headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 21/11/2017 - Ngày 4 Tháng 10 Năm Đinh Dậu - PL 2561 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtriductang Mong
 Video - Sám hối 6 căn

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN - Thiền Thất Thường Lạc

 

Vénérable THÍCH THANH TỪ

 

METHODE DE MEDITATION ASSISE

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN

 

PREFACE

 

Cette méthode de méditation assise selon la voie de Thiền Tông Việt Nam [Bouddhisme Zen Vietnamien] comprend un certain nombre de mouvements de base appliqués à notre pratique. Elle a servi de guide aux moines et moniales dans les différents monastères de méditation, mais également aux bouddhistes laïcs désireux de la suivre à domicile.

De par nos expériences, nous avons pu observer des résultats évidents chez les pratiquants comme l’acquisition progressive d’un état calme physique et spirituel, le renforcement quotidien d’une sagesse les menant à une vie perfectible et paisible, au travers d’actions  ‘‘moins égocentriques et plus altruistes’’ apportant le bon, le beau et le serein pour eux-mêmes, à leurs familles et la société.

Ces derniers temps, de nombreuses communautés religieuses et laïques ont sollicité notre enseignement dans le désir d’apprendre et de pratiquer cette méthode.

Afin de répondre à ce besoin, nous avons mis à jour et réédité ce petit manuel en espérant qu’il constituera une aide utile à tout pratiquant monastique ou laïc débutant, attiré par le Thiền Tông Vietnamien. 

Monastère Trúc Lâm Dalat

Fête du Vesak année 2553

du calendrier Bouddhique (2009)

Vénérable THÍCH THANH TỪ

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Phương pháp tọa thiền này theo đường lối Thiền Tông Việt Nam, bao gồm một số động tác căn bản mà trong thời gian qua chúng tôi đã ứng dụng tu và hướng dẫn cho chư Tăng, Ni tại các thiền viện hành trì, đồng thời cũng có một số Phật tử tại gia ham mộ tu thiền quan tâm thực hành.

Kiểm nghiệm qua thực tế công phu, chúng tôi nhận thấy đều có những kết quả nhất định như: thân tâm hành giả dần dần được an định, trí tuệ ngày càng tăng trưởng, đời sống theo đó mà được thuần thiện và an lạc - thể hiện qua những việc làm “xả kỷ vị tha”, góp phần đem lại cho bản thân, gia đình và xã hội một nhân tố tốt đẹp, an bình.

Gần đây, nguyện vọng tìm hiểu và thực hành môn tọa thiền này được nhiều giới các nơi yêu cầu chúng tôi chỉ dẫn.

Để đáp ứng phần nào nhu cầu trên, chúng tôi điều chỉnh và cho tái bản. Mong rằng quyển sách nhỏ này sẽ giúp ích bước đầu cho chư Tăng, Ni, Phật tử yêu thích Thiền học Việt Nam.

Thiền viện Trúc Lâm

Mùa Phật đản PL.2553- 2009

Hòa thượng THÍCH THANH TỪ

 suong4

 

PRATIQUE DE MEDITATION ASSISE
 

Au cours de la vie quotidienne, soumis aux multiples phénomènes externes, notre esprit est constamment sollicité ; c’est cette agitation qui trouble notre tranquillité. L’esprit constitue la source du cycle de naissance et de mort générant nos afflictions, c’est également l’origine du Nirvāṇa.

Ainsi, la méditation est un moyen enseigné par Bouddha pour ramener le mental à l’attention juste.

En toutes postures, en marchant, debout, assise ou allongée, nous devons apprendre à vivre en pleine conscience, et cela même dans toutes nos activités quotidiennes. Cependant pour les débutants, la posture assise s’avère être la pratique la plus adaptée de toutes.

 

PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN


Hằng ngày khi chúng ta đối duyên xúc cảnh tâm ý dao động, từ sự dao động đó nên tâm không được khinh an. Tâm là đầu mối của sanh tử phiền não và cũng là nguồn cội của Niết bàn.

Do đó, Phật phương tiện chỉ dạy thiền định để nhiếp tâm chánh niệm.

Trong các oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, chúng ta phải tập sống trong trạng thái tỉnh thức. Hằng thắp sáng hiện hữu của mình trong mọi hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên đối với người sơ cơ, tọa thiền vẫn là một phương pháp thù thắng hơn các oai nghi kia.

 

MATERIEL REQUIS

 

▪ Un coussin rond rembourré de kapok, de 20 cm de diamètre sur 20 cm de hauteur, laquelle se réduit à 10 cm pour une assise convenable, les dimensions du coussin étant fonctions des préférences du pratiquant.

▪ Un tapis carré de 70 cm de côté, à étendre sur le sol et à placer sous le coussin.

▪ Une serviette souple ou un coussinet est utilisé pour combler l’intervalle entre les jambes croisées.

 

 DỤNG CỤ TỌA THIỀN

 

▪ 1 bồ đoàn tròn, đường kính 2 tấc, bề cao 2 tấc, dồn gòn khi ngồi xuống còn 1 tấc là vừa.

▪ 1 tọa cụ vuông 7 tấc để trải dưới, bồ đoàn đặt lên trên.

▪ 1 khăn lông hoặc 1 gối nhỏ dùng để chêm bên trên lòng bàn chân trũng.

 

LA MEDITATION ASSISE

Elle est composée de trois étapes:

Entrer - Demeurer – Sortir

 

TỌA THIỀN

Có 3 giai đoạn:

Nhập - Trụ - Xuất

 

A- ENTRER EN MÉDITATION
 

A- NHẬP THIỀN

 

- Quand la session commence, étendez le tapis et disposez le coussin en bordure.

- Đến giờ tọa thiền, trải tọa cụ ra, đặt bồ đoàn lên tọa cụ.

 

- Asseyez-vous, le coccyx au milieu du coussin. Balancez-vous latéralement pour trouver une position confortable avant de replier vos jambes.

- Ngồi lên bồ đoàn, xương cùng đúng giữa bồ đoàn, nghiêng qua nghiêng lại cho an ổn mới kéo chân ngồi.

 

- Desserrez la ceinture, défaites le col de chemise et redressez le corps.

- Nới rộng dây lưng, cổ áo, sửa thân ngay thẳng.

 

- Il y a deux postures d’assise : Lotus et Demi-lotus. 

- Có hai thế ngồi: Kiết già và Bán già.

 

- En demi-lotus: repliez le pied gauche sur la cuisse droite ou vice versa, selon les préférences du pratiquant.

▪ Nếu ngồi bán già, kéo chân trái để lên chân phải hoặc ngược lại, tùy theo chiều thuận của mỗi người.

 

- En lotus: repliez le pied gauche sur la cuisse droite. 

▪ Nếu ngồi kiết già, chân trái kéo để lên đùi phải.

 

- Puis placez le pied droit sur la cuisse gauche ou vice versa.

- Chân phải để lên đùi trái. Hoặc ngược lại cũng được.

 

- La main droite est posée sur la gauche. Les deux mains reposent sur le coussinet. Les deux pouces se touchent légèrement, à hauteur du nombril.

- Lấy bàn tay phải để lên bàn tay trái. Hai bàn tay để lên hai lòng bàn chân. Những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, nằm ngay chiều rún.

 

- Les coudes embrassent confortablement les flancs.

- Cùi chỏ vừa ôm hông là được.

 

- Si l’espace entre les pieds est trop prononcé, comblez-le avec le coussinet.

- Nếu lòng bàn chân nào trũng nên dùng gối kê lên cho bằng.

 

- Balancer le tronc cinq fois en avant et en arrière, à gauche et à droite en vue d’établir un équilibre optimum en diminuant l’amplitude au fur et à mesure.

Chuyển động thân 5 lần, ban đầu mạnh sau nhẹ dần.

 

- Installez-vous le dos droit, ni raide ni voûté ni incliné, tête légèrement penchée en avant. Le dos voûté et la tête tombante occasionnent de la somnolence.

- Ngồi lưng thẳng vừa phải, đừng quá ưỡn cũng đừng để cong hoặc ẹo, đầu hơi cúi. Lưng còng và đầu cúi dễ sanh hôn trầm.

 

- L’extrémité du nez et les pouces devraient être dans un même plan vertical. Les oreilles surplombent les épaules. Les paupières devraient être ouvertes d’un tiers. Le regard dirigé vers un endroit approprié: un champ visuel trop court induit la somnolence, trop éloigné il facilite la distraction.

- Chiều chóp mũi ngay đầu ngón tay cái, hai trái tai đối xứng với hai bả vai, mắt mở 1/3, tầm nhìn không quá xa: nhìn quá gần dễ sanh hôn trầm, quá xa dễ sanh tán loạn.

 

- Ceux moins enclins à l’endormissement pendant la méditation peuvent fermer les yeux afin de faciliter la concentration et la vision profonde. Restez immobile, le visage reposé et serein. 

- Người nào ít hôn trầm có thể ngồi nhắm mắt, sẽ dễ phản quan hơn. Ngồi yên gương mặt bình thản, vui tươi.

 

- Ensuite, inspirez lentement et profondément à travers le nez. Imaginez l’air pur inspiré se répandre dans toutes les parties du corps. Puis ouvrez légèrement la bouche et expirez légèrement et à fond. En expirant, imaginez que toutes les peines, afflictions et souillures soient exhalées.

- Dùng mũi hít vô cùng, đừng mạnh cũng đừng gấp, phải đều đều nhẹ nhẹ, tưởng như “không khí trong sạch vô khắp châu thân làm cho những chỗ không thông theo hơi thở lưu thông”, rồi há miệng thở ra sạch tưởng như “phiền não, bệnh hoạn, cấu uế đều theo hơi thở ra ngoài”.

- Faites-le à trois reprises et de manière décroissante. 

- Thở như thế đến 3 lần cũng từ thô đến tế từ mạnh rồi nhẹ dần.

 

-  Après la troisième respiration, les lèvres se closent, la pointe de la langue touchant légèrement la base des incisives supérieures. Pour le reste de la session, le souffle va et vient régulièrement et doucement par le nez.

- Thở xong ngậm miệng lại, môi và răng vừa khít lại, lưỡi để lên trên. Từ đây về sau chỉ hít thở bằng mũi đều đều, nhẹ nhẹ. 

 suong5

 

B- DEMEURER EN MEDITATION

B- TRỤ THIỀN

 

Il y a trois phases successives pour les débutants:

Có ba phương pháp dành cho người sơ cơ:

  

1/ LE COMPTAGE DE LA RESPIRATION

Sổ veut dire compter et tức, le souffle: Sổ tức quán signifie « observer l’inspir et l’expir par comptage » silencieusement jusqu’à dix puis répéter le processus.

Il y a deux systèmes de comptage rapide et lent:

▪ Comptage rapide: inspirez, comptez “un”, expirez, comptez “deux” ; puis, inspirez, comptez “trois” et ainsi de suite en comptant jusque “dix”, ensuite recommencez la série de “dix”.

▪ Comptage lent: inspirez et expirez, comptez “un”, inspirez et expirez, comptez “deux”, continuez ainsi jusqu’à atteindre “dix”, puis recommencez à un. Poursuivrez ainsi toute la session.

Recommencez la série si pendant le comptage le pratiquant s’oublie ou se trompe.

Après une certaine période d’entraînement, lorsque le pratiquant ne fait plus d’erreurs, il peut passer à la phase du Suivi de la Respiration.

1/ SỔ TỨC QUÁN

Sổ là đếm, tức là hơi thở. Sổ tức quán là quan sát hơi thở ra vô, đếm từ một đến mười.

Có hai cách sổ tức: Nhặt và Khoan.

▪ Nhặt: Hít vô đếm một, thở ra đếm hai... Lần lượt đến mười, rồi trở lại bắt đầu từ một.

▪ Khoan: Hít vô thở ra đếm một, hít vô thở ra đếm hai, lần lượt đến mười, rồi bắt đầu trở lại từ một. Cứ đếm như thế suốt thời gian tọa thiền.

Nếu trong lúc đếm từ một đến mười, nửa chừng quên hoặc bị lộn số, ta bắt đầu trở lại từ một...

Sau một thời gian tu tập, hành giả đếm thuần thục không còn lộn số nữa thì ta bước qua giai đoạn Tùy tức.

 

 2/ LE SUIVI DE LA RESPIRATION

Tùy veut dire suivre et tức le souffle. Tùy tức veut dire suivre ou observer le souffle en étant pleinement conscient de chaque mouvement respiratoire.

En scrutant sa respiration, il est conseillé de visualiser le cours de la vie dans un simple souffle. Sans inspiration, la vie se termine à l’expiration même. Autant le souffle est impermanent, autant la vie est elle fragile et éphémère.

Lorsque le suivi de la respiration est parfaitement assimilé, le pratiquant peut passer à la troisième phase, la reconnaissance des pensées.

2/ TÙY TỨC

Tùy là theo, tức là hơi thở. Tùy Tức là theo dõi hơi thở. Hít hơi vô tới đâu là biết tới đó. Hơi thở ra đến đâu cũng đều biết rõ.

Trong khi theo dõi hơi thở, nên dùng trí quán mạng sống trong hơi thở, thở ra mà không hít vào là mạng sống không còn tồn tại. Hơi thở đã vô thường thì mạng sống của ta cũng mong manh giả tạm.

Khi theo hơi thở thuần thục rồi, hành giả bước sang giai đoạn Tri vọng.

3/ LA RECONNAISSANCE DES PENSEES ILLUSOIRES

Au début de la deuxième étape de la méditation assise, observez la respiration pendant quelques minutes, puis relâchez le suivi, laissant l’esprit concentré et apaisé. Dès qu’une pensée surgit, reconnaissez-la aussitôt, mais sans la suivre. Continuez ainsi, les pensées deviendront de plus en plus rares jusqu’à finalement cesser. Les pensées disparaissantes, l’esprit redevient serein, silencieux et clair. L’escient omniprésent est cette connaissance qui se manifeste à travers les six sens.

 

3/ TRI VỌNG

Khi bắt đầu trụ thiền, hành giả theo dõi hơi thở ra vào an ổn đôi ba phút, rồi buông hơi thở để tâm an tịnh. Vừa có vọng khởi liền biết vọng không theo, cứ thế cho đến khi vọng thưa dần và im bặt. Vọng lặng thì tâm thanh tịnh, rỗng rang trong sáng, chân tâm hiện tiền. Cái biết hiện bày nơi sáu căn.

         

 REMARQUES UTILES:

CHÚ Ý:

Pendant la séance, nous devons nous accorder de manière avisée.

Trong lúc tọa thiền phải khéo tự điều chỉnh.

 

▪ En cas de somnolence, le pratiquant doit rouvrir les yeux et se ressaisir. Durant une longue assise, si l’on en vient à somnoler, ouvrez largement les yeux, réajustez le corps, ravivez l’attention et revenez à l’état premier solennel.

▪ Nếu mơ màng ngủ gục thì mở mắt sáng ra, chấn chỉnh thân tân phấn chấn, trang nghiêm lại.

 

▪ Pendant la méditation assise, une fuite de salive est signe de dispersion et qu’il faudra se ressaisir.

▪ Trong khi ngồi nếu thấy chảy nước miếng là hoãn (lơ là) nên chấn chỉnh lại.

 

▪ Une sensation d’oppression thoracique, un pincement au cœur, une gêne respiratoire traduisent une posture trop rigide : infléchissez-vous un peu.

▪ Nghe ngực nặng, tim hơi nhói là do ngồi thẳng quá, hơi thở không thông nên rùn xuống một chút.

 

▪ Une gêne lombaire est due à l’affaissement du corps : redressez-vous.

▪ Nghe nhức xương sống gần lưng quần, biết ngồi cong, phải thẳng lên.

 

▪ Une douleur au flanc est provoquée par l’inclinaison unilatérale.

▪ Đau hông là do bị nghiêng.

 

▪ Une douleur unilatérale de l’épaule pourrait révéler une bascule des épaules avec un côté plus bas que l’autre : réajustez leur position.

▪ Nếu nhức một bên vai, coi chừng hai vai không ngang nhau, một bên bị lệch xuống.

 

▪ Une douleur bilatérale des épaules pourrait être la conséquence d’une crispation des 2 membres supérieurs. Il faudra relâcher tout le corps dans une posture de détente.

▪ Nếu nhức cả hai vai là do gồng hai tay, phải nới lỏng ra, toàn thân ở trong tư thế thư giãn.

 

▪ L’endolorissement des fessiers provient du fait que le corps se penche trop en arrière.

▪ Đau mông là vì ngồi ngửa người ra phía sau.

 

▪ Une sensation de lourdeur de la tête ou des bourdonnements d’oreille est due à une assise trop rigide, corps et tête trop tendus. Relâchez-vous doucement, cela disparaîtra spontanément.

▪ Nghe trên đầu có gì đè nặng, hoặc nghe vo ve bên lỗ tai, là vì ngồi kềm, gồng mình, đầu hơi cứng nên mới có triệu chứng như vậy, chứ không có gì lạ. Nhẹ nhàng buông xả thư giản, một lúc sẽ hết.

 

Durant la méditation, si des épiphénomènes tels que sensation de pesanteur, d’apesanteur, ou encore de démangeaisons tels les picotements dans le corps, l’insecte qui rampe sur le visage, ou tel le courant électrique à travers la colonne vertébrale, ou encore de halo lumineux, d’images mouvantes étranges, de chuchotements... Tout ceci n’est que sensation, par conséquent, les pratiquants ne doivent ni s’en réjouir ni s’en effrayer. Considérez-les comme faux et éphémères. Restez assis tranquillement, maîtrisez votre corps et votre esprit. Même à la vue de fantômes ou du Bouddha lui-même, rendez vous clairement compte que ce ne sont que des illusions. Tant la joie que la peur peuvent provoquer la folie, n’y soyez pas attachés, dès lors elles s’évanouiront.

Khi ngồi thiền, nếu có những tướng lạ như thân nặng nề giống như có vật gì đè nặng, thân nhẹ nhàng muốn bay bổng, ngứa trên thân, mặt như có con gì bò, cảm giác có luồng điện chạy trong xương sống, thấy phía trước có ánh sáng hoặc các hình lạ, nghe có người nói bên tai. Tất cả những tướng ấy đều giả, không nên chấp nhận hay sợ hãi. Phải quán nó hư giả, ngồi yên làm chủ thân tâm. Dù thấy ma hay Phật, hành giả đều thấy cảnh huyễn, không mừng cũng không sợ. Vui mừng hay sợ hãi đều là nhân của điên cuồng. Không chấp trước, không quan tâm để ý , huyễn cảnh sẽ tự mất.

  C- SORTIR DE MEDITATION

C- XẢ THIỀN

 

A la sortie de la méditation, récitez intérieurement les stances de transfert de mérites:

Que ces mérites et vertus de la pratique

Soient dédiés à tous

A nous-mêmes et aux êtres sensibles

Afin de réaliser la Bouddhéité.

 Khi xả thiền, trước thầm đọc bài nguyện hồi hướng:

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

 

 

Ensuite, inspirez profondément par le nez et expirez à fond par la bouche trois fois de manière croissante. En inspirant, visualisez le sang accompagner le souffle qui circule partout dans le corps. En expirant, imaginez toutes les afflictions, maladies et impuretés s’exhaler. En sortant de méditation, tous les mouvements respiratoires et gestuels s’amplifient graduellement.

Kế dùng mũi hít vào thật sâu, dùng miệng thở ra 3 hơi, từ nhẹ đến mạnh. Hít vô tưởng như máu huyết theo hơi thở lưu thông khắp cơ thể. Thở ra tưởng như phiền não, bệnh hoạn, cấu uế theo hơi thở ra ngoài. Xả thiền, mọi hơi thở, động tác đều từ nhẹ đến mạnh.

 

- Remuer de haut en bas les épaules, cinq fois pour chaque côté.

- Động hai bả vai lên xuống, mỗi bên 5 lần.

 

- Hocher la tête cinq fois.

- Động cái đầu, cúi xuống ngước lên 5 lần.

 

- Tourner la tête à gauche et à droite, cinq fois de chaque côté.

- Xoay đầu sang phải, sang trái mỗi bên 5 lần.

 

- Puis hocher la tête une dernière fois.

- Cúi xuống ngước lên 1 lần cuối.

 

- Plier et déplier cinq fois les doigts.

- Động hai bàn tay, xòe nắm 5 lần.

 

- Etirer la colonne en s’appuyant sur les mains cinq fois, puis balancer le tronc d’avant en arrière, et latéralement.

- Động thân từ nhẹ đến mạnh 5 lần.

 

- A la cinquième fois, placez les mains sur les genoux et pressez fortement.

- Lần chót dời hai bàn tay úp lên hai đầu gối, nhấn mạnh xuống.

 

- Frictionner les paumes en les frottant ensemble, puis masser vingt fois le visage.

- Xoa mặt 20 lần.

 

- Masser vingt fois les oreilles.

- Xoa hai lỗ tai 20 lần.

- Masser vingt fois la tête.

- Xoa đầu 20 lần.

 

- Masser vingt fois la nuque.

- Xoa sau gáy 20 lần.

 

- Masser vingt fois la face antérieure du cou.

- Xoa cổ 20 lần.

 

- Utiliser la main droite pour frotter le bras gauche de l’épaule au poignet, en même temps utiliser la main gauche pour frotter le flanc droit de l’aisselle à la hanche, dix fois de chaque côté.

- Dùng bàn tay phải xoa từ vai xuống cánh tay. Bàn tay trái xoa từ nách xuống bên hông, hai bên kết hợp xoa một lượt mỗi bên 10 lần.

 

- Placer la paume de la main droite sur la poitrine et le dos de la main gauche sur le dos.

- Lòng bàn tay phải đặt lên ngực, lưng bàn tay xoa lên lưng, hai tay kết hợp xoa ngang một lượt.

 

- Masser d’un mouvement latéral cinq fois successivement le thorax, l’abdomen et le bas ventre en même temps que le dos.

- Xoa 3 điểm: ngực, bụng, bụng dưới mỗi chỗ 5 lần.

 

- Avec les deux poings, masser la région lombaire, les fessiers et frictionner les cuisses avec les paumes autant de fois que nécessaire.

- Dùng hai bàn tay xoa thắt lưng, xoa mông, xoa đùi (tùy theo đau nhiều hay ít mà xoa, không có số lượng).

 

- Frictionner les paumes ensemble pour les échauffer.

- Chà hai bàn tay cho nóng.

 

- Les appliquer légèrement sur les yeux, le tout cinq fois.

- Áp vào mắt 5 lần.

 

- Saisir avec une main les orteils du pied, et avec l’autre main la cheville, soulever et poser le pied délicatement.

- Một tay nắm đầu các ngón chân, một tay đỡ cổ chân từ từ để nhẹ xuống.

 

- Frictionner fermement  la jambe, de la cuisse au pied.

- Hai bàn tay cùng xoa mạnh lên xuống từ đùi đến bàn chân.

 

- Terminer par le massage vivifiant de la plante du pied.

Le massage d’une jambe étant terminé, passer à l’autre jambe en la frictionnant autant de fois que nécessaire.

- Chà nóng lòng bàn chân.

Xoa chân này xong rồi đổi sang chân kia, xoa tùy thích không có số lượng.

 

- Etendre complètement les deux jambes.

- Duỗi thẳng hai chân ra.

 

- Penchez-vous cinq fois en avant et touchez les orteils avec les doigts.

- Thân rướn về phía trước, các ngón tay vừa chạm đầu các ngón chân 5 lần.

 

- Enfin retirer le coussin et rester immobile en position solennelle quelques instants avant de se lever et de se prosterner devant Bouddha.

- Dời thân khỏi bồ đoàn, ngồi yên khoảng vài phút mới đứng dậy lạy Phật.

 

NOTES :

En sortant de la méditation, chaque mouvement s’effectue en massant fermement la peau et les muscles, mais sans brutalité. La durée de l’assise dépend de chaque individu et des circonstances. Plus la séance est longue, plus les pratiquants devront se masser soigneusement pour rétablir la circulation, assouplir les tendons et articulations en prévenant ainsi le risque de sciatique. Tous les mouvements et la respiration s’effectuent de doucement à plus amplement. La durée de ce massage post-méditation dure de 10 à 15 minutes.

 

CHÚ THÍCH :

Khi xả thiền mọi động tác xoa bóp đều phải ấn mạnh vào da thịt, nhưng đừng thô ồn. Thời gian ngồi thiền tùy theo hoàn cảnh hay điều kiện của từng người mà ngồi lâu hay mau. Ngồi càng lâu thì xả thiền xoa bóp càng kỹ, giúp các mạch máu được lưu thông, gân cốt mềm dẻo, tránh bị bệnh thần kinh tọa. Các động tác và hơi thở bắt đầu từ tế đến thô. Thời gian xả thiền từ 10 đến 15 phút.

LỜI CHỈ DẠY CỦA HÒA THƯỢNG ÂN SƯ MÙA AN CƯ NĂM 2014

LỜI CHỈ DẠY CỦA HÒA THƯỢNG ÂN SƯ MÙA AN CƯ NĂM 2014
 

Cùng tất cả Tăng Ni,

Mỗi năm trước mùa An cư kiết hạ, Tăng Ni về đây đảnh lễ cầu tôi chỉ dạy pháp yếu, quý vị nương theo đó tu học cho được kết quả tốt đẹp. Hôm nay tôi nhắc lại một số điều cần thiết, chư Tăng Ni nhớ ghi và hành trì, sao cho xứng đáng một mùa an cư có ý nghĩa.

Lâu nay chúng ta tu thiền, lấy kinh Bát-nhã làm nền tảng, tức là phải đạt được lý Không thì mới thấu được lý thiền. Phật dạy rất rõ ràng, chúng ta có thân tứ đại, thân bằng quyến thuộc, có nhà cửa, chùa chiền v.v... Tất cả những thứ đó đối với người hiểu sâu đạo lý đều là giả. Người thấu đáo tường tận lý Bát-nhã thì không thấy có một pháp thật ở giữa thế gian này.

Như vậy kinh Bát-nhã là bài kinh quan trọng và thông dụng trong Phật pháp. Đạo Phật là đạo giác ngộ, muốn giác ngộ phải có con mắt trí tuệ, mà Bát-nhã là trí tuệ. Chư vị Bồ-tát đã thấu suốt được lý Bát-nhã, nên lúc nào các ngài cũng vui vẻ dấn thân vào đời làm lợi ích chúng sanh, quên mình vì tha nhân. Chúng ta nguyện đi trên con đường Bồ-tát đạo, cần phải học theo gương hạnh của các ngài. Trước phải có trí tuệ thấy biết như thật, không nên cố chấp sai lầm, tự lợi cho mình sau mới nghĩ đến lợi tha.

Cho nên trong thời gian tu học ở thiền viện, quý vị phải cần mẫn siêng năng, học hỏi đạo lý, nuôi dưỡng đức hạnh, huân sâu chủng tử Bát-nhã. Người con Phật đầy đủ trí tuệ, đức độ mai kia mới có thể làm Phật sự, mở mang giáo hóa mọi người. Nếu ngày nay Tăng Ni không chịu tu học thì mai kia không làm được gì, thật đáng hổ thẹn. Như vậy là tự phí cuộc đời mình, lại làm tổn thương lòng kính tin Tam bảo của Phật tử. Tăng Ni nên ý thức mình đang vay nợ Phật tử, vì thế phải học phải tu cho xứng đáng, để sau này đền đáp lại công ơn của đàn na tín thí. Nếu tu học lơ mơ chẳng những cô phụ công ơn thầy tổ, cha mẹ, chư Phật tử, mà còn hủy cả cuộc đời của mình. Thật đáng trách!

Mỗi ngày quý vị phải cần kiệm thời gian tu học, không được để mất một giờ hay nửa giờ nào hết. Bởi vì mỗi giờ tu là mỗi giờ vàng ngọc, mỗi giờ làm Phật. Chúng ta nguyện sớm được giác ngộ giải thoát, ra khỏi biển khổ trầm luân, cứu độ chúng sanh thì lẽ đương nhiên phải tu cho đến nơi đến chốn. Vì thế việc tu hành là một trọng trách nặng nề, chứ không phải dễ dàng. Muốn giác ngộ phải ngồi thiền cho được định, định rồi mới có trí tuệ tỉnh sáng. Ngay đời này chúng ta cương quyết phải tỉnh phải giác. Đừng bao giờ nói tu gieo nhân để đời sau tu tiếp mà phải quyết tử đời này cho xong. Bởi vì có ai biết được đời sau có gặp Phật pháp nữa hay không? Cho nên mỗi vị phải cố gắng tận lực, không nên hẹn lần hẹn lữa qua ngày.

Tất cả Tăng Ni phát tâm xuất gia tu hành đều nuôi ý chí xuất trần. Tu để vượt thoát trần lao ra khỏi sanh tử thì tâm phải cương quyết như sắt đá, chứ không thể lôi thôi được. Xuất trần nói đủ là xuất trần thượng sĩ, tức là bậc thượng sĩ ra khỏi trần lao. Cho nên phải mạnh dạn dẹp bỏ hết thói hư tật xấu. Những gì ương yếu phải hăng hái làm cho mạnh mẽ lên, như vậy sự tu mới có kết quả tốt. Đừng để thói quen yếu đuối làm lui sụt, dù cảnh duyên bên ngoài dễ hay khó cũng phải giữ tâm không thối chuyển thì mới thực hiện được ý chí xuất trần. Cho nên tất cả phải cố gắng tu đến nơi đến chốn, không nên lừng chừng làm mất bản nguyện xuất trần của mình.

Mong chư Tăng Ni nhớ lời tôi nhắc nhở mà nỗ lực trong ba tháng an cư. Đừng bê trễ, đừng để một đời qua suông, không có kết quả gì. Làm sao mỗi năm tu mỗi tiến, càng tu càng vui tươi, an ổn, thảnh thơi. Nếu càng tu càng buồn là tu không đúng hoặc chưa biết tu. Chúng ta siêng năng tinh tấn vâng lời Phật dạy, sống với trí tuệ Bát-nhã, xa lìa vọng tưởng đảo điên, nhận được ông chủ của chính mình. Vậy mới xứng đáng là đệ tử Phật, xứng đáng là người tăng sĩ mang tâm nguyện tự lợi, lợi tha viên mãn.

Mùa An Cư 2014 - PL 2558


 

Tiểu Sử - HT Thích Phước Hảo

 

TIỀU SỬ

CỐ HÒA THƯỢNG: THƯỢNG PHƯỚC HẠ HẢO

I.    THẾ TỘC

Hòa thượng húy Huỳnh Phước Hảo, Pháp hiệu Thích Phước Hảo sanh năm Canh Ngọ (1930) tại Vĩnh Bình (hiện nay thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, xuất thân trong gia đình Nho giáo. Thân phụ là Huỳnh Văn Thoàn, Pháp danh Nhựt Định. Thân mẫu là Trần Thị Sáu, Pháp danh Phước Vinh.

Hòa thượng mất mẹ lúc tuổi còn thơ. Ngài là con Trưởng trong gia đình, thay mẹ gánh vác và chăm lo đàn em thơ dại, nay là các vị: thầy Thích Thanh Tịnh, thầy Thích Thanh Thủy, thầy Thích Đạo Nhẫn và Ni sư Hải Huyền.

Túc duyên Phật pháp ngài gieo trồng sâu dày. Sau khi thân phụ mất, ngài là trụ cột gia đình, khuyến tấn người thân hướng về Phật pháp. Từ thuở thiếu thời, ngài sống giản dị, ăn uống đạm bạc.

II.   ĐẠO PHÁP

Cơ duyên Phật pháp chín muồi, ngài tìm đến tổ Khánh Anh tại Tổ đình Phước Hậu thuộc huyện Trà Ôn xin xuất gia vào năm 1949. Ngài từng theo chân tổ Thiện Hoa học nghề Y để giúp đỡ, chăm sóc và trị bệnh cho bà con láng giềng tại Chùa Phật Quang, Bang Chang, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1957, Hòa thượng thọ giới Tỳ-kheo, làm học Tăng của Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang - Sài Gòn. Sau đó ngài được đưa về Phật học đường Lưỡng Xuyên (chùa Phước Hòa, Trà Vinh), vừa làm học Tăng vừa làm Trụ trì của chùa.

Năm 1964, tổ Thiện Hòa cử ngài làm Chúng trưởng tại Phật học đường Nam Việt. Kế đó, ngài làm Liên chúng trưởng, rồi vào năm 1970 được bổ nhiệm về làm tổng Giám thị tại Phật học viện Huệ Nghiêm, huyện Bình Chánh, Gia Định.

Năm 1971, ngài theo Hòa thượng Ân sư thượng Thanh hạ Từ tu học tại Tu viện Chân Không, Vũng Tàu. Ngài vừa là sư đệ, vừa là đệ tử của Hòa thượng Ân Sư.

Năm 1974, ngài làm Quản viện của Tu viện Chân Không, sau đó được Hòa thượng Viện chủ điều về làm Quản viện của Thiền viện Linh Quang, Cát Lở, Thành phố Vũng Tàu.

Sau năm 1975,  ngài làm Trụ trì Tu viện Chân Không đến năm 1986. Từ năm 1987, Hòa thượng nhập thất 03 năm tại Thiền viện Thường Chiếu. Đến năm 1994, Tu viện Chân Không được tái thiết và đổi thành Thiền viện Chơn Không. Hòa thượng kế thừa Hòa thượng Ân sư Trúc Lâm làm trụ trì tại đây đến năm 2000. Từ 2001 cho đến nay, Ngài là cố vấn Thiền viện Chơn Không và Ủy viên Ban quản trị Thiền phái Trúc Lâm.

 Vào 8h 10 phút ngày 20 tháng 01 năm 2014, Ngài đã dẫn bài kệ của thiền sư Viên Chiếu Việt Nam giảng cho phật tử Chánh Tịnh:

Thân như tường vách đã lung lay,
Đau đáu người đời luống xót thay.
Nếu đạt tâm không, không tướng sắc,
Sắc không ẩn hiện, mặc vần xoay.

 (Thân như tường bích dĩ đồi thì
Cử thế thông thông thục bất bi.
Nhược đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc không ẩn hiển nhậm suy di.)

Vạn pháp luôn thay đổi, trong đó có tấm thân tứ đại theo định luật vô thường nên già yếu, nhưng riêng có cái không bao giờ đổi thay, suy lão. Chúng sanh vì sống với tâm lo sợ lao xao vọng động nên thật đáng thương. Nếu đạo hữu sống được với tâm không, cái tâm này vốn không hình mạo sắc tướng, thì chỉ tùy duyên mà sống. Nói xong, Thầy vui vẻ cười, rồi Chánh Tịnh xá chào ra về. sau đó, Hòa thượng bảo với thị giả Tôi hơi đau đầu rồi ngài lặng lẽ nhắm mắt nằm yên. Sang đến 11g30 ngày 21, Hòa thượng an tường ra đi.

Hòa Thượng có những dịch phẩm: Kinh Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ, Ngũ Đăng Hội Nguyên Tiết dẫn, Phật Tâm Luận, Vô Tướng Tụng giảng thoại. Ngoài ra, Ngài còn biên tập các bài giảng rải rác của Hòa thượng ân sư thành một tập sách tên Nhặt Lá Bồ Đề.

 

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

--------------------

Khoá tu 7 ngày tại Milson Island- Sydney- Australia new

  • Cơ duyên hình thành

Trong khi thiền đường Vô Ưu xây cất, một số thiền sinh không có nơi sinh hoạt, nên đạo hữu Trí Phát và Chơn Hỷ đã phát tâm cho sử dụng ngôi nhà toạ lạc tại số 56 Pringle Ave Bankstown làm nơi sinh hoạt.

Ngày 3 tháng 4 dương lịch năm 2010 quý Thầy Thích Thông Chiếu, Thích Thông Tướng, Thích Thông Nhã cùng quý Cô Thích Nữ Trí Định, Thích Nữ Huệ Căn và Thích Nữ Tâm Thanh đã từ bi đến làm lễ An Vị Tôn Tượng Phật cho ngôi nhà này và nó trở thành thiền đường từ đó.

• Danh hiệu

Tháng 12/2011 thiền đường được Hoà Thượng Trúc Lâm đặt tên là Phúc Đức

• Tu Tập

Mỗi tuần thiền sinh đến sinh hoạt từ 7 giờ chiều thứ bảy cho đến 4 giờ chiều chủ nhật

Thiền đường tổ chức 3 đến 4 khoá tu học ngắn hạn 2 đến 3 ngày mỗi năm.

Nếu đủ duyên thiền sinh có thể đăng ký nhập thất ngắn hạn.

hinh01

• Cơ sở vật chất hiện tại

Diện tích đất khoảng 1200m vuông. Thiền đường hiện có:

1x chánh điện
1x thiền đường
1x thiền thất
1x Tăng phòng
2x phòng ngủ cho Phật tử

• Nhân sự

Ban điều hành gồm có:

Trưởng chúng: Thuần Niệm (di động) 0422 035 665
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Phó chúng: Chơn Hỷ (di động) 0413 060 319
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Thủ quỹ: Chơn Đức (di động) 0424 573 999
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Từ Tâm (di động) 0414 466 521
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Chơn Lạc email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Tuệ Hạnh (di động) 0424 366 586
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Tuệ Trí (di động) 0714 040 739
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Phổ Khai Tuệ (di động) 0411 813 529
email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

hinh02

Thời khóa sinh hoạt hàng tuần

Thứ bảy

+ 19g Tụng Kinh Sám Hối
+ 19g45 – 21g15 Tọa thiền
+ 21g15 – 21g45 Xả thiền - Hồi hướng
+ 22g00 Chỉ tịnh

Chủ nhật

+ 4g00 Thức chúng
+ 4g30 Tọa thiền
+ 6g30 Xả thiền
+ 7g30 Tiểu thực
+ 8g00 Lao tác
+ 8g30 Tụng Kinh Sám Hối Sáu Căn
+ 9g15 Tọa thiền
+ 10g15 Xả thiền
+ 11g00 Nghe Pháp
+ 12g00 Ngọ trai
+ 13g00 Chỉ tịnh
+ 14g00 Tọa thiền
+ 15g30 Xả thiền - Hồi hướng
+ 16g00 Hoàn mãn

 

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Nội Quy trong ngày Tu Học

Nội Quy

1. Phải theo đúng chương trình đã định.
2. Phải gìn giữ cẩn thận oai nghi, cử chỉ.
3. Không nên nghĩ đến việc nhà, việc thế gian.
4. Không nên đem việc thế gian ra mà nói.
5. Tắt điện thoại di động trong các khoá lễ, giờ toạ thiền, nghe Pháp, Ngọ Trai.
6. Phải áp dụng Lục hòa trong đời sống tu học:

Sáu phép hoà kính

1. Thân hòa đồng trụ:

Về phần thân, ăn, mặc, ngủ nghỉ và công tác, tất cả Thiền sinh đều hòa đồng nhau.

2. Khẩu hòa vô tránh:

Về phần miệng, luận bàn nói chuyện Thiền sinh phải dùng lời hòa nhã, không lớn tiếng cãi rầy.

3. Ý hòa đồng duyệt:

Đối đãi nhau, Thiền sinh tâm ý phải vui hòa, không cố chấp phiền hận.

4. Giới hòa đồng tu:

Tất cả Thiền sinh trong Thiền đường đều giữ 5 giới làm căn bản và sống đúng nội quy.

5. Kiến hòa đồng giải:

Sống chung nhau, Thiền sinh có những hiểu biết đều giải bày cùng nhau, đồng hiểu đồng cảm thông, không nên có thành kiến riêng tư.

6. Lợi hòa đồng quân:

Tất cả quyền lợi trong Thiền đường của những Thiền sinh hiện có mặt đều đồng nhau.

Thiền Đường Trúc Lâm Phúc Đức
Truclamzen Incorporated
56 Pringle Avenue, Bankstown NSW 2200 

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Thời khoá nhập thất

+ 4g Thức dậy
+ 4g30 – 6g30 Tọa thiền/Kinh hành
+ 7g00 Ăn sáng
+ 8g – 8g30 Lao động tay chân
+ 9g Tụng Kinh Sám Hối
+ 10g – 11g30 Tọa thiền/kinh hành
+ 12g Dùng cơm trưa
+ 12g30 – 14g Chỉ tịnh
+ 14g – 16g Tọa thiền/kinh hành
+ 17g Vệ Sinh cá nhân
+ 18g Tụng Kinh Sám hối
+ 19g – 21g Tọa thiền/Kinh hành
+ 21g30 Nghỉ ngơi

Giỗ Tổ lần thứ 41 - THANH TỊNH


TỔ SƯ GIẢNG VỀ -THANH TỊNH-

Lễ giỗ Tổ lần thứ 41

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Cung kính ngưỡng bạch Giác linh Tổ sư,
Cung kính ngưỡng bạch Hòa thượng Ân sư,
Kính bạch chư tôn thiền đức Tăng Ni,
Thưa toàn thể đạo tràng Phật tử
,

Hôm nay Lễ Giỗ Tổ lần thứ 41, để tưởng nhớ đến thâm ân giáo dưỡng và công đức huấn dục của Tổ sư, chúng con trích bài giảng về Thanh tịnh của Tổ sư, kính nguyện Giác linh Tổ sư từ bi chứng giám.

***

Định nghĩa:

Thanh là trong. Tịnh là sạch. Thanh tịnh là tánh trong sạch, không vướng cáu bẩn, nhơ nhớp, là tánh trầm lặng, không náo động ồn ào. Thanh tịnh là tánh đã được gạn lọc khỏi những gì xấu xa ô uế tạp nhạp, lăng xăng trong cõi đời ô trược này.

1. Thân thanh tịnh: Thân thể sạch sẽ, không chải chuốt son phấn. Áo quần phải luôn thay giặt, không rách rưới nhưng cũng không xa hoa, lòe loạt kiểu cách. Thức ăn uống giản dị, không rượu chè, trộm cướp, sát hại, dâm ô, hút sách, không cao lương mỹ vị. Chỗ nghỉ ngơi hợp vệ sinh, không giường cao nệm gấm, không trướng rũ màn che.

2. Khẩu thanh tịnh: Lời nói luôn luôn chân thật, không thêm không bớt, không ngọt như mật, không chua như dấm, không suồng sã bỡn cợt, không sừng sộ gầm thét, không hỗn hào độc dữ, không nặng nề sắc bén… Trái lại, lời nói trong trường hợp nào cũng phải trong sạch, ôn tồn, đúng đắn, lợi ích cho mọi người chung quanh.

3. Ý thanh tịnh: Ý là phần quan trọng, chi phối tất cả những lời nói, cử chỉ, hành động, đời sống của con người. Ý trong sạch thì đời sống dễ trong sạch, ý nhiễm ô thì đời sống bị xấu xa, hoen ố. Ý trong sạch là thế nào? Là không vẩn đục bởi những tánh tham lam giận dữ kiêu căng, si mê nghi ngờ. Mỗi khi ta suy nghĩ, tưởng nhớ một điều gì, mà tư tưởng ta không bị trộn lẫn bởi những tánh xấu nói trên, như thế là ý nghĩ được thanh tịnh. Ý ta không nhiễm mùi dục vọng, ý ta trong sáng như thủy tinh, vắng lặng như mặt nước hồ thu, sáng chói như mặt trời trí tuệ, thơm ngát hương từ bi, như thế là ý thanh tịnh.

4. Hành động thanh tịnh: Làm việc không vì danh lợi riêng mình. Người có hành động thanh tịnh không mưu mô tính toán, không ỷ mạnh hiếp yếu, không ỷ giàu hiếp nghèo, không ỷ thế hiếp cô. Người có hành động thanh tịnh không xu nịnh ai, không sợ hãi ai. Người có hành động thanh tịnh bao giờ cũng thẳng thắn, đường đường chính chính, không bao giờ có một hậu ý đen tối nào trong lúc làm việc.

Công năng của thanh tịnh:

Mặc dù con người có Phật tánh nhưng vẫn mê mờ và trôi lăn trong cảnh giới tối tăm đau khổ, là vì còn đầy dục vọng, nhiễm ô nên tánh Phật bị che lấp. Tánh Phật như nước trong, dục vọng như cáu bẩn làm vẩn đục nước trong. Muốn làm cho nước trong phải cần đến phèn, cũng thế muốn cho tánh Phật không bị nhiễm ô phải cần đến thanh tịnh. Thiếu đức tánh thanh tịnh thì dù cố công trì chí bao nhiêu trong việc tu hành cũng vô ích, như nấu cát mà mong thành cơm. Dù ta có làm bao nhiêu việc bố thí lợi tha mà tâm thiếu thanh tịnh thì những việc làm ấy cũng mất hết ý nghĩa cao quý và hiệu quả của chúng.

Người thanh tịnh sẽ có một đời sống nhẹ nhàng thanh thoát, tâm không bận bịu một ý nghĩ đen tối nào, thân khoan khoái dễ chịu. Người thanh tịnh đi đến đâu như mang theo một vùng ánh sáng, một làn khí trong, như tỏa ra một mùi hương mát dịu. Người thanh tịnh chẳng khác gì một đóa hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Người Phật tử phải dưỡng tánh thanh tịnh như thế nào trong đời sống hàng ngày? Tánh chất của thanh tịnh bao gồm tất cả mọi phương diện của đời sống. Cho nên, muốn dưỡng tánh thanh tịnh, chúng ta không thể chú trọng đến phần vật chất mà bỏ phần tinh thần hay ngược lại chú trọng phần tinh thần mà bỏ phần vật chất. Đừng ngụy biện rằng: “Tu là cốt ở tâm, hình thức không đáng kể. Ta thanh tịnh ở trong lòng là đủ rồi”. Nói như thế là không nhận rõ ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn cảnh.

Hoàn cảnh thanh tịnh bên ngoài giúp ta dễ thanh tịnh bên trong. Tất nhiên trong cõi đời ô trọc này, khó có cảnh hoàn toàn thanh tịnh. Nhưng trong phạm vi tương đối, ta có thể tạo ra hay tìm kiếm một hoàn cảnh tạm gọi là thanh tịnh. Ta tập sống vệ sinh, điều độ, thứ tự; tập hành động theo lẽ phải. Ta tìm kinh sách có những tư tưởng trong sáng tiến bộ để đọc, tìm thầy bạn có đạo đức để học hỏi kết giao, tìm những cảnh chùa theo đúng chánh pháp để tới lui tu dưỡng.

Trong khi chúng ta tìm được một hoàn cảnh tạm gọi là thanh tịnh, hành động những việc có tính cách thanh tịnh rồi, chúng ta đừng vội thỏa mãn, yên trí là đã tiến được trên con đường thanh tịnh. Chúng ta cần phải đề phòng những ý nghĩ nhỏ nhiệm sâu kín, đen tối, xấu xa len lén chen vào trong những công việc tốt đẹp của chúng ta, làm cho chúng ta trở thành nhiễm ô. Sau đây là vài thí dụ thường thấy hàng ngày:

Chẳng hạn khi ta cho kẻ hành khất một vài đồng, vì lòng thành thật thương xót họ. Đó là một việc thiện quý báu. Nhưng nếu bên cạnh động lực chính ấy, ta còn có ý mong cho người chung quanh biết mình là kẻ nhân từ. Như thế là bố thí mà còn bị phiền não tham danh chen vào.

Khi ta giúp đỡ ai một điều gì mà ta mong ước một ngày kia người ấy sẽ giúp đỡ lại ta, như thế là làm việc lợi tha với động lực ích kỷ.

Khi ta đến chùa vì mục đích muốn hiểu đạo và cầu giải thoát, nhưng vì đến chậm hay thiếu chỗ, ta phải đứng lạy sau người, hay ngồi nghe giảng vào hàng ghế cuối hoặc ăn uống không được trọng đãi v.v… ta đâm ra buồn phiền trách móc: “Tôi như thế này mà nhà chùa để tôi đứng sau, ngồi dưới, xem thường, khinh dễ v.v…” Như thế là đến chùa để tìm thanh tịnh mà hóa ra lại đi ôm ấp thêm phiền não ô trược.

Những thí dụ trên cho chúng ta thấy hoàn cảnh thì thanh tịnh, việc làm tốt đẹp mà động cơ thì bất tịnh, nhiễm ô. Vậy trong đời sống hàng ngày, mỗi lúc nghĩ, mỗi lúc nói, mỗi lúc làm, nằm ngồi đi đứng, chúng ta phải luôn luôn tự xét xem mình đã thanh tịnh chưa. Trong trường hợp những nhiễm ô thô thiển dễ trừ, ta hãy mạnh dạn trừ ngay. Trong những trường hợp nhiễm ô sâu xa, vi tế khó trừ, ta hãy tập phép quán “nhị không” để phá trừ ngã chấp và pháp chấp. Làm được như thế là ta đã dưỡng tánh thanh tịnh của Phật mà mỗi chúng ta đều sẵn có.

***

Kính bạch Giác linh Tổ sư,

Giờ đây trước án tiền giác linh của Tổ sư, toàn thể hàng môn hạ pháp tử, pháp tôn chúng con nguyện một lòng vâng theo di huấn của Tổ, xin suốt đời nỗ lực tu học, noi gương Tổ sư và Hòa thượng Ân sư làm tròn sứ mệnh của người con Phật, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, ngõ hầu đền đáp phần nào công đức sâu dày của Thầy Tổ.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.