddha est en nous, inutile de le chercher ailleurs.
                    Oubliant notre nature originelle, nous cherchons le Bouddha extérieur,
                    Finalement je me suis rendu compte que Bouddha n'est autre que "moi".....

 [Extrait de la cinquième strophe de la poésie lyrique intitulée "La joie de la pratique spirituelle dans la vie courante"].

A travers les deux stances précitées, nous avons vu que l'éminent Tuệ Trung et le patriarche Trúc Lâm désignent tous les deux notre propre esprit comme la bouddhéité. Evidemment, il s’agit de l’esprit calme et omniprésent et non pas l’esprit discriminant muable et destructible. Ainsi au fond de chacun de nous, constitué par une entité physico-psychique tout à fait impermanente, il existe un esprit toujours serein et omniprésent à l'image d'une fleur de lotus d’une fraîcheur ardente dans un fourneau embrasé. Seulement la plupart du temps, nous oublions notre bouddhéité et nous recherchons le Bouddha à l'extérieur, alors qu'il nous suffit de retourner à la lumière en nous-mêmes. Nous prenons alors conscience que notre propre esprit est la bouddhéité.

IV. LA TOLÉRANCE ANIMANT LA CONDUITE DE LA LIGNÉE DE MEDITATION DES TRẦN

4.1 La Tolérance Inter-Religieuse Au Sein Du Bouddhisme

Sous la dynastie des Trần, la Méditation constitue la principale discipline enseignée, mais parallèlement la voie de la "Terre Pure/Tịnh Độ" se développe aussi librement. La voie de la "Terre Pure " présente deux aspects : Principe/Lý et Pratique/Sự.

La Pratique de la Terre Pure/Sự Tịnh Độ implique la croyance ferme/Tín à l'existence du Monde de Félicité se trouvant à l'ouest de l'univers et régenté par le Bouddha Amitābha. En invoquant avec ferveur/Hạnh le nom du Bouddha afin de le solliciter/Nguyện notre re-naissance au Monde de Félicité, alors au moment du trépas, le Bouddha Amitābha nous accueillera dans son royaume.

Le Principe de la Terre Pure/Lý Tịnh Độ prescrit que "la nature même d'Amitābha symbolise la Terre Pure" et que "l’esprit étant équanime, l’espace environnant est pur". Ce qui signifie que lorsque "notre esprit a été pacifié, la terre est calme" et que lorsque "notre nature profonde est claire, c’est Bouddha Amitābha
lui même". Le patriarche Trúc Lâm disait :

                    …La Terre Pure n’est autre que l’esprit pur,
                    Inutile de s’interroger encore sur l’Univers de l’Ouest.
                    Amitābha est la source de lumière rayonnante,
                    Inutile de chercher à renaître au royaume de la Félicité.

[Extrait de la deuxième strophe de la poésie lyrique intitulée "La joie de la pratique spirituelle dans la vie courante"].

Le Bouddhisme Thiền Tông partage le Principe de la Terre Pure et n’adhère pas à la Pratique de la Terre Pure. Le maître Vô Ngôn Thông a trouvé l'Eveil subit en écoutant le patriarche Bá Trượng qui dit : "Lorsque la Terre-Esprit est vacuité, la lumière du soleil rayonne/ Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu". Ce qui signifie que lorsque la terre de l’esprit est vacuité, l’esprit s’éclaire lui-même et le milieu environnant est calme. La lumière du soleil qui rayonne, c’est la nature propre du Bouddha Amitābha. Le terme "Amitābha" se traduit par "lumière infinie" qui, en langage zen, symbolise "la lumière du soleil qui rayonne." Ceci prouve que sur le Principe, les pratiquants de la "Terre Pure" et ceux de la "Méditation" poursuivent en effet le même objectif final.

4.2 L'origine Commune Des Trois Doctrines/Tam Giáo Đồng Nguyên

La thèse de l’origine commune de la triple doctrine fut émise sous la dynastie des Song en Chine. Au Vietnam sous la dynastie des Trần, elle a été reconnue comme un moyen d'allier les trois doctrines: le Bouddhisme, le Confucianisme et le Taoïsme. Le peuple vietnamien a subi la profonde influence de cette triple doctrine. Dans le but de rassembler le peuple tout entier, sous la dynastie Trần, l’on associait le Bouddhisme au Confucianisme et au Taoïsme. En effet, si l’entraînement de ces trois doctrines dans la pratique du perfectionnement est différent, cela ne constitue que des moyens apparents, leur but final converge. C’est ce qu’on a dit à propos de leur origine commune. Il s’agit de l’esprit de tolérance et d’humilité du bouddhisme Thiền Tông, car à cette époque, tout le monde savait que monarque et mandarins avaient presque tous suivi les enseignements bouddhistes.

V. SOUS LA DYNASTIE TRẦN, LE BOUDDHISME S'EST MONTRÉ PARTICULIEREMENNT PRAGMATIQUE ET POSITIF

5.1 Réalisme Bouddhique

La devise du bouddhisme de l’époque des Trần fut : "Tel esprit, tel Bouddha/ Tức tâm tức Phật". L’esprit "ignorant" incombe aux profanes, l’esprit éveillé au Bouddha. Bouddha n'est pas ailleurs, il réside au sein de notre cœur. Il nous suffit de laisser se décanter notre cœur tourmenté pour que l’esprit éveillé apparaisse. Au début des "Louanges de l’esprit de Bouddha/Phật Tâm Ca" le maître Tuệ Trung disait :

                    Bouddha! Bouddha ! Bouddha ! Impossible de l'apercevoir,
                    Esprit! Esprit! Esprit! Impossible de le décrire.
                    Lorsque l’esprit apparaît, Bouddha apparaît,
                    Lorsque l’esprit disparaît, Bouddha disparaît.
                    Méconnaître l’esprit et adorer Bouddha est chose futile,
                    Ignorer Bouddha et croire à l’esprit, quand saura-t-on la vérité ?
                    Pour distinguer l’esprit de Bouddha de l’esprit impermanent,
                    Attendre la prochaine venue de Maitreya pour trancher !…

Bouddha, c'est l'Eveil. Aussi est-il insensé de rechercher la réalisation de l’éveil en dehors de son esprit, car c’est seulement en soi que l’on peut reconnaître le vrai Bouddha. Si l’on délaisse son esprit pour aller chercher ailleurs Bouddha, on ira vers le Bouddha des autres et non vers le sien. Evidemment, même si le Bouddha Maitreya intervient en ce monde, Il ne pourra pas résoudre ce problème surtout si l'on persiste à prendre son esprit impermanent et muable pour Bouddha.

Aussi le patriarche Trúc Lâm disait :

                    Que faire ! Pourvu qu'on saisisse l’esprit, rien d'autre à faire.
                    En maintenant sa nature éveillée, le mental sera pacifié.
                    En réprimant les pensées, le mental sera étouffé sans pouvoir s’éteindre.
                    Cesser toute idée de soi et d’autrui, voilà la vraie nature du Diamant,
                    Avidité et colère disparues, l’on retrouvera la connaissance parfaite de cet esprit merveilleux… (L’Eveil complet et parfait)
                    [Extrait de la deuxième strophe de la poésie lyrique intitulée "La joie de la pratique spirituelle dans la vie courante"].

Le Diamant/Kim Cương et l’Eveil complet et parfait/Viên Giác symbolisent notre vrai Bouddha. Si nous désirons le découvrir, il nous faudra dominer les pensées illusoires, éliminer l’idée de soi et d’autrui, cesser la convoitise, la colère et l’ignorance. Du fait de la présence de ces pensées illusoires, nous nous attachons à l’idée de soi et d’autrui, nous attisons la cupidité, la colère et l’illusion qui constituent une sorte de voile épais nous empêchant de reconnaître notre vrai Bouddha, tel un nuage dissimulant la lune. Pacifier cet esprit troublé et agité afin qu’il puisse retrouver sa nature calme et claire qui est l’esprit de Bouddha, constitue une pratique bien pragmatique. En effet, étant conscient de la vraie nature des choses, on agit en toute connaissance de cause et on s'assure ainsi de la réussite finale, sans avoir à attendre un appui quelconque venant de l'extérieur.

5.2 Positivité Bouddhique

En l'an 1304, le patriarche Trúc Lâm fit une longue marche parmi la population afin de lui prodiguer ses conseils sur l'observance des Cinq Préceptes et la pratique des Dix Bonnes Actions. Il a donc de manière positive introduit le bouddhisme dans la vie courante de son peuple, en commençant par éduquer l'individu qui servira de modèle à son entourage familial puis social et national. Les Cinq Préceptes préconisés par Bouddha ont pour objectif :

            ▪ La protection de la vie humaine en respectant le précepte de ne pas tuer.
            ▪ La préservation de la propriété d'autrui en respectant le précepte de ne pas voler.
            ▪ La défense du bonheur familial en évitant l’inconduite sexuelle.
            ▪ La garantie du prestige et de la valeur humaine en évitant les mensonges.
            ▪ La protection de la santé, de la sagesse de l’esprit et de l'ordre public en interdisant la consommation de boissons enivrantes. A l'heure actuelle, on doit ajouter l'opium, l’héroïne et tout stupéfiant. Si tous les citoyens observent ces Cinq Préceptes, le pays retrouvera une paix réelle et le peuple y vivra sans crainte ni angoisse. Bien au delà, le patriarche incitait la population à pratiquer les Dix Bonnes Actions réparties en trois groupes:

            ▪ Au niveau de maîtrise du corps, il conseille de ne pas tuer, de ne pas voler, de ne pas s'adonner à la luxure.
            ▪ Au niveau de maîtrise des paroles, il recommande d'éviter les mensonges, les médisances, les méchancetés, les paroles fallacieuses.
            ▪ Au niveau de pacification du mental, il enseigne la maîtrise de la colère, de l'avidité et de l’ignorance. Celui qui réussit à maîtriser ses gestes, ses paroles et ses pensées selon les Dix Bonnes Actions deviendra un sage. Un bouddhiste qui respecte les Cinq Préceptes tout en pratiquant les Dix Bonnes actions contribue à rendre la société meilleure et pacifique. Ainsi le bouddhisme pourra transformer réellement une situation malheureuse en situation heureuse, un être médiocre en un homme sage.

VI. LE CHEMIN POURSUIVI PAR LE BOUDDHISME VIETNAMIEN D'AUJOURD'HUI

Si d'aventure quelqu'un demande à un moine bouddhiste vietnamien à quelle lignée bouddhique il appartient, il sera certainement surpris car il ne saura que répondre. Pourquoi ?

6.1 Sa Pratique De Perfectionnement Se Résume A Deux Séances De Prières Quotidiennes

Depuis plus d'un siècle, au Vietnam les religieux résidants des pagodes s'évertuent à pratiquer deux séances de prières quotidiennes : une séance en début de soirée et une autre très tôt le matin. Au cours de la séance du soir, ils psalmodient le Sūtra Amitabha, suivi de la récitation du mantra invoquant la re-naissance dans l’Univers de l’Ouest/Chú Vãng Sanh, enfin ils évoquent le nom du Bouddha Amitābha. Très tôt le matin, ils récitent le mantra Śuraṃgama/Chú Lăng Nghiêm ou les dix mantras de la Compassion incommensurable ou Karamika/Đại Bi Thập Chú… Le jour où ont lieu des cérémonies spéciales telles que la prière pour les vivants/Cầu an et la prière pour les défunts/Cầu siêu, alors ils récitent d'abord le dhārani de la Compassion incommensurable, puis ils psalmodient le Sūtra adéquat. Avec de telles pratiques, on ne saurait dire à quelle lignée appartiennent ces pratiquants. Néanmoins la majorité des adeptes croient appartenir à la lignée de la Terre Pure, étant donné que celle-ci préconise la psalmodie du Sūtra Amitābha ainsi que l'invocation du nom de Bouddha Amitābha

. En revanche, la récitation du dhārani de la Compassion incommensurable et du mantra Śuraṃgama font plutôt partie des pratiques du Tantrisme tibétain/Mật Tông. Par ailleurs, l'examen consciencieux de l’emploi du temps des deux séances de prières quotidiennes y souligne la place prioritaire au Tantrisme tibétain.

Quelle est l'origine de cette pratique de la double séance de prières ? En se basant sur la préface du livre "L’équation des deux séances de prières réunies/Nhị Khóa Hiệp Giải", on sait qu'elle est née en Chine sous la dynastie des Qing/Nhà Thanh. L'empereur Thánh Tổ de la dynastie des Qing prénommé Khang Hy (1662-1772) par décret royal, invita le vénérable Ngọc Lâm Thông Tú (1614-1675) ainsi qu'un certain nombre d'autres vénérables éminents à se réunir en vue d'une préparation du livre "Nhị Thời Khóa Tụng/Double séance de prières quotidiennes". A cette époque, les moine et moniales résidants des différentes pagodes en Chine étaient tenus de se servir de ce livre comme support de leur pratique. Les Qing, descendants de l’ethnie Mãn Châu, occupaient le nord de la Chine, proche de l'Himalaya. Ils avaient bénéficié de l'influence du bouddhisme tantrique tibétain reconnu pour ses récitations de mantras. Aussi ce roi obligeait-il les vénérables rédigeant le livre "Nhị Thời Khóa Tụng" à privilégier la pratique du Tantrisme tibétain. Bien que l'instruction de ce livre se veuille impartiale, on y voit la prédominance de la pratique du Tantrisme tibétain sur celle de la Terre Pure.

Ce livre a paru vers la fin du XVIIe siècle au début du XVIIIe siècle, période de décadence du bouddhisme chinois. On ne connaît pas exactement la période de son introduction au Vietnam, mais on sait que vers la fin du IXXe siècle jusqu'à la fin du XXe siècle, dans presque dans toutes les pagodes vietnamiennes, on a recours à deux séances quotidiennes de prières comme directive commune dans la pratique encore dénommée : "Les deux temps de prière/Hai thời công phu". Il y a un adage qui dit : "le soldat craint l'escalade de la montagne, le novice redoute le Śuraṃgama". Même à l'heure actuelle en 1977, les moines qui s’occupent de la cérémonie de l’ordination des Novices/Śrāmaṇera ont toujours testé les postulants sur leur connaissance du mantra Śuraṃgama/Chú Lăng Nghiêm.

Les doctrines de la Terre Pure et du Tantrisme tibétain s'appuient sur l'aide extérieure. L'invocation du Bouddha Amitābha procure l'espérance d'être recueilli par le Bouddha Amitābha dans son royaume de la Terre Pure. Quant à la récitation des mantras et dhāranis, elle vise l'obtention de l’aide des Dragons célestes/Long Thiên, des Protecteurs de la Loi/Dharmapāla/Hộ Pháp, ou des Devas de Diamant/Thần Kim Cương pour épurer la rétribution karmique… Cet état d'esprit convenait parfaitement à la situation de notre pays de ce temps, l’époque pendant laquelle le Vietnam se trouvait sous le joug de la domination française. Cette colonisation française a fait perdre au peuple vietnamien toute confiance en lui même, étant donné que la mère-patrie désignée est la France. Aussi les vénérables bouddhistes vietnamiens ont-ils jugé convenable d’appliquer "Double séance de prières/ Nhị Thời Khóa Tụng" comme base de la pratique en corrélation avec la situation contemporaine.

Maintenant la situation a changé, le Vietnam a reconquis son indépendance, le peuple vietnamien a retrouvé sa propre confiance, sa valeur nationale, et pourtant le bouddhisme vietnamien continue à conserver la même pratique anciennement importée. Cette attitude est-elle appropriée à la progression nationale et à la reprise de confiance du peuple vietnamien de nos jours? Telle est la question qui a hanté fortement mon esprit depuis des années.

La doctrine de la Terre Pure exige trois principales conditions: la foi/Tín, la pratique/Hạnh et le vœu inébranlable/Nguyện. La foi, c'est croire fermement à l'existence du royaume de Félicité où Bouddha Amitābha est en train d'enseigner le dharma, et quiconque évoque sincèrement son nom sera assuré de renaître dans son royaume au moment du trépas. La pratique consiste à invoquer Bouddha Amitābha avec ferveur et assiduité. Le vœu inébranlable est la profonde aspiration de pouvoir renaître au royaume de la Terre Pure après la mort. Ce vœu ne sera exaucé qu'à deux conditions: l’attachement affectif au Monde de Félicité/Hân et l’éloignement de la vie ici-bas/Yểm. Puisque la Terre Pure est un monde paradisiaque et que le monde Sahā/Ta Bà comporte beaucoup de souffrances, quoi de plus séduisant de pouvoir quitter un monde de souffrances pour un monde de béatitude? Voilà le sens primordial de la pratique de la "Terre Pure". Au moment où la nation est mobilisée pour bâtir un pays riche et puissant, si nous autres, les religieux bouddhistes sommes las de cette vie de souffrance sur terre, comment pourrons-nous avoir le moral pour participer à la reconstruction du pays ? Le bouddhisme vietnamien n'aurait-il pas su s'adapter à la situation actuelle ?

Nous préconisons de revaloriser le bouddhisme Thiền Tông de la dynastie Trần. Pour cela, nous proposons essentiellement le sens "d’adaptation aux circonstances/Khế cơ" du bouddhisme afin de guider l'adepte bouddhiste dans sa pratique du perfectionnement en corrélation avec le rythme de la société. La devise "Tel esprit, tel Bouddha/Tức tâm tức Phật" de Thiền Tông génère une grande confiance au bouddhiste. Cette confiance nous donnera l’énergie nécessaire pour nous élancer plus haut et assurera le succès dans nos actions. En même temps, elle nous permettra de nous rendre compte que l'Eveil et le Nirvāṇa sont parfaitement accessibles dès cette vie. Ecoutons le sixième patriarche Huệ Năng :

                    …Le Dharma est en ce monde,
                    Ecarté du monde, il n’y aura pas d’éveil.
                    Rechercher l’éveil hors de ce monde,
                    Reviendrait à chercher la corne du lapin…
                    [Extrait du Sutra de l’Estrade du Trésor de Dharma, deuxième chapitre Prajῆā Pāramitā]

Le dharma est en ce monde, il est impossible d'atteindre l'Eveil en dehors du monde. Aller chercher l'Eveil ailleurs, c'est comme chercher la corne du lapin. Bouddha a réalisé l’Eveil au pied de l'arbre Bodhi en ce monde. C'est aussi en ce monde que les Arahats, ayant pris conscience des causes et effets de la naissance et de la mort, ont réussi à se libérer du cycle des renaissances et morts… C'est également en ce monde que les Pratyeka-Bouddha/Duyên Giác ont réalisé l’Eveil grâce au Principe de l'Interdépendance conditionnée… Pourquoi ne pas nous appliquer à la pratique ici même au lieu d'aller ailleurs? Ceci fait partie du pragmatisme et de la force de Thiền Tông que nos ancêtres ont déployés pour la pratique de leur perfectionnement.

6.2 Involontairement, Les Moines Sont Devenus Des Spécialistes Destinés Aux Prières

Le but essentiel de toute personne ayant quitté sa famille pour entrer en religion est de trouver l'Eveil et la libération de soi. Mais la longue période de vie en communauté a fini par atténuer peu à peu cette détermination. Le devoir d'un novice est d’apprendre à réciter par cœur les Sūtra, à manipuler cloche et gong de bois, à travailler sur la voix pour mieux psalmodier la prière, à bien faire rythmer des éloges aux Bouddhas au son du gong … Plus tard, une fois bien entraîné, il a le devoir de célébrer les cérémonies religieuses sollicitées par les adeptes. Tant qu'il n'y a qu'un petit nombre de demandes, il est en mesure d'assumer correctement son travail. Mais si les sollicitations des adeptes augmentent considérablement, le moine est sans arrêt occupé à célébrer les rituels religieux, alors il ne lui reste guère beaucoup de temps à consacrer à sa pratique d’Eveil et de Libération. De plus, il lui faut apprendre à gérer les dons et cadeaux. Toutes ces préoccupations finiront par lui faire oublier le vœu solennel de départ lors de son ordination. C'est ainsi que, inconsciemment, le moine au départ si résolument engagé à suivre la bonne voie est devenu à la longue malgré lui un moine à prières. C’est vraiment navrant! Pourtant Bouddha disait : "Même si la récitation des Sūtra est nombreuse, mais non suivie de pratique, elle n'apporte aucun bienfait au moine, tout comme le gardien de troupeaux engagé seulement pour surveiller les bêtes du propriétaire. En revanche, si le moine récite peu les Sūtra mais s’efforce, après les avoir bien assimilés, de mettre en pratique l'enseignement à travers ceux ci, cela lui permettra de maîtriser l'avidité, la colère et l’ignorance. Son esprit pacifié deviendra alors équanime et libéré de tout attachement au monde. Qu’il soit ici ou ailleurs, il pourra profiter des avantages d’un moine bouddhiste " [Dhammapada Sutta/Kinh Pháp Cú N°s 19, 20].

Un moine bouddhiste qui se contente de ces rituels de prières en guise d'activités bouddhiques quotidiennes, a involontairement projeté le bouddhisme dans un ciel nébuleux aux nuages flottants. Je suis persuadé que cela ne doit pas être ainsi. Le bouddhisme est une pratique réaliste et efficace dans la vie des humains. Le bouddhisme est une thérapie contre les souffrances humaines, une méthode d'enseigner aux êtres les moyens de progresser vers la sérénité et le bonheur. Aussi devrons-nous nous référer directement aux racines du bouddhisme et non pas nous attacher à ses branchages touffus. Nous espérons ainsi trouver des êtres compréhensifs qui partageront notre conviction.

VII. RECONNAÎTRE LES MERITES DES ANCIENS SANS ÊTRE INFÉODÉ AU MODÈLE ANCIEN

Raviver le bouddhisme Thiền Tông de la dynastie Trần nécessite un regard tourné vers le passé. En effet, du point de vue de la tradition, le présent ne saurait exister sans le passé. Puiser les richesses expérimentales des Anciens pour les appliquer dans la situation présente est très bénéfique. En revanche, obliger nos contemporains à se conformer strictement au modèle ancien s’avèrerait obsolète. Nous avons sélectionné de beaux préceptes du bouddhisme de la dynastie Trần et nous les présentons aux moines et moniales ainsi qu’à tous les bouddhistes laïcs contemporains afin qu'ils puissent choisir ceux qui soient profitables pour leur pratique. Nous ne voulons nullement imposer ce modèle ancien du bouddhisme aux pratiquants d'aujourd'hui. En effet, nous devons avoir une vue avisée, juste et compréhensive des préceptes des Anciens afin de recueillir les modèles de réussite appropriés à la situation actuelle, et savoir les utiliser à bon escient selon leur origine sociale.

CONCLUSION

Nous ravivons le bouddhisme Thiền Tông de la dynastie des Trần en vue de rehausser les valeurs de la pratique bouddhique de nos jours, tout en dissipant les méprises qui ont dévalorisé le bouddhisme. Par ailleurs, nous révélons sa valeur intrinsèque aux yeux de tous pour que chacun puisse en prendre conscience et l’appliquer à sa propre vie. Cette démarche a pour but d’accéder à la sérénité et au bonheur. Devant une telle méprise limitant le bouddhisme à un mysticisme vide de sens et l’enseignement de Bouddha à une pratique occulte, nous ne voulons qu’offrir au bouddhisme vietnamien sa valeur d’antan. Pour ce faire, notre travail consiste à raviver la flamme bouddhique afin que les responsables du bouddhisme vietnamien puissent choisir en toute transparence la voie la mieux adaptée à la situation actuelle du pays. Aussi n’aspirons-nous qu’à contribuer modestement à l’édification de la Maison Bouddhique Vietnamienne, ne serait-ce qu’en y apportant une brique ou un simple caillou.

FIN
 

Nấc Thang Tiến Đạo

- LỜI ĐẦU SÁCH -

-----o0o-----

nacthantiendao2Nhìn thấy những hạt mầm gieo xuống mảnh đất không âm dương đang từng phút vươn lên, tôi vui và quên đi bao năm tháng nhọc nhằn của một tăng quê. Ngày ngày tưới tắm, ngày ngày chăm sóc, mong hạt mầm vươn lên, ra hoa kết trái hiến dâng cho đời. Những hạt mầm hôm nay và mai sau. Chắc thực. Tươi chồi sức sống.

Nếu Thường Chiếu là mảnh đất nuôi dưỡng tôi lớn lên từ tâm hạnh vô lượng của Hoà thượng Ân sư thì Trí Đức là nơi tôi nguyện noi theo gương hạnh của Thầy, xin làm người lái đò đưa khách sang sông trước khi ánh hoàng hôn vụt tắt. Những năm tháng tuổi cao sức yếu mới hiểu hết nỗi vất vả nhọc nhằn của Thầy. Con đường hoằng pháp lợi sanh cũng chính là con đường của đại hạnh đại nguyện vô ngã vị tha.

Thầy đã đến với chúng sanh bằng trái tim của người mẹ lẫn người cha, khi trìu mến bảo ban, lúc huấn dụ nghiêm cẩn. Dù mệt mỏi cách mấy, Hoà thượng vẫn chưa bao giờ thối chuyển than van. Nguồn mạch thiền tông nhờ thế mà tuôn chảy rạt rào. Công đức, tấm lòng của Thầy đã trở thành nguồn sống mãnh liệt của tất cả chúng tôi trên những chặng đường học đạo và hành đạo.

Thời gian đi qua quãng đời thơ ấu của tôi với nhiều khoảnh khắc gian nan khốn khó. Thầy đã đến và đưa tôi tới bến đỗ bình yên, dừng bước phong trần lãng khách. Bây giờ ngồi sát bên Thầy, tôi đã 70 tuổi nhưng vẫn là đứa con chưa thực sự lớn khôn. Thầy luôn ban rải ánh mắt yêu thương, độ lượng, tin tưởng và đợi chờ. Chính vì thế chúng tôi không thể nào quên, không được quên, ánh đuốc soi đường truyền đăng tục diệm phải được trao truyền mãi mãi.

Nơi đây, nhớ tưởng ân đức cao vời của bậc Thầy đã tái tạo lại một mảnh đời, có lúc tưởng chừng như vụn vỡ, xin nguyện theo dấu chân Thầy, đến với người sau bằng tất cả tấm lòng chân thành. Chỉ mong thắp sáng đèn tâm, nối nắm mạng mạch tông tuấn. Thường Chiếu xưa hay Trí Đức nay, huynh đệ chúng ta cũng chỉ một con đường duy nhất, tu học cho tới bao giờ thành Phật mới vừa lòng. Có bao nhiêu công đức xin dâng lên cúng dường Tam Bảo, cúng dường Ân sư, cúng dường mười phương pháp giới chúng sanh, nguyện đồng vui cõi thật.

Chừng ấy, tha hồ mà hoà khúc quàng xiên của Thượng sĩ thuở nọ:


   Buông bốn đại chừ đừng nắm bắt,

  Tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng,

Thoả nguyện ta chừ được ngã sở,

               Sống chết bức nhau chừ ta vẫn như thường.


Thường Chiếu, ngày 17 - 07 - 2012

Cuối hạ Nhâm Thìn

THÍCH NHẬT QUANG
 

TẠI SAO TÔI CHỦ TRƯƠNG KHÔI PHỤC PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN ? - Thiền Thất Thường Lạc

TẠI SAO TÔI CHỦ TRƯƠNG KHÔI PHỤC PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN ?

Trích từ tập BA VẤN ĐỀ TRỌNG ĐẠI TRONG ĐỜI TU CỦA TÔI

HT Thiền sư THÍCH THANH TỪ [Bản dịch]

Chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam đã ngót mười tám thế kỷ, từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ hai mươi, trong thời gian này trải qua lắm lần thăng trầm. Ngày nay là con cháu trong nhà, chúng ta phải chọn một chặng nào thích ứng với hoàn cảnh hiện tại làm sáng tỏ lên cho hàng Tăng, Ni và Phật tử Việt Nam noi dấu, đó là một trọng trách rất nặng. Tinh thần khế lý khế cơ của Phật giáo giúp Tăng sĩ chúng ta dễ thấy lối đi, dễ nhận ra chặng đường nào thích hợp để ứng xử nhịp nhàng với xã hội đương thời.

Chúng tôi tự đặt cho mình trọng trách phải gánh vác việc này. Vì vậy qua nhiều năm ưu tư tôi khẳng định lấy Phật giáo đời Trần làm cái móc để xây dựng Phật giáo Việt Nam hiện thời. Đã quyết định, chúng tôi phải có lý do.

I- NĂNG CAO GIÁ TRỊ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

1.1 Thời Suy Đồi Của Phật Giáo Việt Nam

Từ giữa thế kỷ mười chín đến giữa thế kỷ hai mươi là thời kỳ suy đồi của Phật giáo Việt Nam, có thể đoạn này là cái móc đen tối nhất. Sự suy đồi này cũng có lý do của nó, ngót một thế kỷ Pháp xâm chiếm và đặt ách cai trị nước ta. Kẻ cai trị không cho phép một đoàn thể, một tôn giáo nào có tinh thần dân tộc được vững mạnh. Thấy Phật giáo gắng liền với dân tộc Việt Nam, chúng dùng đủ cách hạn chế, hạ uy tín, cuối cùng triệt tiêu. Vì vậy, thời gian này các vị đạo cao đức trọng dần dần mai một mà không đào tạo được những người kế thừa. Chùa chiền không còn người tài đức giáo hóa duy trì, những kẻ “Ẩn dương nương Phật” hoặc “Núp bóng từ bi” làm kế sống từ từ xuất hiện. Ta hãy nghe câu ca dao này thì thấy rõ:

                        Yên thân làm sãi ở chùa,
                        Tụng kinh niệm Phật oản thừa sãi xơi.
                        Bụt lành đừng hạ xuống chơi,
                        Chùa không có Bụt, sãi thời cũng đi.

Đã không quyết tâm tu hành mà ở chùa, những kẻ này còn điều dở nào mà chẳng dám làm, thời nhân thấy những tệ hại này mỉa mai châm biếm.

                        Đi tu Phật bắt ăn chay,
                        Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.

Ngôi chùa biến thành gia đình cho những kẻ “Núp bóng từ bi” làm kế sống. Thế nhân bực bội phải thốt ra những lời:

                            Vợ Sư sắm sửa cho Sư,
                            Áo đen tràng hạt, mỹ lư tày vành.
                            Để Sư sướng kiếp bành bành...

Thời gian này người tu ở chùa, đa số đều do thất chí vì thi rớt, thất tình vì bị người bạc đãi, già nua, bệnh hoạn... Vào chùa làm Tăng, Ni, cho nên những cuốn tiểu thuyết, những tuồng cải lương khi đề cập đến người tu đều liệt vào hạng người này. Mãi đến nay (1997) thấy người nam nữ trẻ tuổi đi tu, vẫn có những người bảo: “Cậu này, cô kia thất tình đi tu”. Người đời xem tu sĩ Phật giáo không ra gì thì làm sao họ biết quí trọng Phật pháp. Đây là vấn đề đau sót thôi thúc chúng tôi chủ trương khôi phục Phật giáo đời Trần.

1.2 Ông Vua Đi Tu

Ở Ấn Độ ông Hoàng Thái Tử xuất gia tìm đạo giải thoát cứu khổ chúng sanh. Ở Việt Nam một ông Vua xuất gia vào núi tu hành để cứu nhân độ thế. Vị Thái Tử không màng giàu sang danh vọng kể cả tương lai ngôi vị Hoàng đế, trốn đi tu tìm cho ra mối đạo giải thoát để cứu khổ chúng sanh. Đạo giải thoát này phải cao siêu tột đỉnh, Ngài mới vứt bỏ ngôi vị cao sang nhất đời.

Sau này ông Vua Trần Nhân Tông thấm nhuần được Phật pháp, đang ở ngôi vị bậc chí tôn của toàn dân mà chối bỏ giao lại cho con, xuất gia tu Phật. Phật giáo nếu không cao siêu, kỳ đặt thì làm sao lôi cuốn hấp dẫn được ông vua dám “xem ngai vàng như dép rách”, đổi chiếc áo ngự bào mặc áo nâu sòng làm người xuất gia vào núi tu hành.

Giá trị Phật giáo ở Ấn Độ thật siêu xuất, giá trị Phật giáo Việt Nam cũng phi thường, mới đủ sức thuyết phục một ông hoàng, một ông vua đi tu. Ở Việt Nam, đời Trần ông vua đi tu Phật, ông Trạng Nguyên đi tu Phật, chúng ta thử xét giá trị Phật giáo đời Trần cao siêu đến ngần nào. Phật pháp đã cao siêu, người tu cũng đáng kính cho nên Phật giáo rất thịnh hành trong thời này. Chúng tôi nhằm khôi phục Phật giáo đời Trần cốt nâng cao Phật giáo Việt nam hiện nay.

1.3 Ông Tổ Thiền Tông Người Việt Nam

Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ mười tám do Thiền tông lãnh đạo truyền bá. Các hệ phái Thiền tông hầu hết từ Trung Hoa truyền sang như: Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường..., những vị Tổ đứng đầu mỗi hệ phái đa phần người Trung Hoa, Ấn Độ. Chỉ có phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, ông Tổ đầu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà chính thực là người Việt Nam. Ông Tổ Việt Nam mới thông cảm tâm tư nguyện vọng phong tục tập quán của người Việt Nam, giáo hóa mới thích ứng nhu cầu người Phật tử Việt Nam.

II. KHÔNG CHỈ RIÊNG NGƯỜI XUẤT GIA MÀ CƯ SĨ CŨNG NGỘ ĐẠO

2.1 Vua Trần Thái Tông (1218-1277)

Đây là ông vua đầu nhà Trần. Bẩm tánh hâm mộ tu Phật, gặp duyên trắc trở đau buồn, ông liền trốn lên núi Yên Tử xin tu (1236). Thiền Sư Viên Chứng trụ trì chùa Hoa Yên, thấy ông liền hỏi:

“Lão tăng ở lâu nơi sơn dã, xương cứng mặt gầy, ăn rau đắng cắn hạt dẻ, uống nước suối dạo cảnh rừng, lòng như mây nổi theo gió đến đây. Bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ nghĩ đến nơi quê hèn rừng núi, chẳng hay bệ hạ mong cầu điều gì mà đến đây?”.

Vua đáp:

“Trẩm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước thịnh suy không thường, cho nên Trẩm đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác”.

Viên Chứng bảo:

“Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng lẽ mà biết gọi là chân Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài”.

Thái sư Trần Thủ Độ dẫn quan quân đi tìm, đến núi Yên Tử gặp vua, ông quyết thỉnh vua về cho được. Vua hỏi ý sư Viên Chứng, Sư đáp:

“Phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng xao lãng”.

Vua đành phải trở về tiếp tục công việc trị dân. Hơn mười năm khi rảnh rỗi, vua mời các bậc kỳ đức đến hỏi đạo tham thiền. Vua thuật lại:

“Trẩm thường đọc kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, trong khoảng để quyển kinh xuống ngâm nga, bỗng nhiên tự ngộ. Liền đem sở ngộ này viết thành bài ca, để tên là Thiền Tông Chỉ Nam”. [Những đoạn dẫn trên đều trích trong bài tựa T.T.C.N].

Đang lúc ngự trên ngai vàng cai trị muôn dân, vua vẫn nghiên cứu Phật pháp và tham thiền được ngộ đạo. Đủ nói lên rằng, chỉ thiếu quyết tâm tu học, đừng đổ cho hoàn cảnh đa đoan bận rộn khó tu. Ai đa đoan bận rộn bằng ông vua đầy nhiệt tình lo cho đất nước, thế mà quyết tâm tu liền ngộ đạo. Đây là tấm gương sáng để chúng ta học tập theo.

Đến năm 1257 giặc Nguyên Mông xâm lăng đất ta, vua Thái Tông đích thân chỉ huy nhiều mặt trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ nức lòng chiến đấu. Kết quả quân ta đánh tan quân xâm lược, giặc Nguyên Mông tháo thân chạy về Vân Nam đầu năm 1258. Một ông vua Thiền sư hết lòng mộ đạo, đã từng làm kệ khuyên người đừng sát sanh:

                    Cánh lông mai vảy trọn hàm linh,
                    Sợ chết tham sanh nào khác tình.
                    Từ trước Thánh hiền lòng chẳng nỡ,
                    Đâu đành để chết vẫn tham sinh.

Tại sao ông lại cầm quân đánh giặc giết hại biết bao sanh mạng, chắc phải có lý do.

Sau khi nhường ngôi cho con, ông lui về lập Am Thái Vi ở vùng rừng núi Vĩ Lâm, cố đô Hoa Lư để an dân lập ấp và lo tu hành, cùng khuyên dạy dân chúng tu. Khuyên người dân giữ năm giới, ông nói kệ về giới thứ ba:

                    Má thoảng hương mai, mặt nhụy đào,
                    Thấy rồi mắt dán, ý nao nao.
                    Thảy đều một đãy da hôi thúi,
                    Thầm cắt ruột người chẳng dụng dao.

Ông luôn đem bốn tướng sanh, già, bệnh, chết nhắc nhở mọi người. Bốn tướng này trong kinh gọi là Bốn núi. Ông nói kệ núi thứ hai:

                    Con người kiếp sống tợ phù du,
                    Thọ yểu người trời chớ vọng cầu.
                    Bóng ngã nương dâu, chiều sắp đến,
                    Thân như bồ liễu tạm qua thu.
                    Phan Lang thuở nọ còn xanh tóc,
                    Lã Vọng ngày nay đã bạc đầu.
                    Cuồn cuộn việc đời trôi chẳng đoái,
                    Vầng ô gác núi, nước trôi xuôi.


Nhận Định Về Vua Trần Thái Tông

Đem vua Trần Thái Tông so sánh với vua Lương Võ Đế ở Trung Hoa, chúng ta thấy có những nét đặc thù. Vua Lương Võ Đế (464-549) là con người rất sùng Phật, ông từng giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã và sớ giải các kinh... Song khi Tổ Đạt Ma sang Trung Hoa năm 520 gặp vua, Tổ nói thiền, vua không lãnh hội, Tổ lên miền bắc ở tại chùa Thiếu Lâm. Đến cuối đời vua Lương Võ Đế bị giặc Hầu Cảnh kéo quân vây hãm thành Kiến Khang, quần thần xin xuất quân chống giặc, vua không cho, lại ra lệnh bế cửa thành, tụng kinh cầu nguyện cho giặc lui. Kết quả giặc chẳng lui, mà ông bị mất nước và phải chết.

Trái lại, vua Trần Thái Tông là người ngộ được Thiền Tông, khi giặc Nguyên Mông xâm lăng vua chỉ huy cầm quân đánh giặc, giặc thua rút lui về, đất nước thái bình, vua mới ngồi yên tu thiền.

Hai thái độ của hai ông vua đồng là kính mộ đạo Phật, mà xử sự mỗi bên mỗi khác. Vua Võ Đế bị giặc hảm thành không cho quân chống cự, lại ra lệnh trong thành tụng kinh cầu nguyện cho giặc lui. Đây là đem tôn giáo áp đặt trên chánh trị nên phải mắc họa. Vua Thái Tông tách bạch phân minh phần nào thuộc tôn giáo, phần nào thuộc chánh trị, nên cứu được đất nước khỏi lâm nguy. Tu theo Phật giáo là trau giồi đạo đức rèn luyện tâm linh là việc riêng của mỗi người Phật tử, tức là lãnh vực của tôn giáo. Giặc ngoại bang xâm lăng tổ quốc, toàn dân đứng lên chống giặc, người lãnh đạo cổ động lòng yêu nước của dân và đứng ra chỉ huy đánh giặc là lãnh vực chánh trị. Phân ranh lãnh vực tôn giáo, lãnh vực chánh trị là vấn đề rất thiết yếu. Người Phật tử thọ tam quy trì ngũ giới, nếu phạm giới sát sanh là có tội, đó là phần tu hành riêng của Phật tử, thuộc lãnh vực tôn giáo. Đất nước bị xâm lăng, toàn dân đứng lên chống giặc là trách nhiệm của mỗi công dân, thuộc lãnh vực chánh trị. Dù trong cuộc chiến có nhiều Phật tử giết nhiều sinh mạng kẻ thù, không thể đem tội sát sanh đặt vào chỗ này được.

Vua Trần Thái Tông là một ông vua ham tu ngộ đạo mà trọn đời lo bảo vệ đất nước và xây dựng đất nước. Khi nước nhà bị địch họa, nhà vua liều mình cứu nước, lúc đất nước thái bình tuy tuổi già vẫn dạy dân khai hoang lập ấp và chỉ dạy họ tu hành trau dồi đạo đức. Nhà vua không những lo cho dân được cơm no áo ấm, còn lo cho dân có đức hạnh và biết gạn lọc tâm linh. Một con người được hai phần vật chất và tinh thần ngang bằng nhau thì cuộc sống mới thật sự an vui hạnh phúc. Nhà vua sử dụng Phật giáo trong cuộc sống rất là tích cực.

Nhà vua là một người Phật tử thuần thành thâm hiểu Phật pháp rất uyên bác mà chỉ đem Phật giáo áp dụng trong đời sống nhân dân bằng những pháp dạy dân giữ gìn năm giới để đem lại an ninh trật tự cho xã hội, dạy dân tu lý nhân quả để dân biết tránh ác làm lành, dạy dân mở rộng lòng từ bi để giúp người neo đơn cùng khổ và bao dung đoàn kết với mọi người. Song muốn bảo vệ chế độ quân chủ, ông phải dùng Khổng giáo để cai trị đất nước, dùng luật pháp răn đe và trừng trị tội phạm. Cụ thể là năm Thiên Ứng Chính Bình thứ nhất (1238) nhà vua cho mở khoa thi Thái học sinh, từ đây cứ bảy năm thi một lần. Đến năm Thiên Ứng Chính Bình thứ mười sáu (1253) mở khoa thi Tam khôi -Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa... Chính nhờ nhận định khách quan của nhà vua, nên dùng mỗi tôn giáo đúng vị trí của nó, nhà nước được thái bình thạnh trị lâu dài.

2.2 Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1279)

Tướng quân Trần Tung, con Trần Liễu đã hai phen cầm quân đánh giặc Nguyên Mông. Sau khi giặc tan nước nhà thái bình, ông lui về ở phong ấp Tịnh Bang đổi tên làng Vạn Niên. Ông học thiền và ngộ đạo với Thiền sư Tiêu Dao ở Tịnh xá Phước Đường. Vua Thánh Tông quí kính ông nên tặng hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ và gởi Thái Tử Trần Khâm đến học thiền với ông. Trong quyển Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, vua Trần Nhân Tông tán thán: “Ôi tinh thần sắc vận của Thượng Sĩ thật trang nghiêm, cử chỉ thẳng thắn uy đức, Thượng Sĩ bàn huyền nói diệu trong lúc gió mát trăng thanh. Những hàng thạc đức đương thời đều bảo Thượng Sĩ tin sâu hiểu rõ, thuận hạnh nghịch hạnh thật khó lường được”. Chẳng những cư sĩ đến học thiền bởi Thượng Sĩ mà Tăng Sĩ cũng đến tham vấn. Con người của Thượng Sĩ thật tiêu dao phóng khoáng, đọc tác phẩm “Vui Thú Giang Hồ” của Thượng Sĩ Thấy rõ.

                        Tâm xưa hồ hải chửa từng khuây,
                        Ngày tháng như tên lại tợ thoi.
                        Gió mát trăng thanh sinh kế đủ,
                        Non xanh nước biếc nếp sống đầy.
                        Sáng sớm giương buồm băng nước thẳm,
                        Chiều nâng sáo thổi cợt gió mây.
                        Tạ Tam nay đã không tin tức,
                        Để chiếc thuyền trơ bãi cát này.

Cuộc sống của Thượng Sĩ đơn giản đạm bạc, không màng danh lợi, nội tâm lúc nào cũng sung mãn an vui. Đọc bài thơ "Tự tại" sẽ thấy:

                        Bìm chuột không nhơn mãi mãi xâm.
                        Lui về, già gởi chốn sơn lâm.
                        Nhà tranh cửa gỗ đời thanh thoát.
                        Không đúng không sai tự tại tâm.

Khi quốc gia hữu sự Thượng Sĩ xông pha trận mạc cứu nước cứu dân, lúc nước nhà thái bình Thượng Sĩ sống thong dong tự tại trong đạo lý thiền, ai cần thì giúp, không cần thì vui thú nơi hải hồ, thảnh thơi chốn sơn dã. Đời của Thượng Sĩ thật đẹp như bức tranh thủy mặc.

2.3 Vua Trần Thánh Tông (1240-1290)

Vua là con của Thái Tông lên ngôi năm Mậu ngọ (1258) đổi niên hiệu là Thiệu Long, vua học thiền với Quốc Sư Đại Đăng. Một hôm đọc Ngữ Lục của Thiền Sư Đại Huệ. Vua cảm ngộ làm kệ:

                        Đập ngói dùi rùa ba chục niên,
                        Mấy phen xuất hạn bởi tham thiền.
                        Một phen thấu vỡ gương mặt thật,
                        Lỗ mũi xưa nay mất một bên.

Vua Thánh Tông nói về thiền: “Dụng của chân tâm tỉnh tỉnh lặng lặng, không đi không đến, không thêm không bớt, vào lớn vào nhỏ, mặc thuận mặc nghịch, động như mây hạt, tĩnh như tường vách, nhẹ như sợi lông, nặng như tảng đá, sạch trọi trơn bày lồ lộ chẳng thể đo lường, hoàn toàn không dấu vết, ngày nay vì anh biện biệt rành rẽ rõ ràng”. (Trích Thánh Đăng Lục).

Qua đây chúng ta thấy vua Thánh Tông thấu suốt lý thiền, trong lúc còn đang làm hoàng đế. Nhà vua không tìm nơi non cao rừng vắng, mà ngự tại triều đình để tu vẫn được ngộ đạo. Đúng như lời Thiền sư Viên Chứng nói “Phật tại tâm mình”, nếu người biết xoay lại tâm mình thì có ngày ngộ đạo. Quả là tu thiền không trở ngại mọi công tác ở thế gian, có ai mà không tu được. Đây là một bằng chứng thiền học đời Trần rất tích cực.

III. CHỦ TRƯƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

3.1 Sơ Tổ Trúc Lâm (1258-1308)

Ngài là con vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng Thái Hậu, tên là Trần Khâm. Khi lớn lên vua cha cho Ngài theo học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Một hôm Ngài hỏi Thượng Sĩ về “Bổn phận tông chỉ thiền”, Thượng sĩ đáp: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc [Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, không từ bên ngoài mà được]”. Nghe qua, Ngài thông suốt được lối vào và thờ Thượng sĩ làm thầy.

Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng đế (1279), hiệu là Trần Nhân Tông. Quân Nguyên Mông xâm lăng nước ta, Ngài phải cầm quân đánh đuổi giặc đến hai lượt (1285 và 1288), giặc rút lui đất nước thái bình. Đến năm Quí Tỵ (1293) Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Năm Kỷ Hợi (1299) Ngài vào núi Yên Tử xuất gia tu hành lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà và làm Sơ Tổ phái Trúc Lâm Yên Tử. Do chỗ sở ngộ ban đầu của Ngài, nên lấy câu “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, làm kim chỉ nam cho phái thiền Trúc Lâm Yên Tử.

3.2 Câu Phản Quan Tự Kỷ Bổn Phận Sự, Bất Tùng Tha Đắc”, Nhìn Xuyên Suốt Từ Đời Tu Của Đức Phật Qua Giáo Lý, Đến Các Pháp Thiền.

3.2.1 Đời tu của đức Phật hoàn toàn soi sáng lại nội tâm của mình

Suốt bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội Bồ Đề, Ngài quán chiếu nội tâm được giác ngộ thành Phật. Đức Phật là cội nguồn của Đạo Phật, do quán chiếu nội tâm mình được chứng đạo, nên nói “Phản quang tự kỷ bổn phận sự”. Trọn đời tu Ngài không cầu xin trông cậy cái gì khác bên ngoài, nên nói “Bất tùng tha đắc”.

3.2.2 Giáo Lý Phật Dạy

Bốn bộ Kinh A Hàm, sáu trăm quyển Kinh Bát Nhã, Kinh Pháp Hoa... cũng không ngoài lối tu “Phản quan” này. Kinh A Hàm lấy pháp Tứ Đế làm căn bản, mà Ba mươi bảy phẩm trợ đạo không phần nào chẳng quán chiếu lại mình. Kinh Bát Nhã lấy Bát Nhã Tâm Kinh làm trọng tâm, mà “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” là nền tảng tu hành. Kinh Pháp Hoa mục đích nhận ra Tri Kiến Phật của mình, hình ảnh chàng cùng tử trở về tìm cha là ý nghĩa “Phản quan tự kỷ”.

3.2.3 Các Pháp Thiền Đều Tu “Phản Quan Tự Kỷ”
a) Thiền Nguyên Thủy
hiện nay hoặc tu thiền Tứ niệm xứ, hoặc tu thiền Minh sát tuệ.
Pháp thiền Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, đều là soi sáng lại chính mình.

Pháp thiền Minh sát tuệ thì trước dùng hơi thở, biết rõ hơi thở ra vào dài ngắn, lạnh ấm... Nhờ nương hơi thở tâm được định. Kế dùng trí tuệ quán sát thân tâm là vô thường, khổ, không, vô ngã biết đúng như thật. Theo dõi hơi thở và quán sát thân tâm vô thường... đều là “Phản quan tự kỷ”.

b) Thiền Đại thừa quán chiếu theo Kinh Bát Nhã, hoặc “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” của Bát Nhã Tâm Kinh, hoặc quán “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quán” của Kinh Kim Cang Bát Nhã. Cả hai lối quán này đều là “Phản quan tự kỷ”. Cho đến pháp “Tam Quán” của Thiền sư Huệ Văn do đọc Trung Quán Luận ngộ được. Sư đem pháp này dạy cho đệ tử là Thiền sư Huệ Tư (515-577) thành lập phái thiền Đại Thừa “Tam Quán”. Pháp quán này y cứ bài kệ trong Luận Trung Quán là: “Nhân duyên sở sanh pháp, Ngã thuyết tức thị không, Diệc danh vi Giả danh, Diệc danh Trung Đạo nghĩa”, lập thành ba pháp quán: Không quán, Giả quán, Trung Đạo quán. Trong ba pháp này, cũng là “Phản quan tự kỷ”.

c) Thiền tông hẳn căn cứ vào “Phản quan tự kỷ”. Cội gốc Thiền tông là “Phản quan tự kỷ”. Câu “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” là châm ngôn của Thiền tông do Tổ Đạt Ma tuyên bố. Không phản quan làm sao kiến tánh, không kiến tánh thì đâu được thành Phật. Bởi Thiền tông chủ trương Phật tức tâm, ngoài tâm không có Phật.

3.2.4 Tại sao phải phản quan tự kỷ ?

Người tu Phật phải biết đúng như thật nơi thân tâm mình. Chúng sanh mê lầm nên mọi sinh hoạt đều để phục vụ cho mình, mà sự thật không biết mình là gì. Do mê lầm sanh ra kiến chấp sai lạc tạo không biết bao nhiêu tội lỗi, làm khổ mình và làm khổ mọi người. Soi sáng lại thân tâm mình thấy đúng như thật thì mọi kiến chấp đều phá vỡ đem lại sự an lạc cho mình và mọi người.
Soi sáng thân tâm mình chia làm hai phần:

a) Thấy rõ thân tâm vô thường

Trong bài văn Trữ Từ Tự Răn, Thượng sĩ nói:

                        Ngày tháng nước chảy, giàu sang mây trôi.
                        Gió lửa tan rồi, trẻ già thành bụi.
                        Hồn phách lìa sắc thân như mộng,
                        Cuộc mưu sinh, con rối kéo lôi,
                        Hằng ngày đùa, đưa tay bắt bóng...
                        Trong mộng tạo tác, thức rồi đều không,
                        Trong mộng tạo, sanh thô sanh tế,
                        Tỉnh giấc rồi, không mảy tóc kẽ tơ...

Đến Tổ Trúc Lâm, trong bài Sơn Phòng Mạn Hứng cũng nói:

                        Phải quấy niệm rơi theo hoa rụng,
                        Lợi danh tâm lạnh với mưa đêm.
                        Mưa tạnh, hoa trơ, non vắng lặng,
                        Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.


Thân tứ đại hòa hợp, tâm danh lợi phải quấy đều vô thường hư dối, người tu thấy rõ như vậy là thức tỉnh giác ngộ. Thế nhân lúc nào cũng thấy thân vật chất là thật, tâm nghĩ phải quấy danh lợi là thật, nên mê muội khổ đau. Soi sáng thân tâm thấy đúng như thật là điều kiện tối thiết yếu trên đường tu.

b) Nhận ngay nơi thân vô thường có cái chân thường

Bài Phật Tâm Ca của Thượng sĩ có đoạn nói:

                        ... Muốn tìm tâm, đừng tìm ngoài,
                        Bản thể như nhiên tự rỗng lặng.
                        Niết bàn sanh tử buộc ràng suông,
                        Phiền não bồ đề đối địch rỗng.
                        Tâm tức Phật, Phật tức tâm,
                        Diệu chỉ sáng ngời suốt cổ kim.
                        Xuân đến, tự nhiên hoa xuân nở,
                        Thu về, hiện rõ nước thu sâu...
                        Lặng lặng lặng, chìm chìm chìm,
                        Cái tâm muôn pháp là tâm Phật.
                        Tâm Phật lại cùng tâm ta hợp,
                        Lẽ ấy như nhiên suốt cổ kim.
                        Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,
                        Trong lò lửa rực một hoa sen...


Tổ Trúc Lâm cũng nói:

                        Vậy mới hay! Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa.
                        Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,
                        Đến biết hay chỉnh Bụt là ta...
                                        [Phú Cư Trần Lạc Đạo- Hội Thứ Năm.]

Qua hai đoạn dẫn trên, chúng ta thấy rõ Thượng sĩ và Tổ Trúc Lâm chỉ thẳng tâm mình tức là Phật. Song phải là tâm lặng lẽ hằng nhiên, chớ không phải tâm đối đãi sanh diệt. Trong thân tâm vô thường sanh diệt có tâm lặng lẽ hằng nhiên, như trong lò lửa cháy rực có hoa sen tươi thắm. Tại vì chúng ta quên tâm Phật của mình, chạy tìm Phật ở bên ngoài. Một khi chúng ta biết quay trở lại tâm mình thì sẽ thấy tâm mình tức là Phật.

IV. TINH THẦN BAO DUNG THIỀN ĐỜI TRẦN
4.1 Bao Dung Nội Giáo

Đời Trần tuy lấy Thiền tông làm chủ đạo truyền bá, song cũng có Tịnh độ đồng thời hoạt động. Tịnh độ có sự Tịnh độ và lý Tịnh độ.

Về sự Tịnh độ thì phải tin có cõi Cực Lạc ở phương Tây, đức Phật A Di Đà là giáo chủ cõi này. Nếu người chí thành niệm Phật và tha thiết cầu sanh về cõi Cực Lạc khi lâm chung được Phật A Di Đà đón về Cực Lạc.

Về lý Tịnh Độ là “Tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh độ” hay “Tâm tịnh thì độ tịnh”. Tức là tâm mình thanh tịnh là tịnh độ, tánh mình sáng suốt là Phật Di Đà. Tổ Trúc Lâm nói:

                        …Tịnh Độ là lòng trong sạch,
                        Chớ ngờ hỏi đến Tây Phương.
                        Di Đà là tánh sáng soi,
                        Mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc
                                        [Phú Cư Trần Lạc Đạo -Hội Thứ Hai]


Thiền tông thừa nhận lý Tịnh Độ, không thừa nhận sự Tịnh Độ. Thiền sư Vô Ngôn Thông nghe Tổ Bá Trượng nói: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”, liền ngộ đạo. Đất tâm nếu không, là tâm tịnh độ tịnh. Tuệ nhật tự chiếu, là tự tánh Di Đà. Vì A Di Đà dịch nghĩa là Vô Lượng Quang, nhà thiền gọi là Tuệ nhật tự chiếu. Đứng về lý Tịnh Độ cùng Thiền tông cứu cánh không hai.

4.2 Tam Giáo Đồng Nguyên

Thuyết tam giáo đồng nguyên xuất phát từ đời Tống ở Trung Hoa, nhà Trần ở Việt Nam cũng chấp nhận thuyết này để dùng hòa Tam giáo. Tam giáo Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo (Đạo giáo). Người dân Việt Nam chịu ảnh hưởng Tam giáo rất sâu đậm. Nhà Trần muốn đoàn kết toàn dân, đứng về Phật giáo Thiền tông dung hợp Khổng giáo và Lão giáo. Chủ trương rằng Tam giáo về ứng dụng tu hành có khác nhau, song đó chỉ là hình thức phương tiện, đến cứu cánh đều gặp nhau, nên nói Đồng nguyên. Đây là tính bao dung khiêm tốn của Phật giáo Thiền tông, ai không biết vua quan thời này hầu hết đều tu theo Phật giáo.

V. PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN THỰC TẾ TÍCH CỰC

5.1 Thực Tế

Phật giáo đời Trần chủ trương “Tức Tâm tức Phật”. Tâm mê là chúng sanh, tâm giác là Phật. Phật chẳng ở đâu xa, ngay nơi tâm mình, khéo tu lóng lặng tâm mê thì tâm giác hiện bày. Tuệ Trung Thượng Sĩ làm bài Phật Tâm Ca, đoạn đầu nói:

                        Phật! Phật! Phật! Không thể thấy,
                        Tâm! Tâm! Tâm! Không thể nói.
                        Nếu khi tâm sanh là Phật sanh,
                        Nếu khi tâm diệt là Phật diệt.
                        Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu,
                        Diệt Phật còn tâm khi nào biết.
                        Muốn biết Phật tâm, sanh diệt tâm,
                        Đợi đến sau này Di Lặc quyết...

Phật là giác, rời tâm tìm giác làm gì có, ngay nơi tâm nhận ra Phật mới là Phật thật. Bỏ tâm tìm Phật là Phật của ai, không phải là Phật của mình. Tuy nhiên, nếu nhận tâm sanh diệt là Phật, đợi đến Phật Di Lặc ra đời cũng không giải quyết được.

Tổ Trúc Lâm nói:

                        Biết vậy! Miễn được lòng rồi chẳng còn phép khác.
                        Gìn tánh sáng, tánh mới hầu an,
                        Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.
                        Dứt trừ nhân ngã thì ra tính thực Kim Cương.
                        Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác...
                                    [Phú Cư Trần Lạc Đạo- Hội Thứ hai]

Kim Cương, Viên Giác là Phật thật của ta, muốn thấy Phật thật phải nén niềm vọng, trừ nhân ngã, dứt tham sân si. Bởi vọng niệm nên chấp nhân chấp ngã, khởi tham sân si, không thấy được Phật thật. Như mây che kín không thấy được mặt trăng sáng. Chuyển hóa tất cả tâm mê loạn, chỉ còn tâm thanh tịnh sáng ngời, tâm này là Phật. Sự tu như vậy rất thực tế, vì thấy rõ cái gì nên bỏ cái gì nên theo, nắm vững sự thành công và thất bại trong tay mình, không cầu mong trong đợi thế lực bên ngoài.

5.2 Tích Cực

Năm Giáp Thìn (1304), Tổ Trúc Lâm đi dạo trong nhân gian, khuyên dân chúng giữ ngũ giới và tu Thập thiện. Đây là tích cực đem Phật giáo vào nhân gian, trước xây dựng con người, cá nhân tốt thì gia đình tốt, gia đình tốt thì quốc gia tốt. Vì bảo vệ sanh mạng con người, khuyên giữ giới không sát sanh, bảo vệ tài sản của người, khuyên giữ giới không trộm cướp, bảo vệ hạnh phúc gia đình, khuyên giữ giới không tà dâm, bảo vệ uy tín và giá trị con người, khuyên giữ giới không nói dối, bảo vệ sức khỏe, trí tuệ và trật tự xã hội, khuyên giữ giới không uống rượu. Hiện nay thêm hút á phiện xì ke, ma túy. Người dân trong nước đều giữ được năm giới thì đất nước thật sự thái bình, dân chúng vui vẻ hát ca, không còn gì phải lo sợ. Tiến lên, Ngài khuyên tu Thập thiện, tức là thân không sát sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng không nói dối, nói hai lưỡi, nói hung dữ, nói thêu dệt; ý bớt nóng giận, tham lam và si mê. Người thân miệng ý khéo tu mười điều lành sẽ trở thành bậc hiền nhân. Người Phật tử khéo tu Ngũ giới và Thập Thiện là đóng góp một phần cho quốc gia xã hội được tốt đẹp an vui. Được vậy, đạo Phật mới thật sự chuyển cảnh khổ thành cảnh vui, chuyển con người phàm tục thành con người thánh thiện.

VI. ĐƯỜNG LỐI TU CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY

Là tu sĩ Phật giáo Việt Nam, nếu bị người hỏi: “Hiện nay thầy tu theo tông phái nào của Phật giáo?”. Chắc chắn tu sĩ này sẽ ngẩn ngơ không biết đáp thế nào. Tại sao vậy?

6.1 Lấy “Nhị Thời Khóa Tụng” Làm Công Phu Tu Hành

Chùa chiền Việt Nam hơn một thế kỷ này đều lấy hai thời khóa tụng làm công phu tu tập. Trong hai thời, đầu hôm tụng kinh Di Đà, sau tụng chú Vãng Sanh, tiếp niệm danh hiệu Phật A Di Đà; buổi khuya tụng chú Lăng Nghiêm, hoặc Đại Bi Thập Chú.... Nếu hôm nào có đám cầu an cầu siêu thì tụng chú Đại Bi trước, tụng kinh sau. Công phu tu hành như vậy, biết thuộc tông phái nào. Thế mà đa số nói tu theo Tịnh Độ. Tụng kinh Di Đà và niệm danh hiệu Phật A Di Đà thuộc về Tịnh Độ tông, tụng chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm thuộc Mật tông. Nhận xét chín chắn thì hai thời khóa tụng Mật tông chiếm ưu thế.

Hai thời khóa tụng xuất xứ từ đâu? Căn cứ lời tựa quyển Nhị Khóa Hiệp Giải thì xuất xứ từ đời nhà Thanh ở Trung Quốc. Vua Thánh Tổ nhà Thanh hiệu Khang Hy (1662-1772) ra sắc lệnh mời Hòa Thượng Ngọc Lâm Thông Tú (1614-1675) cùng một số Hòa Thượng hợp tác soạn “Nhị Thời Khóa Tụng”, buộc Tăng, Ni các chùa ở Trung Quốc trong thời này phải ứng dụng tu theo. Nhà Thanh thuộc dân tộc Mãn Châu ở miền Bắc Trung Quốc, gần dãy núi Hy Mã Lạp Sơn chịu ảnh hưởng Phật giáo Tây Tạng chuyên tu Mật tông. Nhà vua buộc các Hòa Thượng soạn “Nhị Thời Khóa Tụng” đặt nặng Mật tông hơn. Tuy Nhị Thời Khóa Tụng là chủ trương Tịnh, Mật đồng hành, song nghiên hẳn về Mật.

Nhị Thời Khóa Tụng ra đời khoảng cuối thế kỷ mười bảy đầu thế kỷ mười tám là thời kỳ Phật giáo Trung Hoa đang xuống dốc. Không biết Nhị Thời Khóa Tụng du nhập vào Việt Nam lúc nào, chỉ biết từ cuối thế kỷ mười chín đến cuối thế kỷ hai mươi, hầu hết các chùa Việt Nam đều lấy hai thời này làm công khóa tu hành. Ai vào chùa tu đều bị bắt buộc phải thuộc hai thời khóa tụng gọi là hai thời công phu, nên có câu “Đi lính sợ trèo ải, ở sãi sợ Lăng Nghiêm”. Thậm chí đến nay (1997) những tu sĩ Phật giáo đến Đàn giới xin thọ giới Sa Di, ban giám khảo đàn giới vẫn khảo hạch xem thuộc chú Lăng Nghiêm không.

Tịnh và Mật là hai pháp tu trông cậy vào tha lực, niệm Phật được Phật A Di Đà đón về Cực Lạc, trì chú được Long Thiên, Hộ Pháp hay Thần Kim Cương gia hộ cho tiêu nghiệp… Thích hợp với thời điểm đất nước Việt Nam bị xâm lăng cuối cùng nội thuộc nước Pháp. Từ đây người dân thuộc địa mất hết lòng tự tín, mẩu quốc Việt Nam ở trời Tây. Vì thế, chư tôn đức trong Phật giáo Việt Nam chấp nhận “Nhị Thời Khóa Tụng” làm nền tảng tu hành cho ứng hợp với hoàn cảnh đương thời, thế là hợp lý.

Song ngày nay đã khác, nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, người Việt Nam là dân tộc anh hùng, lòng tự tín đã dâng cao. Thế mà, Phật giáo Việt Nam vẫn giữ lối tu theo lề lối cũ, có thích hợp với lòng tự tín của toàn dân, có nhịp nhàng tiến kịp tinh thần vươn lên của đất nước chăng? Đây là chỗ nhiều năm trăn trở nhức nhối của chúng tôi.

Pháp tu Tịnh độ đòi hỏi phải đủ ba điều kiện: Tín, Hạnh, Nguyện. Tín là tin có cõi Cực Lạc ở phương Tây, có Phật A Di Đà đang giáo hóa nơi ấy, nếu ai niệm danh hiệu Ngài khi lâm chung sẽ được Ngài đón về Cực Lạc. Hạnh là thực hành pháp trì danh niệm Phật. Nguyện là phát nguyện sau khi chết được vãng sanh về cõi Cực Lạc. Nguyện này muốn được thành tựu phải đủ hai điều: Hân và Yểm. Hân là ưa thích cõi Cực Lạc. Yểm là chán ngán cõi Ta Bà. Cõi Cực Lạc là vui, cõi Ta Bà là khổ, chán ngán cõi khổ, cầu sanh về cõi vui, là tinh thần thiết yếu của pháp tu Tịnh Độ. Khi nước ta vận động toàn dân xây dựng đất nước giàu mạnh, mà người tu Phật chúng ta chán ngán cõi này là đau khổ thì còn tinh thần đâu xây dựng đất nước. Phải chăng Phật giáo Việt Nam không ứng dụng yếu lý “Khế cơ” cho thích hợp hoàn cảnh hiện thời.

Chúng tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần, cốt yếu sử dụng tinh thần “Khế cơ” của đạo Phật, hướng dẫn người Phật tử tu hành nhịp nhàng theo bước tiến của xã hội. Câu “Tức tâm tức Phật” trong Thiền tông là đem lại sức tự tín mãnh liệt cho người Phật tử. Có tự tín, chúng ta mới có sức mạnh vươn lên, có tự tín chúng ta mới khẳng định sự thành công trong công tác của mình. Đồng thời nhận rõ Giác ngộ và Niết bàn ngay nơi thế gian này. Ta nghe Lục Tổ Huệ Năng nói:

                        ...Phật pháp tại thế gian,
                        Bất ly thế gian giác.
                        Ly thế mích Bồ Đề,
                        Kháp như cầu thố giác...

                                    [Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm thứ hai Bát Nhã]

Phật pháp ngay trong thế gian này, không thể rời thế gian tìm được sự giác ngộ. Nếu rời thế gian tìm giác ngộ, giống như tìm sừng con thỏ. Đức Phật giác ngộ tại cội Bồ Đề trong thế gian này. Các bậc A La Hán giác ngộ nguyên nhân và kết quả sanh tử, và giải thoát sanh tử cũng trong cõi thế gian này... Duyên Giác giác ngộ “Lý nhân duyên sinh” cũng trong thế gian này… Tại sao chúng ta không ngay đây mà tu, lại cầu mong đến nơi nào cho xa xôi? Đây là thực tế và sức mạnh của Thiền tông, tổ tiên chúng ta đã ứng dụng tu hành.

6.2 Vô Tình Thầy Tu Trở Thành Thầy Tụng

Người chân chính xuất gia tu hành, buổi đầu ai cũng quyết tâm cầu giác ngộ giải thoát. Song ở chùa thời gian lâu sự quyết tâm ấy phai nhạt từ từ. Vì vào chùa phải học thuộc lòng kinh để tụng, khi tụng phải rành chuông mõ, phải tập tụng âm thanh cho hay, còn phải học tán, học đẩu... Khi tụng kinh rành rồi phải đi cúng đám cho Phật tử, chùa ít Phật tử còn đở, chùa đông Phật tử thì đi đám liên tục, còn thời giờ đâu nghĩ đến giác ngộ giải thoát. Cộng thêm Phật tử cúng kính tiền bạc vật dụng nhiều, phải lo gìn giữ tiêu phí, còn nhớ đâu bản hoài lúc sơ phát tâm. Thế là từ thầy tu phát tâm chân chánh, lâu dần biến thành thầy tụng thầy cúng, thật rất đau lòng! Phật dạy:

“Dù tụng nhiều kinh mà buông lung không thực hành thì chẳng hưởng được phần lợi ích của Sa Môn, khác nào kẻ chăn bò thuê lo đếm bò cho người.

Tuy tụng ít kinh mà thường y giáo hành trì, hiểu biết chân chánh, từ bỏ tham, sân, si, tâm hiền lành thanh tịnh, giải thoát, xa bỏ thế tục, thì dù ở cõi này hay cõi khác, người kia vẫn hưởng ích lợi của Sa Môn”.

                (Kinh Pháp Cú số 19, 20)

Tu sĩ Phật giáo mà chỉ lấy tụng cúng cầu nguyện làm Phật sự, là vô tình đã đưa Phật giáo lên lơ lửng trên hư không và tạo cho Phật giáo dáng vẻ mờ mờ ảo ảo không thể giải thích được. Tôi dám khẳng định rằng Phật giáo không phải thế, mà thực tế hữu hiệu trong cuộc sống hiện tại của con người. Phật giáo là những phương thuốc trị tâm bịnh của chúng sanh, là phương pháp dạy con người sống vươn lên và an vui hạnh phúc. Chúng ta phải nhìn thẳng cội gốc của Phật giáo, đừng vạch tìm cành lá chi li. Mong sẽ có những tri kỷ thông cảm điều này của chúng tôi.

VII. HỌC CÁI HAY CỦA NGƯỜI XƯA MÀ KHÔNG NỆ CỔ

Chúng tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần là cái nhìn trở lui về quá khứ. Đứng về mặt truyền thống không thể chỉ có ngày nay mà không có những ngày xưa. Lấy những kinh nghiệm hay của người xưa ứng dụng trong hoàn cảnh hiện nay thì hữu ích. Bắt người nay rập khuôn theo người xưa là nệ cổ lạc hậu. Chúng tôi chắt lọc những cái hay của Phật giáo đời Trần trình bày cho Tăng, Ni, Phật tử hiện nay xem thấy điều nào thích hợp áp dụng được thì áp dụng, không phải đem cái khuôn của Phật giáo đời Trần bắt buộc người thời nay rập theo. Chúng ta phải có cái nhìn chín chắn công bằng và thông cảm đối với hoàn cảnh của người xưa, lượm lặt những cái hay đưa đến thành công của người xưa, trên đường đạo cũng như đường đời, điều nào ứng dụng được hữu ích trong hoàn cảnh chúng ta hiện nay thì ứng dụng.

KẾT THÚC

Chủ trương khôi phục Thiền Tông đời Trần là cốt nâng cao giá trị người tu Phật hiện nay, dẹp tan những điều hiểu lầm đánh giá đạo Phật quá thấp. Đồng thời vạch ra những giá trị cố hữu của đạo Phật, khiến mọi người hiểu rõ, nếu cần đem ứng dụng vào cuộc sống thì thật sự được an vui hạnh phúc. Cảnh giác những hiện tượng sai lầm đưa đạo Phật vào chỗ huyền bí vô nghĩa, khiến chánh pháp phải lu mờ, trả Phật giáo trở về với giá trị bản hữu của nó. Việc làm của chúng tôi mang tính cách khơi sáng ngọn đèn Phật giáo Việt Nam để những người có trách nhiệm trong Phật giáo thấy rõ lối đi cho nhịp nhàng với hoàn cảnh hiện tại của đất nước. Chúng tôi không ước mong gì khác hơn là được đóng góp một hòn gạch, một viên đá để xây dựng lại ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.