headertvtc new


   Hôm nay Thứ sáu, 19/10/2018 - Ngày 11 Tháng 9 Năm Mậu Tuất - PL 2562 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtc2  Mong
LỄ AN VỊ PHẬT TỨ ĐỘNG TÂM Tại TVTL Chánh Giác

CUNG NGHINH TƯỢNG PHẬT-TVTL CHÁNH GIÁC

Vào lúc 22g30, ngày 12 tháng 10 năm 2010 (nhằm mùng 8 tháng 09 năm Quý Tỵ), sau gần 6 tháng thực hiện, tôn tượng Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã được vận chuyển về Thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác tỉnh Tiền Giang trong niềm hân hoan dâng tràn của Tăng Ni và đồng bào Phật tử gần xa.

Ngay sáng hôm sau, việc lắp đặt đã được tiến hành dưới sự chủ trì chứng minh của thượng tọa trụ trì thiền viện. Đến 16g ngày 13/10/2013, việc lắp đặt đã hoàn tất một cách an ổn, tốt đẹp. Tôn tượng Đức Bổn Sư đã an vị trên tòa kim cang, thiền viện đã sắn sàng cho lễ an vị vào ngày 20/10/2013, tức là ngày 16 tháng 9 năm Quý Tỵ.

Dưới đây là vài hình ảnh về quá trình vận chuyển và lắp đặt tượng.
 

( Theo email Chánh Lạc Khiêm )

Thiền Tông Việt Nam trên đường phục hưng & hằng hóa

LỜI GIỚI THIỆU

THIỀN TÔNG VIỆT NAM

Trên đường phục hưng & hoằng hóa

thientongvn2

Viết về Người, Hòa thượng thượng Thanh hạ Từ, bậc ân sư khả kính của tất cả môn hạ đệ tử trong Tông môn thuộc thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Viết về thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ XX được khôi phục và hoằng hóa bởi một thiền sư xuất thân từ miền sông nước Hậu Giang. Đó là nội dung tập sách do Đại Đức Thích Đạt-ma Quán Hiền đã khổ công biên tập mà quý độc giả đang có trên tay.

Bằng bút pháp nhẹ nhàng thi vị nhưng không kém phần cuốn hút, biên giả khiến đọc thích thú tiếp tục giở sang trang kế, mặc dù đây là tác phẩm thuộc loại biên khảo rất dễ gây cảm giác nhàm chán. Đi vào tập sách, bên cạnh những kiến trúc vật thể khô khan như thiền đường, nhà khách, tăng đường, còn có khoảng không gian trời nước xanh mát bao la, khiến ta ngỡ như đi giữa rừng thiền:

Tất cả toàn thông, muôn lối hài hòa nhi nhiên. Không tiếng động, không mô hình, không vướng mắc. Uyên nguyên như thế, tỏa sáng trầm hùng như thế. Từ đây sức sống tuôn trào vô tận, hạnh phúc an lạc vô biên. Kẻ đứng ngoài kia với nắng gió âm thanh, chưa một lần ngoảnh mặt làm sao biết được ? Ai đã nghe tiếng thác vọng rừng thiêng, ai đã đi giữa nước mắt nụ cười, thử một lần dừng lại, nhìn xem làm gì ?

Ở đây, thanh thanh rừng già, thanh thanh nhựa sống chưa thành vóc, chẳng nên hình. Dịu mà thoảng, nhẹ mà tỏa, ngan ngát hương định, hương tuệ, hương giải thoát. Rừng thiền rắc lá vi vu sao không thành tiếng động, gió mát thanh lương sao chẳng gợi bóng trúc la đà ? Có phải tâm vật nhất như, động tỉnh bặt dấu ? Chà chà ! chớ để môi mép khua động hồn rừng, làm lụy đến muôn đời.

Thôi thì,

Hãy thử một lần bước vào. Đây khung trời không cấm địa, đầy ắp trăng sao tỏa sáng, chẳng ngăn ngại những bước chân lữ thứ quay về.

Thiền viện Thường chiếu, 15-04-2013
HÒA THƯỢNG THÍCH NHẬT QUANG
Trưởng Ban Quản Trị Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử
 

( BBT web thuongchieu.net vừa được ĐĐ Quán Hiền tặng quyển "Thiền Tông Việt Nam trên đường phục hưng và hoằng hóa, kính giới thiệu đến quí đọc giả gần xa )

 

Hình ảnh TV Thường Chiếu

Hỉnh ảnh Thiền viện Thường Chiếu

Trang hình ảnh này do anh ĐÀO QUANG QUYẾT - Công ty Wonav Corp
(A2-806 - Chi Linh - Vung Tau)  thực hiện và phát tâm cúng dường cho trang web thuongchieu.net.

BBT xin cảm niệm công đức của anh Quyết và tập thể anh em đã thực hiện bộ ảnh này.   

Kính mới quí đọc giả nhấn (click) chuột để vào xem

HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ TRUNG HOA

HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ TRUNG HOA
HT Thích Nhật Quang giảng giải

luanhoi

.......... Tác phẩm Thiền sư Trung Hoa gồm các tập I, II, III là tuyển tập hành trạng chư vị thiền tổ Trung Quốc do thầy tôi, Hòa thượng thiền sư thượng Thanh hạ Từ soạn dịch. Chữ “hành trạng” nghĩa là nói về cuộc đời cũng như sinh hoạt tu học của quý ngài. Theo cú pháp thời xưa, người Trung Hoa dịch chữ “hành trạng” là công hạnh và tất cả sinh hoạt.

Sử liệu đã ghi chép rõ ràng, đầy đủ hành trạng từ đức Phật, các vị thánh tổ, lịch đại tổ sư, thiện hữu tri thức cho đến thời đại của chúng ta. Một dọc dài từ thượng tổ Ma-ha Ca-diếp ở Ấn Độ cho tới Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma ở Trung Hoa, rồi tới các bậc danh tăng thời của chúng ta đều là những tấm gương sáng cho người cầu học Phật pháp. Trong tác phẩm “Sử 33 vị Tổ thiền tông Ấn-Hoa”, có nói hành trạng của sáu vị thủy tổ Trung Hoa: Tổ Bồ-đề-đạt-ma, Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng. Các ngài là những bậc có chìa khóa mở kho tàng Phật pháp, mang đại nguyện đi vào đời, mở cửa Niết-bàn cho tất cả chúng sanh bước vào. Chúng ta không thể diễn tả, trình bày hay dùng bất cứ phương tiện gì để biểu trưng hết những công đức, việc làm vĩ đại, hành trạng của đức Thế Tôn cũng như các vị Bồ-tát, liệt vị Tổ sư.

Chư vị Bồ-tát thị hiện nơi cõi Ta bà với tâm đại từ bi cứu độ chúng sanh, nơi nào cần các ngài đều có mặt. Do đó trong đạo tràng của chúng ta luôn có sự thị hiện của vô lượng Bồ-tát và thánh nhân. Bởi không thấy được sự hiện diện của các ngài cho nên chúng ta mới siêng tu. Nếu thấy thì chắc rằng chúng ta sẽ cầu xin này kia và không chịu tu. Do đó các ngài thường thị hiện mà ẩn danh. Người tu thiền phải dẹp sạch sự ỷ lại mới nhập thiền. Bởi còn trông chờ, ỷ lại, mong ngóng thì không bao giờ gặp Phật, Bồ-tát. Chừng nào dẹp sạch hết những điều đó, liều mạng sống, liều mạng tu tập, hoan hỷ, nhẫn nại trả tất cả nợ nần cũ thì Phật, Bồ-tát hiển hiện............

Phật tử phát tâm ấn tống sách cúng dường lễ vu lan xin liên lạc:

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
ĐT: 061 8602 008 hoặc 061 3841 071 ( HT Trụ trì Thường Chiếu)

TÁNH HỶ XẢ

HÒA THƯỢNG TỔ SƯ GIẢNG VỀ TÁNH HỶ XẢ
Lễ giỗ Tổ lần thứ 40

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Cung kính ngưỡng bạch Giác linh Tổ sư,
Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư,

Hôm nay Lễ Giỗ Tổ lần thứ 40, để tưởng nhớ đến thâm ân giáo dưỡng và công đức huấn dục của Tổ sư, chúng con trích bài giảng về Hỷ xả của Hòa thượng Tổ sư, kính nguyện Giác linh Hòa thượng Tổ sư chứng giám.

Hỷ của đạo Phật không có nghĩa là vui đùa một cách vô tư, không phải là không cho cái gì là quan trọng, không phải là phớt qua tất cả, để được vui cười một cách ồ ạt, sôi nổi rồi ngày mai ra sao thì ra. Hỷ đây không phải là buông thả cõi lòng để vui theo những cảnh dục lạc ở đời, cũng không phải là tán thành, tùy hỷ để cho người ta làm quấy, làm ác.

Hỷ của đạo Phật là vui theo những điều chân thiện mỹ, là vui vì thấy người khác tạo nhân lành, được quả tốt, là vui vì mình làm cho người và chúng sanh được vui. Cái vui ở đây phát sinh từ lòng từ bi, bình đẳng, chứ không phải vì một lý do ích kỷ nào khác, cái vui bao la rộng lớn toàn thiện, có tánh cách giải thoát, thanh tịnh, chứ không phải hẹp hòi thiển cận. Cái xả ở đây cũng không phải chỉ là sự tha thứ, khoan dung đối với những gì đã làm ta đau khổ, không phải chỉ là sự vứt bỏ ra khỏi lòng ta những bực bội, xót đau mà người khác đã gieo vào lòng ta, không phải chỉ là bỏ qua những gì trái tai gai mắt đối với ta. Xả ở đây có tánh cách tuyệt đối, nghĩa là bỏ ra ngoài tất cả, không chấp trước một cái gì, dù là vật chất hay tinh thần, dù là xấu xa hay tốt đẹp, dù là ở địa vị phàm phu hay đã chứng được quả Thánh. Nếu còn chấp trước nắm giữ một cái gì là còn cái ngã, mà còn cái ngã là còn tất cả, nghĩa là còn chưa giải thoát.

Nói như thế không có nghĩa là người tu hành phải nhắm mắt bịt tai để không thấy, không nghe gì cả, không phải là dửng dưng trước mọi sự mọi vật như đá, như gỗ, không phải là không làm gì cả, đứng khoanh tay như tượng đá. Không! Người theo hạnh xả vẫn thấy, vẫn nghe, nhưng không đắm sắc, mê thanh, không để cho lòng mình vương vấn vào cái thấy cái nghe ấy. Người theo hạnh xả vẫn làm việc, làm việc nhiều hơn ai cả, nhưng vẫn không thấy mình có làm gì, nhất là khi làm được những việc có kết quả tốt đẹp.

Nếu so sánh với tánh nhẫn nhục thì hỷ xả còn cao hơn một bậc. Tánh nhẫn nhục làm cho ta không phát ra nóng giận, bực tức, làm cho ta có sức chịu đựng những khổ nhục, đau xót ở đời, nó cản ngăn không cho cái xấu phát ra. Còn tánh hỷ xả làm cho lòng ta nhẹ nhàng thư thái, phát ra cái vui hồn nhiên trong sáng. Nhẫn nhục như người đang gánh một gánh nặng, phải luôn luôn cố gắng đi cho đến đích. Hỷ xả như người đã trút được gánh nặng, thân xác nhẹ nhàng, tâm hồn khoan khoái, vui vẻ, không bận tâm về một điều gì nữa. Nhẫn nhục như người điều phục voi dữ, luôn luôn phải đề phòng lao tâm khổ trí, để cho nó khỏi phá phách. Hỷ xả như người cỡi ngựa hay đã thuần, có thể thảnh thơi ngao du đây đó, mà không cần chú ý đến con vật mình đang cỡi.

Do đó người có tánh hỷ xả, bao giờ nét mặt cũng vui tươi, nụ cười luôn luôn nở rộng trên môi, tâm hồn sáng sủa, phóng khoáng như một gian phòng rộng, mà tất cả các cửa đều mở toang cho ánh sáng và không khí tràn vào. Người hỷ xả luôn luôn được cảm mến và được tiếp đón nồng hậu khắp nơi, vì đã gây được tín nhiệm và đem không khí hòa vui lại cho mọi người.

Riêng đối với mình, người có tánh hỷ xả không bao giờ bị phiền não quấy nhiễu, không có thù địch ngăn ngại, được nhiều trợ duyên cho nên dễ tiến bước trên đường đạo và mau chứng quả Bồ-đề.

Hình ảnh đức Bổn sư đã được người đời sau tạc lại trong các pho tượng với nụ cười hiền hòa, thanh thoát ở trên môi. Nụ cười ấy tượng trưng cho lòng từ bi, hỷ xả của Ngài. Một pho tượng không có được nụ cười ấy cũng như không có được đôi mắt tượng trưng cho trí tuệ, pho tượng ấy chưa phải là tượng đức Bổn Sư Thích Ca, vì nó thiếu mất những đức tánh căn bản đã đưa Ngài lên địa vị Phật, và đã làm cho người đời sau phân biệt được Ngài với các vị Giáo chủ khác.

Về vật chất, đức Phật trước khi xuất gia đã hoan hỷ xả bỏ những gì quý báu nhất mà người phàm phu ít có thể được: ngai vàng, điện các, ăn ngon, mặc ấm, ngọc ngà, châu báu, vợ đẹp, con ngoan…

Về tinh thần, Ngài xả bỏ tất cả những gì xấu xa mà con người có thể có, do vô minh, di truyền, tập quán, nghiệp báo gây nên. Ngài bỏ qua tất cả những ác ý và hành động nhiễu hại Ngài, của Đề-bà-đạt-đa, A-xà-thế, Vô Não, cô gái ngoại đạo độn bụng vu oan cho Ngài… Ngài đã không chấp nhứt, buồn phiền mà còn thương xót tế độ cho họ.

Ngài xả bỏ luôn tất cả những kết quả tốt đẹp mà Ngài đã thành tựu, làm tất cả mọi việc quý báu trên đời mà vẫn tự thấy không làm gì cả, với một nụ cười trên môi, một nỗi thanh thoát trong lòng. Ngài vui cái vui của người khác, vui khi thấy họ tiến nhanh trên đường giải thoát, vui như cái vui của người mẹ khi thấy con nhỏ bập bẹ nói những tiếng đầu tiên, hay bước những bước chập chững. Cái vui của Ngài không phân biệt thân sơ, không có từng bậc cao thấp, thoát ra ngoài vòng bỉ thử, bao giờ cũng hồn nhiên trong sáng. Nỗi vui ấy đã được thể hiện trong nụ cười bất tận ở trên đôi môi qua những pho tượng của Ngài, và đã làm cho tất cả Phật giáo đồ trên thế giới cảm mến, kính yêu…

Người Phật tử phải dưỡng tánh hỷ xả thế nào trong đời sống hằng ngày? Trước tiên, trong phạm vi thấp nhất, người Phật tử phải tập tánh khoan hòa độ lượng, biết tha thứ những lỗi lầm của người chung quanh. Đừng ghi vào lòng, đừng chấp nệ những lời nói, cử chỉ, hành động không đẹp đẽ của người khác đối với ta. Hãy nghĩ rằng đó là những điều sơ xuất vì vô tình hay vụng về mà ra. Nếu ta có bằng chứng về lòng xấu xa, độc ác của người muốn hại ta đi nữa, thì cũng nên tự nhủ rằng những người ấy đáng thương hơn đáng trách, vì họ thiếu sáng suốt, thiếu căn lành, và sự thiếu thốn ấy sẽ đem lại cho đời họ nhiều đau khổ lắm rồi, ta không nên làm cho họ đau khổ hơn nữa. Nếu ta ôm ấp những nỗi bực tức oán thù thì ta chỉ tạo cho ta thêm nhiều đau khổ, như người bị bắn trúng mũi tên độc mà không chịu rút ra. Ta sẽ mất ăn mất ngủ, mất thì giờ, mất bình tĩnh trong công việc làm ăn, tu học. Ta sẽ ung độc đời ta một cách khờ dại, vô ích và ung độc luôn cả gia đình, xã hội, trong ấy ta đang sống nữa.

Tiến lên một tầng cao hơn, ta phải tập biến dần tánh thù ghét ra thành tánh hoan hỷ. Thấy người khác thành công, ta không ganh ghét, dù đó là kẻ đã làm cho ta đau khổ. Trái lại, ta còn vui mừng với họ, hoan hỷ tán thán sự thành công của họ, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát.

Tiến lên một tầng cao hơn nữa, ta phải tập xả bỏ những gì ta quý báu dù là vật chất hay tinh thần. Có bỏ bớt hành lý nặng nề, ta mới đi xa được, mới lên cao được. Nếu ta ôm giữ một cái gì, thì cái ấy chỉ làm vướng chân ta, níu ta lại. Trong đời, ta thường thấy những người giàu có bao nhiêu, chức phận bao nhiêu, lại bận bịu vương vấn bấy nhiêu, như chim vướng phải lưới, càng gỡ càng mắc thêm.

Về phương diện tu hành cũng thế, những người chứng được quả này quả khác, mà chấp chặt quả ấy, thỏa mãn với sự thành công của mình, những người cố chấp như thế, không bao giờ tiến xa được. Cho nên người Phật tử phải tập xả dần, xả tất cả. Con tằm sở dĩ thành bướm bay lượn đó đây, vì nó đã rời bỏ cái kén, dù đó là một cái kén bằng tơ vàng óng ánh, ấm áp, đẹp đẽ mịn màng vô cùng. Cùng một nghĩa ấy, đức Phật có dạy: “Niệm mà không chấp có niệm mới là niệm, hành mà không chấp có hành mới là hành, nói mà không chấp có nói mới là nói, tu mà không chấp có tu mới là tu” (Kinh 42 chương).

Nhưng xả mà buồn rầu thì tốt hơn đừng xả. Xả không phải là một sự hy sinh thường làm cho người hy sinh phải đau khổ. Xả mà còn tiếc nuối, còn than thở cho cái mà mình đã bỏ đi, xả với bộ mặt buồn rầu, than khóc như kẻ đi đưa đám ma, xả như thế nào có ích gì!

Xả phải đi đôi với hỷ. Phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng như người tù khi tháo gỡ được xiềng xích. Tu sung sướng, vui mừng vì thấy mình nhẹ nhàng, khoan khoái hơn trước. Xả là một cử chỉ tháo gỡ để được giải thoát, cho nên ta vui mừng, chứ không phải là một sự trói buộc mà phải khóc than.

Phát triển được tánh hỷ xả như thế, tức là dưỡng tánh hỷ xả của Phật mà ta đã sẵn có, ở trạng thái tiềm tàng trong ta.

Giờ đây trước án tiền giác linh của cố Hòa thượng, toàn thể hàng môn hạ pháp tử, pháp tôn chúng con nguyện một lòng vâng theo di huấn của Hòa thượng, xin suốt đời nỗ lực tu học, noi gương Hòa thượng làm tròn sứ mệnh của người con Phật, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, ngõ hầu đền đáp phần nào công đức sâu dày của Thầy Tổ.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.