headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 21/11/2017 - Ngày 4 Tháng 10 Năm Đinh Dậu - PL 2561 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtriductang Mong
 Video - Sám hối 6 căn

HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ TRUNG HOA

HÀNH TRẠNG THIỀN SƯ TRUNG HOA
HT Thích Nhật Quang giảng giải

luanhoi

.......... Tác phẩm Thiền sư Trung Hoa gồm các tập I, II, III là tuyển tập hành trạng chư vị thiền tổ Trung Quốc do thầy tôi, Hòa thượng thiền sư thượng Thanh hạ Từ soạn dịch. Chữ “hành trạng” nghĩa là nói về cuộc đời cũng như sinh hoạt tu học của quý ngài. Theo cú pháp thời xưa, người Trung Hoa dịch chữ “hành trạng” là công hạnh và tất cả sinh hoạt.

Sử liệu đã ghi chép rõ ràng, đầy đủ hành trạng từ đức Phật, các vị thánh tổ, lịch đại tổ sư, thiện hữu tri thức cho đến thời đại của chúng ta. Một dọc dài từ thượng tổ Ma-ha Ca-diếp ở Ấn Độ cho tới Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma ở Trung Hoa, rồi tới các bậc danh tăng thời của chúng ta đều là những tấm gương sáng cho người cầu học Phật pháp. Trong tác phẩm “Sử 33 vị Tổ thiền tông Ấn-Hoa”, có nói hành trạng của sáu vị thủy tổ Trung Hoa: Tổ Bồ-đề-đạt-ma, Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng. Các ngài là những bậc có chìa khóa mở kho tàng Phật pháp, mang đại nguyện đi vào đời, mở cửa Niết-bàn cho tất cả chúng sanh bước vào. Chúng ta không thể diễn tả, trình bày hay dùng bất cứ phương tiện gì để biểu trưng hết những công đức, việc làm vĩ đại, hành trạng của đức Thế Tôn cũng như các vị Bồ-tát, liệt vị Tổ sư.

Chư vị Bồ-tát thị hiện nơi cõi Ta bà với tâm đại từ bi cứu độ chúng sanh, nơi nào cần các ngài đều có mặt. Do đó trong đạo tràng của chúng ta luôn có sự thị hiện của vô lượng Bồ-tát và thánh nhân. Bởi không thấy được sự hiện diện của các ngài cho nên chúng ta mới siêng tu. Nếu thấy thì chắc rằng chúng ta sẽ cầu xin này kia và không chịu tu. Do đó các ngài thường thị hiện mà ẩn danh. Người tu thiền phải dẹp sạch sự ỷ lại mới nhập thiền. Bởi còn trông chờ, ỷ lại, mong ngóng thì không bao giờ gặp Phật, Bồ-tát. Chừng nào dẹp sạch hết những điều đó, liều mạng sống, liều mạng tu tập, hoan hỷ, nhẫn nại trả tất cả nợ nần cũ thì Phật, Bồ-tát hiển hiện............

Phật tử phát tâm ấn tống sách cúng dường lễ vu lan xin liên lạc:

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
ĐT: 061 8602 008 hoặc 061 3841 071 ( HT Trụ trì Thường Chiếu)

Hình ảnh TV Thường Chiếu

Hỉnh ảnh Thiền viện Thường Chiếu

Trang hình ảnh này do anh ĐÀO QUANG QUYẾT - Công ty Wonav Corp
(A2-806 - Chi Linh - Vung Tau)  thực hiện và phát tâm cúng dường cho trang web thuongchieu.net.

BBT xin cảm niệm công đức của anh Quyết và tập thể anh em đã thực hiện bộ ảnh này.   

Kính mới quí đọc giả nhấn (click) chuột để vào xem

THANH TỪ TOÀN TẬP

thanhtutoantap

LỜI DẪN
luanhoi

thanhtutoantap3Thiền tông Việt Nam luôn là mạch sống tuôn chảy trong lòng Phật giáo và dân tộc suốt từ thế kỷ thứ VI đến nay. Có lúc mạnh mẽ tuôn tràn giữa ngàn hoa đô hội, có lúc len lỏi âm thầm trong núi sâu rừng thẳm, ung dung thoát tục, khuất tịch tiêu sái. Tuy nhiên, mạch sống thiền xưa nay vẫn như vậy, không đến không đi, là dòng sinh mệnh muôn thuở của những bậc thức tâm đạt bổn.

Hòa thượng tôn sư thượng Thanh hạ Từ khi mới vào đạo cho đến hôm nay đã lấy thiền làm mạng sống, nuôi dưỡng công phu qua những giai đoạn hành thiền nghiêm cẩn. Cuối cùng ngài thấu tỏ được lời Phật ý Tổ bằng chính sự nỗ lực không ngừng. Dòng thiền Việt Nam sau gần bảy trăm năm đi vào quên lãng, đã được Hòa thượng thắp sáng trở lại. Ngài nói:

“Thiền tông là cốt tủy của Phật giáo. Bởi vì muốn chỉ chân lý hiện hữu nơi con người, song ngại người ta khinh thường và dễ quên, nên kinh điển Đại thừa nói bằng cách diễn giảng những hình ảnh thâm sâu khó hiểu, còn thiền sư dùng thuật xuất quỷ nhập thần khiến người ta mờ mịt không có lối vào. Nếu ai tháo gỡ được cây chốt bí mật ấy, tự nhiên thấy nó chân thật bình dị vô cùng. Chừng đó mới thấy Kinh và Thiền không có hai lối. Tuy nhiên Thiền tông luôn luôn tuyên bố Giáo ngoại biệt truyền, cốt dẫn hành giả thấy đến nơi sống chân thật, không mắc kẹt trên văn tự ngữ ngôn, không chết chìm trong suy tư lý luận. Nếu Thiền tông khác với kinh Phật tức không phải đạo Phật rồi. Chính vì lẽ đó, Thiền và Kinh luôn song hành để đưa hành giả đến nơi rốt ráo chân thật.”

Những năm theo học tại Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang, Hòa thượng là người siêng năng cần mẫn toàn tâm duyệt tạng. Tuy nhiên chỉ thú kinh điển Đại thừa đối với ngài lúc bấy giờ thật xa xôi diệu vợi. Về sau, nhân duyên được một Phật tử cúng dường Đại tạng, Hòa thượng xem đây là linh hồn của ngài trên khắp mọi nẻo đường tu học cũng như hành đạo. Khi về Phương Bối am, đây là thời gian tốt nhất để ngài vừa tu thiền vừa nghiên cứu kinh điển và dịch thuật. Giáo nghĩa Đại thừa và Thiền tông dần dần sáng tỏ. Các tác phẩm, dịch phẩm của Hòa thượng ra đời như: Tham Thiền Yếu Chỉ, Tọa Thiền Dụng Tâm Ký, Tọa Thiền Tam Muội v.v… đã mở đầu cho sự nghiệp văn học thiền của ngài.

Rời Phương Bối về Huệ Nghiêm, Hòa thượng tiếp tục con đường hoằng pháp lợi sanh và luôn giữ hoài bão tu thiền mãnh liệt. Đến năm 1966, Hòa thượng về Núi Lớn - Vũng Tàu, dựng Pháp Lạc thất chuyên tâm tu thiền. Đại duyên đại chí khởi phát, cánh cửa Không mở toang, con đường thiền rực sáng, toàn bộ giáo nghĩa Thiền tông hoát nhiên thông thống. Hòa thượng thống khoái chống gậy xuống núi, dựng pháp tràng lập tông chỉ, tiếp tăng độ chúng.

Thiền viện Chơn Không ra đời. Con đường thiền giáo đồng hành được Hòa thượng mở ra hướng dẫn cho tăng ni Phật tử hữu duyên. Vừa hành thiền, vừa dịch thuật, vừa giảng dạy, ngài đã thật sự làm sống dậy dòng thiền Việt Nam vào cuối thế kỷ XX. Nhiều tác phẩm, dịch phẩm thiền tiếp tục xuất hiện như: Xuân Trong Cửa Thiền, Bát-nhã Tâm Kinh, Nguồn Thiền, Luận Tối Thượng Thừa, Thiền Căn Bản, Thiền Đốn Ngộ, Sử 33 Vị Tổ Ấn Hoa, Thiền Sư Trung Hoa, Bích Nham Lục v.v… lần lượt ra đời, đáp ứng nhu cầu tu thiền của tăng ni Phật tử ngày càng đông.

Năm 1974, thiền viện Thường Chiếu ra đời, Thiền tông Việt Nam bước sang một bước ngoặt mới. Tu học và lao động trở thành phương châm sống của thiền sinh. Tuy khó khăn kham khổ mà thầy trò vẫn tươi vui, tin tưởng. Cuộc sống được khai hoang từ những mảnh đất khô cằn vụn vỡ. Đó chính là sức sống thiền, tuôn chảy từ trong nguồn tâm sâu thẳm của sự tỉnh thức an nhiên. Pháp hóa của Hòa thượng cứ thế lan tỏa vào đời, Thường Chiếu trở thành tổ đình truyền bá Thiền tông Việt Nam. Cuối đông 1991 Hòa thượng cho ra đời tác phẩm Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ XX, nói lên con đường tu tập của dòng thiền Chơn Không - Thường Chiếu. Kinh sách của Hòa thượng đã trở thành cẩm nang cho hành giả tu thiền Việt Nam: Nguồn An Lạc, Hoa Vô Ưu, Quy Sơn Cảnh Sách, Bát Đại Nhân Giác, Thập Nhị Môn Luận, Kim Cang, Viên Giác, Pháp Hoa, Pháp Bảo Đàn, Lăng-già, Trung Quán, Thiền Sư Việt Nam v.v… đã được tăng ni Phật tử đọc tụng hành trì dưới sự giảng giải cặn kẽ của Hòa thượng.

Năm 1993, thiền viện Trúc Lâm ra đời, đây là đỉnh cao của hành trình khôi phục dòng thiền nước Việt. Thiền tông Việt Nam phát triển rực rỡ. Lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, tất cả các nghi thức tụng niệm và hành lễ đều được Việt hóa hoàn toàn tại thiền viện Trúc Lâm, cũng như các thiền viện trực thuộc dòng thiền của Høòa thượng. Những tác phẩm ra đời tại thiền viện Trúc Lâm như: Phụng Hoàng Cảnh Sách, Tiến Thẳng Vào Thiền Tông, Khóa Hư Lục, Tham Đồ Hiển Quyết và Thi Tụng Các Thiền Sư Đời Lý, Mười Bức Tranh Chăn Trâu, Thiền Tông Bản Hạnh, Kiến Tánh Thành Phật, Thánh Đăng Lục, Tam Tổ Trúc Lâm v.v… Có thể nói sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh và sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng đã cống hiến cho Phật giáo Việt Nam một kho tàng trí tuệ quý báu vô lượng.

Năm 1997, Ban Văn Hoá Thường Chiếu ra đời dưới sự chủ trì của ngài. Tăng ni hàng môn hạ vâng theo sự chỉ giáo của Hòa thượng ân sư, cùng nhau biên tập lại toàn bộ tác phẩm, dịch phẩm của ngài trong suốt những chặng đường hoằng truyền chánh pháp mà Hòa thượng đã tâm tâm niệm niệm vì đạo pháp vì chúng sanh. Sự nghiệp văn học của ngài được gầy dựng từ khi còn là tăng sĩ trẻ cho đến những năm gần cuối đời thật không gì có thể sánh nổi. Bởi vì ở đó là kho tàng vô giá của trí tuệ và công phu, những kinh nghiệm tu tập quý báu của một bậc thầy lớn, một thiền sư, một chân tăng thật tu thật ngộ.

Không kể đến những công trình dịch thuật, sáng tác, thi kệ về thiền tông, không kể đến những tác phẩm giảng giải thâm thúy bình dị, không kể đến những năm tháng miệt mài bên những trang giáo án dành cho tăng ni tứ chúng… Sáng giá nhất là toàn bộ cuộc đời tu tập và hành đạo của ngài. Đây mới chính là tác phẩm vô giá trong sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng. Văn là người. Mượn đầu bút xoay chuyển dòng nghiệp thức muôn đời, giúp chúng sanh chuyển mê khai ngộ, mang hạnh nguyện tự lợi lợi tha đi vào đời, cho nên toàn bộ tác phẩm của Hòa thượng cũng chính là con người của ngài. Một ngôi sao sáng trong văn học thiền Việt Nam cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Ở đó ánh lên những chất vị cao đẹp tinh khiết mà đậm đà dễ gần dễ đến của một thiền sư Việt Nam: chân chất, bình dị, trí tuệ và tròn đầy bi mẫn.

Có thể nói sự nghiệp văn học thiền của Hòa thượng đã đóng góp cho nền văn học Phật giáo Việt Nam nói chung và nền văn học Thiền tông Việt Nam nói riêng  một kho báu trí tuệ và kinh nghiệm tu tập vô cùng quý giá. Tăng ni Phật tử Việt Nam không thể nào nói hết lòng cảm kích tri ân đối với ngài. Thông qua kinh sách và băng giảng của Hòa thượng, người sau có thể lần mò theo dấu vết người trước, nhận được nguồn sống tâm linh của một bậc chân tăng, một thiền sư Việt Nam vào thế kỷ XXI. Từ đó noi theo tu tập ngõ hầu thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát cho chính mình.

Bên cạnh con đường thực chứng tâm linh, hoằng pháp và văn hóa là sự nghiệp độ sanh sáng chói nhất của Hòa thượng. Đây là niềm vinh hạnh và là tấm gương sáng cho tăng ni Phật tử Việt Nam. Muốn giữ gìn và rộng truyền công đức của ngài, quả là một việc làm quá sức đối với hàng đệ tử thô tâm thiển trí. Song không thể để cho pháp bảo vô giá và một đời giáo hóa của thầy tổ bị mai một, chúng tôi đã chẳng ngại tài hèn sức mọn, công phu kém cỏi, cùng nhau tận tâm tận lực biên tập và hệ thống lại toàn bộ kinh sách của Hòa thượng ân sư. Hy vọng bộ Thanh Từ Toàn Tập tái bản lần này sẽ đầy đủ và hoàn chỉnh hơn bộ Thanh Từ Toàn Tập đầu tiên đã ra mắt độc giả vào năm 2002.

Việc làm này nếu không có sự gia trì của Tam bảo, sự chỉ đạo của Hòa thượng ân sư, sự nhất tâm hòa hợp của chư huynh đệ, sự phát tâm hỷ cúng tài lực của mười phương tín thí, có lẽ Phật sự này khó có thể thành tựu. Tất cả đều vì xiển dương chánh pháp, xiển dương Thiền tông Việt Nam, vì hết lòng tưởng nhớ công ơn giáo dưỡng của thầy tổ, mà hướng tâm về pháp bảo, mong phần nào đền đáp thâm ân rộng sâu của Ân sư, thực hiện hoài bão của thầy tổ, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn.

Công đức có được chúng tôi xin dâng lên cúng dường Hòa thượng ân sư, nguyện ngài sống lâu nơi đời, là nơi nương tựa tâm linh cho tăng ni tứ chúng trên con đường tu học cho tới ngày viên mãn. Đồng nguyện hồi hướng về pháp giới chúng sanh chuyển mê khai ngộ, tịnh hóa thân tâm, mỗi mỗi đều được hàm triêm lợi lạc.

Chúng con xin thành tâm đê đầu đảnh lễ sám hối Thầy, vì những lỗi lầm sai sót trong khi chấp bút biên tập lại kinh sách và băng giảng của Thầy, vì sự hạn chế về trí tuệ cũng như công phu tu tập của chúng đệ tử. Chúng con cùng nguyện theo chân Thầy học đạo cho tới ngày thành tựu giác ngộ viên mãn mới thôi.

Xin được cảm kích tri ân các pháp hữu hoan hỷ chỉ bảo cho những sai sót khó tránh khỏi của bộ sách. Sau cùng xin cảm niệm công đức tất cả quý Phật tử gần xa đã tùy tâm ủng hộ cho Phật sự in ấn bộ Thanh Từ Toàn Tập được thành tựu viên mãn.

Thiền viện Thường Chiếu, ngày 12-12-2012
TM. BAN VĂN HÓA THƯỜNG CHIẾU
THÍCH NHẬT QUANG

- Chư Tăng Ni và Phật tử muốn phát tâm cúng dường  Ấn tống hoặc thỉnh bộ sách Thanh Từ Toàn Tập  liên lạc:
  ĐT:  0909080306 - 061.8602.008 (Thầy Đạo Huy) 

  Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

+ Có thể chuyển tiền cúng dường vào tài khoản VND:
  Số tài khoản: 3996.8899
- Tên: ĐỖ VĂN HOÀI  (HT Thích Nhật Quang)
  Ngân hàng Á Châu ACB -  Chi nhánh HỘI SỞ  TPHCM.
 
(Nhớ ghi Tin nhắn và Số điện thoại khi chuyển tiền để quí Thầy báo tin)

 

 + Tài khoản USD chuyển từ nước ngoài số:  3996.9159
  -  Swiftcode: ASCBVNVX
  - ASIA COMMERCIAL BANK
  - Tên: ĐỖ VĂN HOÀI  (HT Thích Nhật Quang)
  - Ngân hàng Á Châu ACB - Chi nhánh HỘI SỞ  TPHCM.

ACBBANK

 Xin lưu ý:  Sau khi chuyển tiền xin nhắn tin đến số điện thoại 0909080306 hoặc

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để các Thầy kiểm tra và hồi báo.

 

 newĐể nhận sách vui lòng đem theo "Phiếu theo dõi "  này  icon down (click để download)

 

 

TÁNH HỶ XẢ

HÒA THƯỢNG TỔ SƯ GIẢNG VỀ TÁNH HỶ XẢ
Lễ giỗ Tổ lần thứ 40

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Cung kính ngưỡng bạch Giác linh Tổ sư,
Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư,

Hôm nay Lễ Giỗ Tổ lần thứ 40, để tưởng nhớ đến thâm ân giáo dưỡng và công đức huấn dục của Tổ sư, chúng con trích bài giảng về Hỷ xả của Hòa thượng Tổ sư, kính nguyện Giác linh Hòa thượng Tổ sư chứng giám.

Hỷ của đạo Phật không có nghĩa là vui đùa một cách vô tư, không phải là không cho cái gì là quan trọng, không phải là phớt qua tất cả, để được vui cười một cách ồ ạt, sôi nổi rồi ngày mai ra sao thì ra. Hỷ đây không phải là buông thả cõi lòng để vui theo những cảnh dục lạc ở đời, cũng không phải là tán thành, tùy hỷ để cho người ta làm quấy, làm ác.

Hỷ của đạo Phật là vui theo những điều chân thiện mỹ, là vui vì thấy người khác tạo nhân lành, được quả tốt, là vui vì mình làm cho người và chúng sanh được vui. Cái vui ở đây phát sinh từ lòng từ bi, bình đẳng, chứ không phải vì một lý do ích kỷ nào khác, cái vui bao la rộng lớn toàn thiện, có tánh cách giải thoát, thanh tịnh, chứ không phải hẹp hòi thiển cận. Cái xả ở đây cũng không phải chỉ là sự tha thứ, khoan dung đối với những gì đã làm ta đau khổ, không phải chỉ là sự vứt bỏ ra khỏi lòng ta những bực bội, xót đau mà người khác đã gieo vào lòng ta, không phải chỉ là bỏ qua những gì trái tai gai mắt đối với ta. Xả ở đây có tánh cách tuyệt đối, nghĩa là bỏ ra ngoài tất cả, không chấp trước một cái gì, dù là vật chất hay tinh thần, dù là xấu xa hay tốt đẹp, dù là ở địa vị phàm phu hay đã chứng được quả Thánh. Nếu còn chấp trước nắm giữ một cái gì là còn cái ngã, mà còn cái ngã là còn tất cả, nghĩa là còn chưa giải thoát.

Nói như thế không có nghĩa là người tu hành phải nhắm mắt bịt tai để không thấy, không nghe gì cả, không phải là dửng dưng trước mọi sự mọi vật như đá, như gỗ, không phải là không làm gì cả, đứng khoanh tay như tượng đá. Không! Người theo hạnh xả vẫn thấy, vẫn nghe, nhưng không đắm sắc, mê thanh, không để cho lòng mình vương vấn vào cái thấy cái nghe ấy. Người theo hạnh xả vẫn làm việc, làm việc nhiều hơn ai cả, nhưng vẫn không thấy mình có làm gì, nhất là khi làm được những việc có kết quả tốt đẹp.

Nếu so sánh với tánh nhẫn nhục thì hỷ xả còn cao hơn một bậc. Tánh nhẫn nhục làm cho ta không phát ra nóng giận, bực tức, làm cho ta có sức chịu đựng những khổ nhục, đau xót ở đời, nó cản ngăn không cho cái xấu phát ra. Còn tánh hỷ xả làm cho lòng ta nhẹ nhàng thư thái, phát ra cái vui hồn nhiên trong sáng. Nhẫn nhục như người đang gánh một gánh nặng, phải luôn luôn cố gắng đi cho đến đích. Hỷ xả như người đã trút được gánh nặng, thân xác nhẹ nhàng, tâm hồn khoan khoái, vui vẻ, không bận tâm về một điều gì nữa. Nhẫn nhục như người điều phục voi dữ, luôn luôn phải đề phòng lao tâm khổ trí, để cho nó khỏi phá phách. Hỷ xả như người cỡi ngựa hay đã thuần, có thể thảnh thơi ngao du đây đó, mà không cần chú ý đến con vật mình đang cỡi.

Do đó người có tánh hỷ xả, bao giờ nét mặt cũng vui tươi, nụ cười luôn luôn nở rộng trên môi, tâm hồn sáng sủa, phóng khoáng như một gian phòng rộng, mà tất cả các cửa đều mở toang cho ánh sáng và không khí tràn vào. Người hỷ xả luôn luôn được cảm mến và được tiếp đón nồng hậu khắp nơi, vì đã gây được tín nhiệm và đem không khí hòa vui lại cho mọi người.

Riêng đối với mình, người có tánh hỷ xả không bao giờ bị phiền não quấy nhiễu, không có thù địch ngăn ngại, được nhiều trợ duyên cho nên dễ tiến bước trên đường đạo và mau chứng quả Bồ-đề.

Hình ảnh đức Bổn sư đã được người đời sau tạc lại trong các pho tượng với nụ cười hiền hòa, thanh thoát ở trên môi. Nụ cười ấy tượng trưng cho lòng từ bi, hỷ xả của Ngài. Một pho tượng không có được nụ cười ấy cũng như không có được đôi mắt tượng trưng cho trí tuệ, pho tượng ấy chưa phải là tượng đức Bổn Sư Thích Ca, vì nó thiếu mất những đức tánh căn bản đã đưa Ngài lên địa vị Phật, và đã làm cho người đời sau phân biệt được Ngài với các vị Giáo chủ khác.

Về vật chất, đức Phật trước khi xuất gia đã hoan hỷ xả bỏ những gì quý báu nhất mà người phàm phu ít có thể được: ngai vàng, điện các, ăn ngon, mặc ấm, ngọc ngà, châu báu, vợ đẹp, con ngoan…

Về tinh thần, Ngài xả bỏ tất cả những gì xấu xa mà con người có thể có, do vô minh, di truyền, tập quán, nghiệp báo gây nên. Ngài bỏ qua tất cả những ác ý và hành động nhiễu hại Ngài, của Đề-bà-đạt-đa, A-xà-thế, Vô Não, cô gái ngoại đạo độn bụng vu oan cho Ngài… Ngài đã không chấp nhứt, buồn phiền mà còn thương xót tế độ cho họ.

Ngài xả bỏ luôn tất cả những kết quả tốt đẹp mà Ngài đã thành tựu, làm tất cả mọi việc quý báu trên đời mà vẫn tự thấy không làm gì cả, với một nụ cười trên môi, một nỗi thanh thoát trong lòng. Ngài vui cái vui của người khác, vui khi thấy họ tiến nhanh trên đường giải thoát, vui như cái vui của người mẹ khi thấy con nhỏ bập bẹ nói những tiếng đầu tiên, hay bước những bước chập chững. Cái vui của Ngài không phân biệt thân sơ, không có từng bậc cao thấp, thoát ra ngoài vòng bỉ thử, bao giờ cũng hồn nhiên trong sáng. Nỗi vui ấy đã được thể hiện trong nụ cười bất tận ở trên đôi môi qua những pho tượng của Ngài, và đã làm cho tất cả Phật giáo đồ trên thế giới cảm mến, kính yêu…

Người Phật tử phải dưỡng tánh hỷ xả thế nào trong đời sống hằng ngày? Trước tiên, trong phạm vi thấp nhất, người Phật tử phải tập tánh khoan hòa độ lượng, biết tha thứ những lỗi lầm của người chung quanh. Đừng ghi vào lòng, đừng chấp nệ những lời nói, cử chỉ, hành động không đẹp đẽ của người khác đối với ta. Hãy nghĩ rằng đó là những điều sơ xuất vì vô tình hay vụng về mà ra. Nếu ta có bằng chứng về lòng xấu xa, độc ác của người muốn hại ta đi nữa, thì cũng nên tự nhủ rằng những người ấy đáng thương hơn đáng trách, vì họ thiếu sáng suốt, thiếu căn lành, và sự thiếu thốn ấy sẽ đem lại cho đời họ nhiều đau khổ lắm rồi, ta không nên làm cho họ đau khổ hơn nữa. Nếu ta ôm ấp những nỗi bực tức oán thù thì ta chỉ tạo cho ta thêm nhiều đau khổ, như người bị bắn trúng mũi tên độc mà không chịu rút ra. Ta sẽ mất ăn mất ngủ, mất thì giờ, mất bình tĩnh trong công việc làm ăn, tu học. Ta sẽ ung độc đời ta một cách khờ dại, vô ích và ung độc luôn cả gia đình, xã hội, trong ấy ta đang sống nữa.

Tiến lên một tầng cao hơn, ta phải tập biến dần tánh thù ghét ra thành tánh hoan hỷ. Thấy người khác thành công, ta không ganh ghét, dù đó là kẻ đã làm cho ta đau khổ. Trái lại, ta còn vui mừng với họ, hoan hỷ tán thán sự thành công của họ, nhất là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát.

Tiến lên một tầng cao hơn nữa, ta phải tập xả bỏ những gì ta quý báu dù là vật chất hay tinh thần. Có bỏ bớt hành lý nặng nề, ta mới đi xa được, mới lên cao được. Nếu ta ôm giữ một cái gì, thì cái ấy chỉ làm vướng chân ta, níu ta lại. Trong đời, ta thường thấy những người giàu có bao nhiêu, chức phận bao nhiêu, lại bận bịu vương vấn bấy nhiêu, như chim vướng phải lưới, càng gỡ càng mắc thêm.

Về phương diện tu hành cũng thế, những người chứng được quả này quả khác, mà chấp chặt quả ấy, thỏa mãn với sự thành công của mình, những người cố chấp như thế, không bao giờ tiến xa được. Cho nên người Phật tử phải tập xả dần, xả tất cả. Con tằm sở dĩ thành bướm bay lượn đó đây, vì nó đã rời bỏ cái kén, dù đó là một cái kén bằng tơ vàng óng ánh, ấm áp, đẹp đẽ mịn màng vô cùng. Cùng một nghĩa ấy, đức Phật có dạy: “Niệm mà không chấp có niệm mới là niệm, hành mà không chấp có hành mới là hành, nói mà không chấp có nói mới là nói, tu mà không chấp có tu mới là tu” (Kinh 42 chương).

Nhưng xả mà buồn rầu thì tốt hơn đừng xả. Xả không phải là một sự hy sinh thường làm cho người hy sinh phải đau khổ. Xả mà còn tiếc nuối, còn than thở cho cái mà mình đã bỏ đi, xả với bộ mặt buồn rầu, than khóc như kẻ đi đưa đám ma, xả như thế nào có ích gì!

Xả phải đi đôi với hỷ. Phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng như người tù khi tháo gỡ được xiềng xích. Tu sung sướng, vui mừng vì thấy mình nhẹ nhàng, khoan khoái hơn trước. Xả là một cử chỉ tháo gỡ để được giải thoát, cho nên ta vui mừng, chứ không phải là một sự trói buộc mà phải khóc than.

Phát triển được tánh hỷ xả như thế, tức là dưỡng tánh hỷ xả của Phật mà ta đã sẵn có, ở trạng thái tiềm tàng trong ta.

Giờ đây trước án tiền giác linh của cố Hòa thượng, toàn thể hàng môn hạ pháp tử, pháp tôn chúng con nguyện một lòng vâng theo di huấn của Hòa thượng, xin suốt đời nỗ lực tu học, noi gương Hòa thượng làm tròn sứ mệnh của người con Phật, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, ngõ hầu đền đáp phần nào công đức sâu dày của Thầy Tổ.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Sử 33 Vị Tổ Ấn Hoa

LỜI ĐẦU SÁCH

su3vito2

Đức Thế Tôn thị hiện ra đời đã trên 25 thế kỷ, là vị giáo chủ cõi Ta-bà, đấng toàn giác, toàn trí, toàn năng. Bằng ánh sáng tuệ giác vô biên, Thế Tôn đã đưa muôn vạn sinh linh ra khỏi vô minh tăm tối, dựng lại mọi đổ nát mê đồ. Từ đó, cõi nhân gian bừng sáng, kiếp phiêu linh kịp bước quay về. Nói cho cùng Ngài đã cứu sống muôn loài đang trầm nịch giữa mê tân khổ thống, mở ra một chân trời tịnh thanh, một cõi đi về an vui giải thoát.

Ngọn tâm đăng sáng mãi, thay Thế Tôn hoằng hóa độ sanh. Thượng tổ Ca-diếp, tôn giả A-nan… các ngài luôn có mặt, cùng nhau tiếp nối mạng mạch tâm tông, làm lợi ích khắp muôn sinh. Kế thừa Tổ đạo, chư vị tổ sư Mã Minh, Long Thọ khơi dậy, xương minh, tôn giả Đề-bà dẫn luận dẹp tan tà pháp, khiến Phật đạo hưng thịnh, mười phương hải hội cùng về.

Mặt trời Phật chiếu soi, Tổ Tổ tương thừa. Giọt máu vút cao như sữa trắng của tổ Sư Tử, minh chứng cho thân năm uẩn không thật thì sá gì nghiệp trả nghiệp. Chỉ làm sao đèn Phật sáng mãi, chúng nhân thiên lợi lạc không cùng. Hơn thế nữa, cõi Tây Thiên Phật đạo quang huy, trời Trung thổ thiền phong lan tỏa. Bồ-đề tổ sư sang Đông, đất bằng dậy sóng. Chín năm diện bích, một tráng sĩ chặt tay, để lại bài pháp an tâm vang rền chấn động. Mọi tăm tối như mớ bòng bong giờ xóa tan, không còn lý do vẩn vơ vọng đôïng nữa.

Dòng thiền tuôn chảy mãi tận Tào Khê Tân Châu. Nơi đây, rừng sâu núi thẳm xuất hiện một tiều phu cũng ngâm nga bản lai vô nhất vật. Chân trời thông thống mở toang, một cõi yên bình muôn thuở. Để từ đó năm tông bảy phái tiếp vãng khai lai, đời đời ngọn đèn Phật sáng soi, đưa chúng sanh đồng về Phật đạo.

Hôm nay đầy đủ duyên lành, tôi cùng chư huynh đệ trong tông môn ngẫm lại đoạn nhân duyên xuất thế độ sanh, từ đức Thế Tôn đến Thượng tổ Ca-diếp, Tổ Tổ kế thừa. Ấn Độ Trung Hoa, duy nhất một dòng truyền tỏa sáng Phật tâm tông, lợi lạc quần mê.

Tuy nhiên như vậy, tôi tự thẹn mình không lượng sức, dám lạm bàn Phật Tổ môn phong. Thật đáng trách! Song, trộm nghĩ thâm ân Phật Tổ, công đức của Ân sư nên gượng truyền đạt cho người sau cùng biết cùng tu, hoàn chỉnh nhân duyên thừa hành Phật đạo, viên mãn công đức. Một việc làm coi như tự múa rìu trước cửa Lỗ Bang. Xin được sám hối.

Có bao nhiêu công đức, hướng về pháp giới chúng sanh, nguyện kết duyên lành đồng thành Phật đạo.

Thiền viện Thường Chiếu, 01.01.2013
Kính ghi,
THÍCH NHẬT QUANG