headertvtc new


   Hôm nay Thứ bảy, 25/11/2017 - Ngày 8 Tháng 10 Năm Đinh Dậu - PL 2561 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtriductang Mong
 Video - Sám hối 6 căn

Một số hình ành xây dựng TVTL Chánh Thiện (04/07/2015)

Một số hình ành xây dựng TVTL Chánh Thiện (04/07/2015)
 

LỜI GIÁO HUẤN CỦA HÒA THƯỢNG TÔN SƯ - 2015

LỜI GIÁO HUẤN CỦA HÒA THƯỢNG TÔN SƯ

Nhân ngày truyền thống 08/12/Giáp Ngọ - 2015

Cùng tất cả Tăng Ni,

Hôm nay ngày truyền thống của thiền phái Trúc Lâm, chư Tăng Ni về đây đảnh lễ chúc mừng tôi, tôi rất là hoan hỷ và cũng có đôi lời nhắc nhở đến toàn thể:

Thuở xưa đức Phật Thích-ca do tu thiền mà ngộ đạo, chư Tổ Ấn Độ, Trung Hoa đến Việt Nam cũng do tu thiền mà thành Tổ. Chúng ta ngày nay tự nhận là đệ tử Phật, là môn đồ chư Tổ, không lý do gì từ khước chẳng chịu tu thiền. Như thế khôi phục thiền tông là một nhiệm vụ chung của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam.

Hoài bão của tôi là khôi phục thiền tông Việt Nam. Người Việt Nam lập thành một hệ phái thiền chỉ có ở đời Trần, còn những đời trước và sau đều theo các hệ phái thiền của Trung Hoa. Là kẻ hậu học, chúng ta tự hãnh diện ở Việt Nam xuất hiện một hệ phái thiền Việt Nam trọn vẹn, mang dấu ấn của chư Tổ Việt Nam và dung hội một cách tài tình đường lối tu hành của người xưa, làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam. Giờ đây các thiền viện thuộc hệ phái Trúc Lâm đã ra đời, thu nhận Tăng Ni tu theo pháp môn thiền tông của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tôi thấy thật vui bởi vì sở nguyện của tôi có thể thực hiện được rồi.

Muốn cho giáo pháp thiền tông Trúc Lâm Yên Tử được khôi phục và phát huy sáng tỏ, bền bĩ, để mọi người hướng theo thì không gì hơn là phải tạo điều kiện cho Tăng Ni tu được sáng đạo. Có sáng đạo thì chánh pháp mới trường tồn. Sở nguyện của tôi muốn duy trì thiền tông Việt Nam lâu dài, nên tôi đã cố gắng tạo thiện duyên cho tăng ni tu học. Vì vậy, tăng ni phải ráng tu cho sáng đạo để khi tôi nhắm mắt, tôi vui vì đã được toại nguyện. Nếu quý vị tu lừng chừng qua ngày thì thật là đời tu của tôi chưa đủ phúc để vui hưởng lúc ra đi. Đó là hoài bão của tôi.

Trúc Lâm Đại Đầu-đà là Sơ tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, là một vị thiền sư rất đáng cho tăng ni tứ chúng tôn sùng, hãnh diện. Ngài là một bậc vương giả đã bỏ tất cả công danh phú quí vào tu chốn rừng sâu. Ngài tu trên núi không còn bận bịu việc đời. Một lần đi là một lần dứt khoát, không có thái độ lưng chừng.

Ngài đã nói tất cả chuyện hay chuyện dở của đời không màng tới, tất cả những thị phi Ngài cũng phủi sạch, chỉ dồn hết tâm lực trong công phu tu hành. Do vậy mà chỉ trong thời gian ngắn Ngài đạt đạo. Điều này đáng cho chúng ta trân quý noi theo. Người tu phải có thái độ dứt khoát như thế mới tu hành thành đạo. Được đạo rồi Ngài tùy duyên làm lợi ích chúng sanh, giáo hóa khắp nơi trong nước, khuyến hóa chúng dân tu hành Thập thiện, đồng thời hướng dẫn chư Tăng ni tu hạnh xuất gia, hàng cư sĩ tại gia thì ngài khuyên tu hạnh Bồ-tát. Đó là chỗ cao quí của Sơ Tổ Trúc Lâm.

Chúng ta là con cháu của ngài, tu theo thiền phái Trúc Lâm cho nên phải đi theo con đường Tổ đã đi, hành trì theo pháp Tổ đã hành. “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” là cương lĩnh của thiền phái Trúc Lâm. Chư Tăng Ni tu theo sự hướng dẫn của tôi phải ghi nhớ và thực hành cho được điều này. Mỗi vị tự xoay lại quán chiếu, nhận ra của báu nhà mình, không còn làm gã cùng tử lang thang nữa.

Tu thiền là lúc nào cũng thiền, trong bốn oai nghi tâm chuyên nhất, không thêm một việc khác. Như vậy để làm gì? Để nhận ra cái chân thật hiện tiền luôn hiện hữu trước mắt. Cái biết ấy đã sẵn có đầy đủ, không cần suy nghĩ, suy nghĩ là lăng xăng dấy động. Tăng Ni chỉ nhớ làm một việc này, ngoài ra không có việc khác.

Vô thường nhanh chóng, quý vị không nên vui đùa năm tháng, già chết chẳng hẹn cùng người. Chỉ nên siêng năng tu hành, chớ lười trễ. Ấy mới thật vì nhau. Đây là lời nhắc nhở của tôi.

 

 

Lễ giỗ Sơ Tổ Trúc Lâm - Đại Đầu Đà lần thứ 706

GIỖ TỔ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Lần thứ 706 – 01/11 Giáp Ngọ - 2014

SuPhu

 Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,
 Nam Mô Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật,
 Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư,
 Kính bạch chư tôn thiền đức tăng ni,
 Kính thưa quý quan khách và đạo tràng Phật tử,

Hôm nay ngày mồng 01 tháng 11 năm Giáp Ngọ, tại Tổ đình thiền viện Thường Chiếu, Hòa thượng Tông chủ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam thế kỷ 21, cùng Tăng Ni tứ chúng thành kính dâng hương cúng dường tưởng niệm ngày viên tịch lần thứ 706 của Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, Sơ tổ Trúc Lâm Việt Nam. Giờ này, toàn thể đệ tử chúng con thừa uy lực của Hòa thượng Ân sư, đê đầu đảnh lễ tưởng niệm công đức Tổ sư, nguyện đời đời tông phong vĩnh chấn, Tổ đạo trùng quang, Hòa thượng Ân sư phúc trí trang nghiêm, thọ mạng miên trường, lợi lạc khắp quần sanh.

Ngưỡng bạch Tổ sư,

Lịch sử Việt Nam đã tôn vinh toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp đế vương của Ngài như huyền thoại có một không hai về một nhân vật lịch sử vô tiền khoáng hậu của dân tộc. Nhưng ở nơi ngài còn có một sự nghiệp vĩ đại hơn, trường cửu hơn, bất tuyệt hơn, đó là sự nghiệp đạo pháp. Đối với Phật giáo ngài là Phật hoàng nước Việt, đối với thiền phái Trúc Lâm, ngài là Sơ tổ khai sáng dòng thiền thuần túy bản sắc Việt. Đệ tử chúng con cúi đầu quy ngưỡng Tổ sư như hướng về đấng cha lành, về cội nguồn Yên Tử, về non đỉnh Phù Vân, lần theo dấu chân Phật hoàng quay về Tổ vực đạo tràng, nguyện đời đời mồi đèn tiếp lửa, để ngàn năm hương khói Trúc Lâm vẫn nghi ngút tỏa thơm.

Tổ sư là vì sao sáng của Trần triều nước Việt. Một vương triều kết duyên đậm đà với Phật pháp. Trần Nhân Tông là con trai của Trần Thánh Tông, cháu nội của Trần Thái Tông, vị chúa tể Trần triều với cuộc đời và sự giác ngộ tròn đầy nước mắt lẫn nụ cười. Thái tổ đã phát hiện ra tất cả những đậm nhạt đắng cay của cuộc đời làm thành cái hương vị tuyệt vời, đưa vua đi vào cõi tịch mặc, mà vẫn an nhiên ngự trên ngai vàng, rống tiếng sư tử và để lại cho đời một vì sao rực sáng Trần Nhân Tông.

Vua Trần Nhân Tông, Sơ tổ Trúc Lâm Yên Tử chưa bao giờ mất. Ngài chỉ thị hiện đến rồi đi trên ngôi cửu trùng như mây nổi, tự tại chốn hang sâu non vắng, lăn lóc trong cát bụi tử sinh để mở ra một con đường, vạch một lối đi cho Thiền tăng Việt Nam xưa cũng như nay. Thiền sư xem ngai vàng như đôi dép rách, thích cuộc sống an bần thủ đạo. Trao gánh đế nghiệp lại cho Anh Tông, ngài tự tại với cuộc đời của chính mình. Chơi nước biếc ẩn non xanh, ngày thì “ăn rau ăn trái, vận giấy vận sồi”, đêm về “chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng”.

Quân vương tỏa sáng vì những chiến công oanh liệt thì lịch sử có thể ghi lại, nhưng thiền sư tỏa sáng từ nội tâm tịch tĩnh thì không ngôn từ nào có thể diễn đạt. Thành quả này không thể ngẫu nhiên mà có, phải nhờ gieo trồng chủng duyên từ nhiều đời mới được. Điều này có thể thấy khi ngài còn là hoàng thái tử, ở tuổi thanh xuân mà đã trường trai thiểu dục. Đến khi ngự trên ngôi cửu trùng, có thể tận hưởng thú vui thế gian, Ngài vẫn giữ mình thanh tịnh và thường đến chùa Tư Phước trong đại nội tu tập.

Mình ngồi thành thị,
Nết dụng sơn lâm.
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính,
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.
Tham ái nguồn dừng,
Chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý.
Thị phi tiếng lặng,
Được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.

Sau khi hoàn thành trách nhiệm đối với dân tộc và tổ quốc, năm 1298 Ngài nhẹ nhàng cởi bỏ vương bào, xuất gia tu hành khổ hạnh. Ăn rau rừng, uống nước suối, khoác áo phong sương, gối đầu trên tán mây đại pháp, để lòng ở chốn Không môn. Năm năm đầu trên đỉnh non thiêng ròng rã tinh chuyên, không hề xuống núi. Ngài hạ thủ công phu chẳng chút lơi lỏng, lấy “phản quan tự kỷ” làm bổn phận sự, lấy thiền định làm lẽ sống. Cuối cùng trí tuệ bừng sáng, ngài giác ngộ chân lý tối hậu. Từ đó, Trúc Lâm đại sĩ chống gậy trúc dạo khắp nhân gian, hân hưởng một sức sống tròn đầy cho mình cùng tha nhân, “tùy thuận chúng duyên vô quái ngại, Niết-bàn sanh tử thảy không hoa”. Hòa thượng Ân sư vô cùng kính ngưỡng gương hạnh của Sơ tổ Trúc Lâm, Ngài thường ca ngợi:

- Con người của Sơ Tổ Trúc Lâm làm việc gì phải đến nơi đến chốn, đạt kết quả viên mãn mới thôi. Nhiệm vụ đối với tổ quốc đã xong, để tâm nghiên cứu Phật học đến chỗ thâm áo. Tu hành đến ngộ đạo mới đi hoằng hóa. Thật là một tấm gương sáng ngời cho kẻ đời, người đạo học hỏi theo.

Có thể nói đối với Phật giáo Việt Nam, vua Trần Nhân Tông chẳng những là đệ nhất Tổ sư của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mà còn là vị Phật thể hiện trọn vẹn nhất tinh thần nhập thế tích cực, Phật pháp bất ly thế gian pháp. Ngài để lại tấm gương cho hậu thế soi chung, một cuộc đời mẫu mực dung hòa. Bên thì vui đạo, bên lại vẹn đời. Đây chính là trí tuệ, là điểm son của vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc và đạo pháp Việt Nam.

Một công đức vô cùng lớn lao nữa của ngài, đó là thống nhất các hệ phái Phật giáo có trước dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đây là lần đầu tiên Sơ Tổ Trúc Lâm đã thống nhất được Phật giáo và thành lập một Giáo hội duy nhất là giáo hội Trúc Lâm. Giáo hội Trúc Lâm bấy giờ đã phát triển đến đỉnh cao, nhiều chùa tháp được xây dựng, tinh thần học Phật lan rộng, tăng sĩ đông đảo, Đại tạng kinh được in ấn và lưu hành khắp nơi. Hòa thượng Trúc Lâm nói: Thời ấy Phật giáo Việt Nam tức là Phật giáo đời Trần. Tại sao? Vì Phật giáo đời Trần nói lên được tinh thần cao siêu của đạo Phật, vượt ngoài tất cả sự tầm thường của thế gian. Nếu đạo Phật tầm thường thì ông vua không đi tu. Người đời ai cũng mơ ước được làm vua, vì nghĩ vua là tột bực. Trong khi Ngài ở trên chỗ tột bực đó mà không màng lại đi tìm cái khác, thì cái khác ấy phải cao quí hơn.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Trần Nhân Tông là một triết gia lớn với sự khai sáng ra thiền phái Trúc Lâm. Triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần đã phát triển rực rỡ, thể hiện đầy đủ trí tuệ, tình thương và bản lĩnh Việt Nam. Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã đi vào đời sống tâm thức người Việt, đáp ứng được nhu cầu tính ngưỡng tâm linh của dân Việt trong bối cảnh lịch sử cả dân tộc độc lập tự chủ trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và tôn giáo.

Một vị Phật Đại Việt từng sống tu tập, hoằng hóa độ sinh người dân Việt, làm sống dậy tinh thần “Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa”, cho nên ai cũng có thể thành Phật ngay nơi cõi đời này. Phật tánh được hiển lộ trong mỗi chúng sanh, không phân biệt vua quan hay vạn thứ lê dân. Thiền phái Trúc Lâm ra đời góp phần thúc đẩy tinh thần người dân Việt tự tin và sáng tạo hơn về khả năng tu tập, chuyển hóa, nâng cao đời sống tâm linh để trở thành bất diệt trước dòng chảy thời gian và mọi thăng trầm thế sự.

Tinh thần Trúc Lâm vì thế vẫn luôn tỏa sáng trong lòng mỗi người con nước Việt, thuộc mọi thế hệ, ở khắp mọi miền đất nước. Sự kiện ấy minh chứng cho sức sống mãnh liệt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử khi đã đạt tới đỉnh cao tâm linh, nhờ công phu thực tu thực chứng, nên có thể hòa nhập và truyền cảm đến muôn vạn tấm lòng. Có thể nói sự thị hiện vào đời, Phật hóa nhân gian của Điều ngự Giác hoàng thật là toàn hảo toàn bích, công đức vô lượng vô biên. Thật đáng trân quý và tự hào cho dân tộc và Phật giáo Việt Nam.

Cho đến nay, trải qua hơn 700 năm dâu bể, dòng thiền ấy được hồi sinh mạnh mẽ và tuôn chảy khắp nơi trên thế giới, dưới sự ra đời và chấn hưng của Hòa thượng Trúc Lâm. Thiền viện và các đạo tràng tu thiền có mặt nhiều nơi trên toàn cầu. Hòa thượng từng nói: Thiền tông Việt Nam là cội nguồn của Phật giáo Việt Nam. Chúng tôi không nỡ để cho sự nghiệp của Tổ tiên bị mai một, không đành lòng nhìn thấy người con Phật bối rối quờ quạng không tìm được lối đi trên con đường giải thoát, nên cố gắng cho ra đời những thiền viện, là chỗ đầy đủ thiện duyên cho những người quyết tâm tu hành cầu giải thoát.

Sơ Tổ thành công trong mọi hoàn cảnh, mọi lĩnh vực là nhờ ý chí quyết liệt, tinh thần dũng cảm và chấp nhận một cuộc sống rất đạm bạc khổ nhọc. Đây là hình ảnh cao đẹp để người sau, dù ở ngoài đời hay trong đạo đều phải cố gắng học tập.

Chúng con xin nguyện vâng lời Thầy Tổ, sẽ cố gắng thắp sáng ngọn đèn Trúc Lâm để dòng thiền nước Việt đời đời tỏa sáng. Có thế mới không cô phụ công đức và tấm lòng của Tổ sư cũng như Ân sư. Giữ gìn dòng thiền nước Việt cũng chính là giữ gìn pháp bảo pháp huy của Phật giáo Việt Nam. Đây không chỉ là bổn phận bình sinh mà là nhiệm vụ thiêng liêng của hàng tăng sĩ Việt Nam, không thể không tuân.

Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh này, vâng theo chỉ giáo của Hòa thượng Ân sư, toàn thể Tăng Ni tứ chúng chúng con thành tâm dâng lễ cúng dường kỷ niệm húy kỵ Tổ sư lần thứ 706. Ngưỡng mong Tổ sư thùy từ chứng giám, gia hộ cho Phật giáo Việt Nam cửu trụ nơi đời, phát huy quang đại, lợi lạc quần sanh. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử lung linh bất diệt trong trái tim và trí tuệ Việt Nam. Nguyện Hòa thượng Ân sư sống lâu nơi đời, chuyển bánh xe pháp rộng độ chúng sanh đồng về bến giác. Nguyện thế giới hòa bình nhân dân an lạc, đất nước và dân tộc Việt Nam thanh bình, ấm no, hạnh phúc.

Cúi mong đức Phật hoàng, Sơ Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, thùy từ chứng giám cho tấc dạ chí thành của toàn thể chúng con.

Nam Mô Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật tác đại chứng minh.

 

 

 

 

Tiểu sử Hòa Thượng Sơn Thắng

TIỂU SỬ

Hòa Thượng THÍCH ĐẮC PHÁP

(1938 - 2013)

 I. Trước khi xuất gia

Hòa thượng Thích Đắc Pháp, thế danh Thái Hồng Điệp, sinh năm 1938 tại xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thân phụ của Hòa thượng là Liệt sĩ Thái Văn Hai và thân mẫu là bà Bùi Kim Loan. Hòa thượng mồ côi cha từ năm lên 9 và mồ côi mẹ khi chỉ mới 11 tuổi. Hòa thượng về chùa Sơn Thắng sống với Bà Ngoại là Sa di ni Thích Nữ Diệu Huệ, lúc ấy đang trông coi và hộ trì chùa Sơn Thắng.

Lớn lên, Hòa thượng làm thợ máy tại bến phà Mỹ Thuận. Trong thời gian này, Hòa thượng có duyên được diện kiến bóng dáng chư vị tôn túc trong phong trào Chấn hưng Phật giáo khi ấy đang xuôi ngược hoằng dương Phật pháp giữa Sài Gòn và các tỉnh miền Tây. Năm 19 tuổi (1957), sau một cơn trọng bệnh (lao phổi), Hòa thượng quyết định nghỉ làm việc, lui về chùa Sơn Thắng để điều dưỡng và công quả. Trong thời gian dưỡng bệnh, Hòa thượng có cơ hội đọc được kinh sách, tạp chí Phật học như tờ nguyệt san Từ Quang, Phật Giáo Việt Nam, v.v… do Thầy Như Viết, trụ trì chùa Sơn Thắng đời trước để lại, Hòa thượng đã nhận chân ra được ý nghĩa cao rộng, uyên áo của đời sống xuất gia tu hành cũng như sự vô thường của cuộc đời. Vì thế, Hòa thượng đã quyết định xuất gia, tiếp bước theo chân các vị Tôn túc mà mình đã gặp.

II. Xuất gia – tu học

Năm 1958, Hòa thượng đến Phật học đường Nam Việt, chùa Ấn Quang quy y làm đệ tử cư sĩ với HT. Thích Thiện Hòa. Cũng trong năm này, Hòa thượng được HT. Thiện Hòa gửi xuống Trà Vinh cho xuất gia làm đệ tử đầu tiên của HT. Thích Thanh Từ tại chùa Phước Hòa và học Sơ đẳng Phật học tại đây.

Năm 1959 Hòa thượng thọ giới Sa di tại Giới đàn chùa Long Sơn tỉnh Trà Vinh.

Năm 1961, mãn khóa Sơ đẳng Phật học, Hòa thượng cùng thầy Ngộ Chơn và thầy Phước Thọ theo HT.

Huệ Hưng về Mỏ Cày (Bến Tre) để học thiền với Thiền sư Đức. Học thiền hơn một năm, cả 3 vị lại tiếp tục theo HT. Huệ Hưng lên chùa Tập Thành (Bà Chiểu, Sài Gòn) định mở thiền viện tại đây.

Năm 1962, trong thời gian tu thiền tại chùa Tập Thành, Hòa thượng thọ giới Tỳ kheo tại Giới đàn chùa Vạn Thọ (Tân Định, Sài Gòn) do Tổ thượng Hải hạ Tràng làm Hòa thượng Đàn đầu.

Năm 1964, Hòa thượng ân sư Thích Thanh Từ cho gọi Hòa thượng về Phật học viện Huệ Nghiêm nhập học khóa I Trung đẳng Phật học cùng 40 vị Tăng sinh khác.

Năm 1967, Hòa thượng tốt nghiệp khóa I Trung đẳng Phật học và được tiếp tục giữ lại Huệ Nghiêm làm Giám học (Giám thị) cho các khóa sau cho đến năm 1970.

Năm 1970, Hòa thượng rời Huệ Nghiêm lên Tu viện Chơn Không tham gia khóa Thiền đầu tiên do Hòa thượng ân sư Thích Thanh Từ sáng lập. Trong khóa tu 3 năm này, Hòa thượng đã nỗ lực hạ thủ công phu, đồng thời phiên dịch một số tác phẩm Thiền tông như Chơn tâm trực thuyết, Tu tâm quyết, Vạn pháp quy tâm lục. Năm 1973, sau khi mãn khóa thiền, Hòa thượng phát nguyện tiếp tục ở lại Chơn Không vừa nhập thất chuyên tu, vừa phụ ân sư lo cho khóa thiền sau.

Năm 1975, đất nước thống nhất, Hòa thượng về Thường Chiếu một thời gian ngắn. Sau đó được sự chỉ dạy của ân sư, Hòa thượng về Vĩnh Long tiếp quản Chùa Sơn Thắng để nuôi dưỡng Bà Ngoại đã già yếu mù lòa, đồng thời để dọ xem đất đai và tình hình nơi Sơn Thắng có thể mở thiền viện hoằng truyền Thiền Tông được không. 

III. Thời kỳ hoằng hóa

Từ năm 1975 đến 1977, mặc dù tình hình kinh tế và sinh hoạt tôn giáo vô cùng khó khăn, nhưng Hòa thượng vẫn bám trụ, duy trì và phát triển được Chùa Sơn Thắng (sau này là Thiền viện Sơn Thắng).

Năm 1977, Hòa thượng bắt đầu tiếp Tăng độ chúng và làm Phật sự.

Năm 1981, tại Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ, Hòa thượng được cử làm Phó ban đại diện GHPGVN Thống Nhất đi tham dự Hội nghị và được suy cử làm Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN.

Năm 1983, BTS Tỉnh hội Phật giáo Vĩnh Long chính thức được thành lập, Hòa thượng giữ cương vị là Phó Ban thường trực BTS nhiệm kỳ I và sau đó làm Trưởng BTS các nhiệm kỳ II, III, IV, V và VI của Tỉnh hội.

Năm 1990, Hòa thượng cùng các vị Tôn túc PG Vĩnh Long thành lập Trường Cơ bản Phật học Vĩnh Long. Hòa thượng được đề cử làm Hiệu trưởng.

Suốt 30 năm làm Phật sự, với Phạm hạnh thanh tịnh, tinh thần dung hòa, phong phạm rạng rỡ, Hòa thượng đã đào tạo được nhiều thế hệ Tăng Ni trẻ, đoàn kết được nhân tâm trong tỉnh, ổn định được Trường Phật học và Giáo hội PG Vĩnh Long. Hòa thượng đã nhiều lần mở Đại Giới đàn, mở Trường Hạ cho Phật giáo tỉnh nhà và làm Hòa thượng Đàn đầu cho nhiều Đại Giới đàn trong và ngoài tỉnh.

Vào một chiều mùa Đông cũng ngày này cách nay 2 năm, ngày mùng 7 tháng Chạp năm Nhâm Thìn (tức 18-1-2013), Hòa thượng đã xả báo thân huyễn mộng để vào cõi Niết bàn tịch diệt, làm tròn hạnh nguyện “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Hòa thượng xứng đáng là bậc Thạch trụ tòng lâm của GHPGVN cũng như là một Cao đồ của Thiền phái Trúc Lâm.

Phụng vị Tân viên tịch, Trúc Lâm Thiền Phái, Sơn Thắng Đường Thượng thượng Đắc hạ Pháp, Thái công Hòa thượng Giác Linh chứng giám

DIỄN VĂN LỄ KHÁNH THÀNH BẢO THÁP XÁ LỢI tại TVTL ĐÀLẠT

DIỄN VĂN LỄ KHÁNH THÀNH BẢO THÁP XÁ LỢI  tại  TVTL ĐÀLẠT

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

thaytrutridocdienvan

Kính thưa…

Hôm nay ngày khánh thành Đại Bảo tháp tôn thờ Xá-lợi, đồng thời An vị Phật và An vị Xá-lợi chân thân Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Đây là một duyên lành hi hữu cho những người con Phật đồng phát tâm tùy hỷ hướng về Ân đức vô thượng quý báu của Đức Thế Tôn và kết duyên sâu thêm với Phật.

Kính thưa chư Tôn đức Tăng Ni, cùng quý Phật tử.

Nghĩ đến chúng ta ngày nay có được con đường xuất gia tu hạnh giải thoát, và có được chánh pháp để học hỏi, tu tập như thế này, là từ công đức phước trí vô lượng vô biên của Đức Thế Tôn mà thành.

Ngài đã trải qua vô lượng hằng sa kiếp số tu hành thành tựu các Ba-la-mật, sẵn sàng hy sinh tất cả sở hữu bên ngoài cho đến thân mạng bên trong, xả những việc khó xả, nhẫn những việc khó nhẫn, làm những việc khó làm để vì lợi ích chúng sanh không từ khổ nhọc.

Nào là thí xả đầu, mắt, tủy, não, vợ, con, cõi nước…, nhịn chịu chặt cắt tay, chân từng phần thân thể, hy sinh cho cọp đói, cắt thịt cứu chim, xả thân vì nửa bài kệ…

Ngay hiện đời, Ngài cũng đã sẵn sàng từ bỏ cha già, vợ đẹp, con thơ, ngai vàng điện ngọc, quyền quý cao sang tột đỉnh ở thế gian, để vào rừng vắng tu hành khổ hạnh, thiền định quên thân, thắng phục ma quân mà thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Từ ánh sáng giác ngộ đó, Ngài mới đem truyền dạy cho tất cả thế gian, mở đường giác ngộ chân thật, giải thoát sanh tử luân hồi, giải quyết cái mê từ vô thủy cho chúng sanh. Từ đó chân lý giác ngộ mới được vang khắp và mới có đạo Phật để chúng ta tu theo như ngày hôm nay.

Khiến người người tin biết trong cuộc đời vô thường ảo mộng vẫn còn có Phật, có lối thoát để trở về quê nhà chân thật chưa từng sanh diệt.

Ân đức ấy làm sao nói hết bằng lời! Do đó, xây dựng Bảo tháp Xá-lợi này, ý nguyện chúng tôi hướng về tưởng nhớ Ân đức của Phật, và nhắc nhở cho người người thức tỉnh tu hành để đền đáp phần nào Ân lớn của Phật. Đồng thời cũng tạo duyên lành cho tất cả tùy hỷ, chiêm bái kính lễ mà kết duyên sâu thêm với Phật. Cũng như giúp cho những ai không có đủ điều kiện đến xứ Phật, thì cũng được thấy một chút ấn tượng về hình ảnh Thánh tích nơi ấy.

Và nhân duyên hội ngộ đầy đủ, giờ này bao nhiêu tấm lòng thật sự đang tùy hỷ đồng tụ hội về đây, vui thấy một Phật sự được thành tựu để cùng nhau hòa hợp tưởng nhớ về Đức Thế Tôn, và vui được kết duyên lành sâu thêm với Phật, giúp cho tâm Bồ-đề càng thêm vững mạnh.

Ôi! Chúng con một lòng kính ngưỡng.

Thế Tôn thị hiện nơi cung vua Tịnh Phạn, ra đời tại vườn Lâm-tỳ-ni, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, truyền vang thông điệp: “TRÊN TRỜI, DƯỚI TRỜI, CHỈ TA TÔN NHẤT”.

Rồi lớn lên trong cung vàng điện ngọc, đầy đủ thú vui ngũ dục ở thế gian, ngai vàng chờ sẵn, nhưng nguyện lớn chẳng quên, dứt khoát từ bỏ tất cả, vượt thẳng ra khỏi tình trần, tìm đạo giác ngộ để cứu vớt chúng sanh còn đang chìm trong đêm dài tăm tối.

 Tìm thầy học đạo,
 Đều không thỏa nguyện,
 Sẵn sàng từ bỏ,
 Quay lại nội tâm,
 Dưới cội bồ-đề,
 Quyết tâm thành tựu,
 Thắng phục Ma vương
 Tuyên ngôn chiến thắng,
 Thế gian tăm tối,
 Lối ra mở sẵn,
 Bản hoài ra đời,
 Dẫn dắt chúng sanh,
 Ứng thân đã mãn,
 Để lại chánh pháp,
 Thân này tuy diệt,
 Ai buồn ai khóc,
 Phật từng dạy rằng,
 Sao sớm quên rồi,
 Nay lưu Xá-lợi,
 Nhớ còn có Phật,
 Phát tâm Bồ-đề,
 Lần bước trở về,
 Từ thân ứng hóa,
 Muôn kiếp trầm luân,

Khổ hạnh kiên trì
 Giải thoát tử sanh.
 Tìm kiếm bên ngoài,
 Mở đường chánh giác.
 Vững nguyện không lay,
 Vô thượng Bồ-đề.
 Vỡ tan mê lầm,
 Sanh tử vô bờ.
 Từ đây đã có,
 Tuệ giác khắp soi.
 Từ nay rao khắp
 Đồng về chánh giác.
 Hiện vào Niết-bàn
 Rộng truyền thế gian.
 Như Lai nào diệt.
 Có nhớ rõ chăng?
 Pháp thân thường trụ
 Lời chân thật kia.
 Gieo duyên cho đời,
 Ở thế gian này.
 Thêm lớn niềm tin.
 Con đường giác ngộ.
 Thấy lại thật thân,
 Từ đây ra khỏi.

Nguyện đem công đức này dâng lên cúng dường Hòa thượng Tôn Sư, nguyện Ngài sống lâu ở đời, giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh, hạnh nguyện viên thành.

Đồng nguyện đem công đức này hồi hướng chia đều cho tất cả chúng sanh đều được kết duyên sâu với Phật, căn lành ngày thêm lớn, vượt thoát đường mê, quay về chánh giác, xóa tan ranh giới ta người, dứt sạch tận gốc sanh tử luân hồi, thành tựu Phật đạo.