headertvtc new


   Hôm nay Thứ bảy, 20/07/2019 - Ngày 18 Tháng 6 Năm Kỷ Hợi - PL 2562 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtc2  Mong
LỄ AN VỊ PHẬT TỨ ĐỘNG TÂM Tại TVTL Chánh Giác

Thiền viện Viên Chiếu

 Thiền Viện Viên Chiếu


Ðược thành lập tháng 4 năm 1975
Trụ trì:
Ni sư THÍCH NỮ NHƯ ÐỨC

Phó Trụ trì: Thích nữ Hạnh Phước
Thư ký: Thích nữ Như Ẩn
Thủ Bổn: Thích nữ Hạnh Huệ

Địa chỉ:  xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai

Ðiện thoại:
061.650.14219

                  061. 650. 7319
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
">This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 Thiền viện được thành lập ngay thời kỳ Việt Nam bước qua trang sử mới (1975). Đó là hậu thân của tu viện Bát Nhã thuộc tu viện Chân Không - Vũng Tàu.

Đầu tiên số Ni chúng đến khai hoang vùng đất Thái Thiện diện tích non tám mẫu tây này - nay thuộc xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai - chỉ vỏn vẹn mười lăm người trong một căn nhà vách đất mái lá, giữa những hầm hố, lùm bụi tre mây và vô số cây rừng chằng chịt.

Nay trải qua hơn ba mươi ba năm (2008) số Ni chúng đã tăng lên một trăm ba mươi người giữa một vùng cây cảnh đẹp đẽ, nhà cửa khang trang. Theo sự phát triển chung, Viên Chiếu thay đổi hình vóc tùy theo nhu cầu nhân số. Tuy nhiên Viên Chiếu cũng là một thiền viện còn giữ được đời sống nông thiền như ngày khởi đầu. Và toàn chúng luôn tuân thủ theo Thanh quy của Hòa thượng đặt ra nên đã tạo thành một sinh hoạt nề nếp.

 * SINH HOẠT HẰNG NGÀY:

Theo thời khóa chung của các thiền viện.

Các Ban:

Ban Lãnh Đạo:

Trụ trì

Như Đức

 

Phó trụ trì

Hạnh Phước

 

Thủ bổn

Hạnh Huệ

Ban Chức Sự:

Tri sự

Như Hương

 

Tri khách

Hạnh Bửu - Hạnh Kiên - Viên Thể

 

Tổng khố

Viên Thư (2003)

Ban Giáo Thọ:

Như Đức - Hạnh Phước - Hạnh Huệ - Hạnh Đạt - Minh Ánh - Thuần Ẩn - Thuần Trí - Thuần Hậu

Ban Ruộng:

Trưởng ban

Viên Toàn - Viên Tấn - Viên Phúc

Ban Rẫy:

Trưởng ban

An Hữu

Ban Hoa:

Trưởng ban

Viên Khoan

Ban Vườn:

Trưởng ban

Viên Tĩnh

Ban Dừa:

Trưởng ban

Viên Khang

Ban Tiêu:

Trưởng ban

Viên Ân

Ban May:

Trưởng ban

Diệu Quang

Ban sinh hoạt thiếu nhi:

 

Hạnh Đạt - Viên Khoan

Ban vi tính:

 

Thuần Chánh - Hạnh Đạt

Khám Bệnh:

 

Thuần Dược - Viên Khải

Thư viện:

 

Viên Phổ

Hương Đăng:

 

Viên Nhuận

 

Thời Khóa Tu Học

      Sáng:

    3g

    : Ba hồi ba tiếng chuông thức.
      Hô chuông tọa thiền.

    5g

    : Một hồi chuông xả thiền.

    5g45

    : Ba tiếng bảng tiểu thực.

    6g30

    : Ba tiếng kiểng công tác.

    10g

    : Một hồi kiểng xả công tác.

    10g45

    : Ba tiếng bảng thọ trai.

    12g

    : Ba tiếng kiểng chỉ tịnh.

      Chiều:

    1g

    : Một hồi ba tiếng chuông thức.

    2g

    : Ba tiếng chuông học hoặc tọa thiền.

    4g

    : Nghỉ học hoặc xả thiền.

    5g

    : Một hồi kiểng nghỉ công tác trong
      ngày - Tiểu thực.

    6g15

    : Ba tiếng chuông sám hối.

    7g30

    : Ba tiếng chuông. Hô chuông tọa thiền.

    9g

    : Một hồi chuông xả thiền.

    9g30

    : Ba tiếng chuông nghỉ.

* SINH HOẠT PHẬT TỬ:

Mỗi chủ nhật cuối tháng đều có một buổi giảng pháp cho Phật tử các nơi:

Giáo thọ Viên Chiếu còn phụ trách giảng dạy tại các thiền viện khác và các đạo tràng: đạo tràng Thái Tuệ (quận 8, TP.HCM), đạo tràng Bảo An (Cần Thơ), đạo tràng Phúc Trường (Bến Thế, Bình Dương), đạo tràng Chơn Chiếu (Bà Rịa - Vũng Tàu), đạo tràng Tinh Tấn (Cà Mau), đạo tràng Vi Phước (Thốt Nốt).

Ngoài ra, Viên Chiếu còn chịu trách nhiệm về hai thiền viện ở Mỹ là Diệu Nhân ở Sacramento và Vô Ưu ở San Jose thuộc bang Cali (Hoa Kỳ) do các Sư cô Thuần Chánh, Thuần Bạch, Đồng Kính và Viên Khoan phụ trách. Thiền sinh Viên Chiếu cũng đã ra lãnh trách nhiệm Trụ trì ở nhiều nơi:

- Thiền tự Bảo Châu (Hội An): Ni sư Giải Thiện

- Thiền viện Huệ Chiếu (Đại Tùng Lâm - Bà Rịa Vũng Tàu): Ni Sư Thuần Trí, Ni Sư Hạnh Nhã

- Nhà khách vãng lai nữ ở thiền viện Trúc Lâm (Đà Lạt): Sư cô Hạnh Như

- Chùa Bảo An (Cần Thơ): Sư cô Như Trung

- Thiền viện Tịch Chiếu (Long Hải): Sư cô Hạnh Trừng

- Thiền viện Chơn Chiếu (Phước Hải): Sư cô Hạnh Liễu

- Chùa Vi Phước (Thốt Nốt): Sư cô Chơn Như

                 Một số hình ảnh Thiền viện Viên Chiếu 


Cổng vào


Chánh điện


Phòng khách


Nhà Tổ


Phật quả đường


Quả đường


Thiền đường


Tây đường


Non bộ tây đường


Nhà bếp


Khu thiền thất


Sư Ông về thăm Viên Chiếu


Sư Ông sách tấn tu tập


Đánh lễ quý Thầy


Tụng kinh


Tung kinh


Tọa Thiền


Tọa Thiền

Thiền Viện Linh Chiếu


ĐÔI NÉT VỀ THIỀN VIỆN LINH CHIẾU

.

Thành lập tháng 4 năm 1980

Trụ trì: Ni Trưởng 
THÍCH NỮ NHƯ HẠNH
Địa chỉ: xã Phước Thái, Huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai.
Ni chúng có khoảng 120 vị

Ðiện thoại:
 0251.355.1719
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
">This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 Tháng 4 năm 1980, Hòa thượng ân sư thượng Thanh hạ Từ thành lập thiền viện Linh Chiếu. Ngôi chùa đầu tiên chỉ là ngôi nhà lá ba căn, vách đất. Gian giữa thờ Phật, tụng kinh và toạ thiền, hai bên dành cho ban Lãnh Đạo và thiền sinh ni ở. Hòa thượng giao trách nhiệm lãnh đạo cho ba Ni sư: Như Hạnh, Như Tịnh, Như Thành. Tổng số ni chúng ban đầu là 9 vị

Dần dần thiền viện phát triển cho đến ngày nay khang trang quy cũ, với tổng số ni chúng lên đến 130 vị và một cơ sở từ thiện Tuệ Tĩnh Đường khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho dân nghèo. Đất hoang đã trở thành vườn xanh, mái lá được thay dần mái tol rồi mái ngói. Tất cả đều do trí tuệ và lòng từ của Hòa thượng ân sư, công đức cũng như sự hy sinh tận tuỵ của quý Ni sư trong Ban Lãnh đạo cộng với toàn tâm toàn lực của chư ni chúng, tựu thành một Linh Chiếu như ngày hôm nay.

Tuy nhiên, những thành tựu vật chất không phải là tất cả đối với chư ni, mà trên hết là sự chuyển biến, tiến triển về nội tâm. Dưới sự hướng dẫn chỉ dạy của Hòa thượng Ân sư, thiền sinh ni ứng dụng pháp tu thiền, thấy rõ sự chuyển hoá bên trong và có những niềm an vui nhất định. Nguồn tâm dần sáng, công phu ngày một tăng trưởng, niềm tin nơi chính mình kiên cố. Đó chính là phần thưởng, là động lực mạnh mẽ nhất giúp chư ni vượt qua nhưng nghiệp tập lâu đời, từng bước vươn lên trên con đường giác ngộ giải thoát. Hòa thượng Ân sư luôn nhắc nhở người con Phật phải tự lợi, lợi tha mới có thể thành tựu viên mãn Phật đạo. Vì vậy ngoài việc tự tu tự lợi, chư ni không quên quý Phật tử cũng như mọi người chung quanh, qua các công tác từ thiện của Tuệ Tĩnh Đường, công tác hoằng pháp… giúp thân tâm của họ ngày một an vui, quy hướng về Tam bảo, bớt khổ được vui.

 Sau cùng, xin nhắc lại lời dạy của Hòa thượng Ân sư thay cho lời kết: Chư ni tu hành có kết quả tốt thì Phật giáo Việt Nam có những tu sĩ xứng đáng để hướng dẫn cho Phật tử Việt Nam. Nếu Tăng Ni tu hành không tốt thì Phật giáo Việt Nam cũng bị ảnh hưởng theo. Chúng ta có mặt nơi đây, dù muốn dù không, cũng có phần trách nhiệm đối với Phật giáo Việt Nam. Mình sống trên đất nước Việt Nam, là tu sĩ Việt Nam thì phải có trách nhiệm với Phật giáo Việt Nam. Cho nên Tăng Ni phải thấy rõ trọng trách của mình, không chỉ nằm riêng trong phạm vi thiền viện, mà còn là trọng trách đối với Phật giáo Việt Nam. Thế nên chư ni phải cố gắng sao cho xứng đáng một người tu sĩ. Là Tăng hay Ni cũng đều có trách nhiệm gánh vác Phật sự chung cho mai sau.

Đó chính là những gì mà thiền viện Linh Chiếu đã thực hiện, đang thực hiện và mãi mãi thực hiện, theo lời dạy của Hòa thượng Ân sư.

Một số hình ảnh Thiền Viện Linh Chiếu


Chánh điện

Sư Ông về thăm Linh Chiếu

Sư Ông về thăm Linh Chiếu

Chụp hình lưu niệm với Sư Ông

Góc chánh điện

Tháp chuông Linh Chiếu

Một số hình ảnh hoạt động trong ngày giổ tổ

Một số hình ảnh Sư Ông tham quan TV Thường chiếu

 


 

 


 

Một số hình ảnh Phật Tử đảnh lễ  HT Trụ Trì Thường Chiếu 


 

 


 


 

Một số hình ảnh khung cảnh TV trong ngày giỗ tổ


 


 


 


 

Thiền Viện Chơn Chiếu

Nam mô Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni

TIỂU SỬ CỦA CHÙA PHÁP HOA
(THIỀN VIỆN CHƠN CHIẾU)

Trụ Trì: TKN HẠNH LIỄU 
Thị trấn Phước Hải - Đất Đỏ - Bà Rịa Vũng Tàu.
ĐT: 064-886514

Thiền viện Chơn Chiếu hiện nay vốn là chùa Pháp Hoa ở khu Nước Ngọt xưa kia. Được cụ Nguyễn Quang Chiểu, pháp danh Trừng Chiểu, thành lập năm 1942.

 Năm 1978, cụ và con gái mất. Chùa bỏ hoang từ đó.

 Năm 1987, chùa được gia đình cụ cúng dường cho Hòa thượng ân sư. 

Năm 1988, tôi được Hòa thượng ân sư chỉ định về làm trụ trì và dưỡng bệnh tại chùa Pháp Hoa (Tôi là chúng của thiền viện Viên Chiếu và đang bị ung thư cổ). 

 Chùa được Hòa Thượng đổi tên là thiền viện Chơn Chiếu từ đó. 

Do trải qua 10 năm không người chăm sóc, nên khi tôi về, thiền viện chỉ là một khu rừng hoang với vài cội anh đào, diện tích khoảng 2900 m2. Ngôi Tam bảo chỉ còn bốn bức vách, rộng khoảng 48 m2 (4X12).

Tôi nhận chùa trong cái duyên không được thuận chiều và suôn sẻ như chư huynh đệ nên rất vất vả. Tuy vậy, tôi vẫn cố gắng duy trì thời khóa của Thiền môn, cũng như quyết lòng gìn giữ, khai phá và cố gắng phát triển ngôi Tam bảo cho đến ngày nay. 

Hiện nay diện tích thiền viện đã mở rộng hơn 1mẫu. Ngôi Tam bảo cũng được xây dựng lại khá khang trang. (Do thiền viện nằm cách mặt biển 150 m, thuộc khu qui hoạch quốc phòng, nên trước đây, thiền viện không được xây dựng. Chỉ từ năm 2000 trở về sau, mới có sự thay đổi).

Năm năm trở lại đây, mỗi tháng đều có mở khóa thọ Bát quan trai một ngày. Sáng thì thọ bát (khoảng 20 vị). Chiều thì nghe pháp. Phần thuyết giảng do quí sư cô thiền viện Viên Chiếu đảm nhiệm (có khoảng 50 vị tham dự). So với các thiền viện khác, số Phật tử tham gia tuy có ít ỏi, nhưng đó là sự phát triển đáng mừng. Bởi khi tôi về nhận chùa, dân địa phương hầu như không ai biết gì về Phật pháp. Nay thì đã biết nghe pháp và ứng dụng Phật pháp vào đời sống của mình.

Thiền viện Chơn Chiếu được như hiện nay, trước là nhờ ân đức của Hòa thượng ân sư. Sau là nhờ đến sự hỗ trợ của chư huynh đệ trong Tông môn về cả tinh thần lẫn vật chất. Trong đó, đáng kể nhất là hai vị huynh trưởng Thường Chiếu và Viên Chiếu. Do địa thế của thiền viện nằm trên núi, dưới lại có biển, nên không khí trong lành. Nhờ đó, tuy vất vả mà sức khoẻ tôi hiện nay hồi phục rất tốt.

Thiền viện Chơn Chiếu ngày 18 tháng 12 năm Đinh Hợi

Ngày 25 tháng 01 năm 2008

Trụ Trì TNK Hạnh Liễu

Một số hình ảnh TV Chơn Chiếu


Chánh Điện


Hành lang chánh điện


Ni đường và Quả đường

 

LƯỢC TRÍCH TIỂU SỬ CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN HOA

 I.- THẾ TỘC:

Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.

Sau khi thân phụ quá cố, Hòa thượng theo thân mẫu đi chùa Phước Hậu, làng Đông Hậu, quận Trà Ôn làm lễ cầu siêu trong 7 tuần thất. Duyên xưa gặp lại, mặc dù lúc ấy Hòa thượng chưa biết đạo lý là gì, mà nằn nằn quyết một đòi ở chùa. Bởi gia đình mộ đạo, nên cụ bà không từ chối nguyện lành của con. Năm ấy Hòa thượng vừa lên 7 tuổi, xuất gia tại chùa Phước Hậu. Sau đó, Hòa thượng được gởi đến chùa Đông Phước, làng Đông Thành, quận Cái Vồn (hiện giờ là quận Bình Minh), theo học với tổ Khánh Anh.

Trong gia đình chẳng những một mình Hòa thượng xuất gia, mà trước vài năm đã có người chị thứ bảy xuất gia. Đó là Sư bà Diệu Kim trụ trì chùa Bảo An, Cần Thơ, xuất gia lúc 17 tuổi. Người anh thứ tám đồng thời xuất gia với Hòa thượng hiện nay là Thượng tọa trụ trì chùa Phật Quang Trà Ôn, pháp danh Tịnh Tâm (Thiện Tâm), hiệu Hoàn Tâm (Hoàn Triều). Kế đó, người anh thứ năm pháp danh Thiện Minh cũng xả tục xuất gia, sau trụ trì chùa Linh Quang tại Rạch Sung, Trà Ôn. Sau này, lại có những người cháu kêu Hòa thượng bằng chú như Tịnh Nghiêm, Tịnh Thuận và kêu bằng cậu như Bửu Châu, Hoàn Phú cũng lần lượt xuất gia.

Có thể nói rằng đây là một gia đình có nhiều người xuất gia nhất ở vùng này.

II. - THỜI HỌC ĐẠO:

a) Học các trường gia giáo:

Hòa thượng cầu pháp với tổ Khánh Anh được hiệu là Hoàn Tuyên. Từ đó, Tổ được mời dạy những trường gia giáo nơi nào, Hòa thượng đều theo đó học tập, từ chùa Đông Phước lần lượt đến các nơi, sau cùng là chùa Long An. Năm 1931, tổ Khánh Anh lãnh chùa Long An ở Đồng Đế Trà Ôn và khai gia giáo nơi đây. Năm ấy, Hòa thượng đã 14 tuổi, nhập chúng tu học tại chùa này 3 năm.

b) Phật học đường Lưỡng Xuyên:

Đầu mùa hạ năm 1935, Phật học đường Lưỡng Xuyên khai giảng, Hòa thượng xin nhập học tại đây, lúc đó được 17 tuổi và ngay năm ấy, Hòa thượng thọ giới Sa-di. Từ đây Hòa thượng chính thức vào Phật học đường sống theo nếp mẫu mực đạm bạc của đời Tăng sinh tươi trẻ. Sau 3 năm mãn lớp Sơ đẳng nơi đây, Tăng sinh muốn tiến lên phải vận động ra Huế học. Với chí hiếu học và óc cầu tiến, Hòa thượng nài xin Ban giám đốc Phật học đường Lưỡng Xuyên chấp nhận giới thiệu, và vận động thí chủ ủng hộ tài chính. Kết quả Hòa thượng được mãn nguyện, lo khăn gói lên đường với các pháp hữu: Thiện Hòa, Hiển Thụy, Hiển Không, Chí Thiện, Bửu Ngọc, Giác Tâm. Thế là năm 1938, Hòa thượng được ra Huế học, lúc ấy được 20 tuổi.

c) Phật học đường Báo Quốc:

Sau khi ra Huế, quý Ngài dự học tại Phật học đường Tây Thiên hai năm. Kế đó vào Quy Nhơn ở chùa Long Khánh để đến học Phật pháp với tổ Phước Huệ ở chùa Thập Tháp hết một năm tròn. Các Ngài lại trở ra Huế dự học tại Phật học đường Báo Quốc ngót bốn năm. Sau trường Báo Quốc dời đến tòng lâm Kim Sơn năm 1945. Lớp học tại đây vừa mãn thì chiến tranh dồn tới. Trường Kim Sơn không duy trì được, nên Hội An Nam Phật Học ủy thác cho quý Thượng tọa Trí Tịnh và Thiện Hoa v.v... mang một số học Tăng vào Nam. Thế là, ngót tám năm dài (1938 - 1945), quý Thượng tọa chịu nhọc nhằn cần mẫn học tập ở đất Thần kinh. Khi trở về mang một hoài bão "Hoằng pháp lợi sinh", để rồi miền Nam bừng sáng do các Ngài mồi ngọn đuốc từ chốn cố đô.

III.- THỜI HÀNH ĐẠO:

1) Khai Giảng Phật Học Đường Phật Quang:

Năm 1945 Hòa thượng hợp tác cùng Hòa thượng Trí Tịnh khai giảng Phật học đường Phật Quang, tại rạch Bang Chang, xã Thiện Mỹ, quận Trà Ôn. Số Tăng sinh đến dự học trên 30 vị. Năm 29 tuổi Hòa thượng thọ giới Tỳ kheo và Bồ-tát tại giới đàn Kim Huê Sa Đéc.

Đến năm 1946 và 1947 thấy tình cảnh chiến tranh của đất nước, thấy Tăng sĩ một phần đã cởi áo cà-sa mặc chiến bào, Hòa thượng Trí Tịnh quyết định dời về Sài Gòn. Phật học đường Phật Quang đã khó khăn lại gặp khó khăn hơn. Một mình Hòa thượng vừa lo dạy học, vừa lo đối phó với hoàn cảnh.

Đối nội, Hòa thượng vẫn kiên trì giữ vững lớp học. Dù gặp nhiều khó khăn, nào chùa bị đốt, học chúng bị phân tán, Hòa thượng vẫn thản nhiên duy trì phần còn lại. Hòa thượng thường nói: "Dù chỉ còn một Tăng sinh hiếu học tôi vẫn dạy đầy đủ như lúc ba mươi người". Quả thật, đến năm 1950, học chúng chính thức của lớp này không quá bốn người. Thế nhưng Hòa thượng vẫn dạy đều như thuở trước.

Đối ngoại, xã hội hiện thời đòi hỏi người dân phải làm công tác thật nhiều. Để bảo bọc cho Tăng chúng yên tâm tu học, Hòa thượng mở những lớp học trẻ con, do Tăng sinh đảm trách. Đồng thời Hòa thượng mở trạm y tế, để Tăng Ni thay nhau thuốc men giúp đỡ đồng bào. Mỗi ngày Tăng chúng làm công tác dạy học, chích thuốc trọn buổi sáng, buổi chiều tất cả đều vào lớp học kinh điển.

Hòa thượng lại mở những lớp học "Bình dân" dạy ban đêm để "chống nạn mù chữ". Lớp học này chỉ trong vòng 15 hôm, là học viên đọc và viết được. Sự học có kết quả nhanh chóng ấy là do Hòa thượng có sáng kiến soạn tập sách "Vần Chữ O".

Đích thân Hòa thượng chích thuốc, dạy lớp "Bình dân". Thế mà Hòa thượng vẫn thấy chưa đủ, Ngài lại xoay qua học chẩn mạch cho toa. Hòa thượng bảo học chúng: "Chúng ta cần đem Tứ Nhiếp Pháp và Ngũ Minh để giáo hóa chúng sinh, nhất là trong hoàn cảnh này".

2) Cộng tác Phật Học Đường Nam Việt Ấn Quang:

Đầu mùa Xuân năm 1953, Hòa thượng cùng tám đệ tử mang hành lý đến Phật học đường Nam Việt (trong số đó có thầy Thanh Từ) nhằm ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch. Sau cuộc họp của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, quý Hòa thượng đã đồng tình cử Hòa thượng giữ chức vụ Trưởng Ban giáo dục Giáo Hội Tăng Già Nam Việt kiêm Đốc giáo PHĐNV và chức Trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.

a) Về phần Giáo Dục:

Với trách nhiệm đốc giáo PHĐNV, Hòa thượng đã tận tâm giảng dạy cho hai lớp Cao đẳng và Trung đẳng nơi đây. Đồng thời, Hòa thượng cũng dạy lớp Trung đẳng Ni chúng mở tại chùa Từ Nghiêm, sau dời về Phật học Ni trường Dược Sư.

Kết quả, hai lớp ở PHĐNV tại chùa Ấn Quang đã lần lượt ra trường. Những Tăng sinh lớp Cao đẳng ra trường đầu tiên là: Thầy Bửu Huệ, Thiền Tâm, Tắc Phước, Tịnh Đức và Đạt Bửu. Lớp kế tiếp ra trường có những vị: Thầy Thiện Định, Huyền Vi, Thanh Từ, Từ Thông, Chánh Tiến, Quảng Long, Hoàn Quan v.v... Và những lớp sau này tiếp tục ra trường như Thầy Thắng Hoan, Đức Niệm, Liễu Minh, Long Nguyệt, Trí Quảng, Huệ Thới, Minh Thành v.v...

Tại Ni trường Dược Sư đã đào tạo nên một số Ni chúng khả dĩ gánh vác được Phật sự đáng kể như: Sư cô Như Huyền, Hải Triều Âm, Diệu Hoa, Minh Ngọc, Giác Nhẫn, Trí Hòa, Trí Định, Tịnh Thường v.v...

Đến năm 1957 Hòa thượng lại chủ xướng mở những khóa huấn luyện trụ trì lấy tên là Như Lai Sứ Giả. Tăng giới đặt tại chùa Pháp Hội, Ni giới đặt tại chùa Dược Sư. Mỗi khóa ba tháng trong mùa hạ hoặc mùa đông. Kết quả, bên Tăng đã đào tạo năm mươi hai vị như: Thầy Trường Lạc, Bửu Lai, Trí Châu, Nhật Long, Hồng Tịnh, Hồng Đạo, Hoằng Thông, Huyền Quý, Hiển Pháp, Thiện An, Huệ Thành v.v... Ni giới được ba mươi vị: Ni sư Vĩnh Bửu, Như Hoa, Phật Bửu, Giác Thiên, Như Huy, Như Chí v.v...

Với trách nhiệm Trưởng Ban Giáo Dục trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Hòa thượng đã khuyến khích mở trường Phật học ở các tỉnh như trường Phật học tại chùa Bình An Long Xuyên (1956), trường Phước Hòa ở Vĩnh Bình, trường Giác Sanh ở Phú Thọ, trường Biên Hòa và Phật Ân ở Mỹ Tho v.v...

Có thể nói hầu hết Tăng Ni miền Nam đương thời đều chịu ân giáo dục của Hòa thượng, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.

b) Về phần Hoằng Pháp:

Hòa thượng nhận chức Trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và Hội Phật Học Nam Việt năm 1953. Đích thân Hòa thượng huấn luyện Tăng Ni sinh tại các Phật học đường để trở thành những giảng sư thật sự. Đồng thời, Hòa thượng cũng huấn luyện các vị trụ trì Tăng Ni đều có thể thành giảng viên trên lãnh vực của mình và đi diễn giảng các nơi khác. Chẳng những đào tạo Tăng Ni, Hòa thượng còn huấn luyện số cư sĩ đã chịu khó theo học các lớp giảng tại chùa Ấn Quang, khả dĩ đi diễn giảng các nơi được.

Hòa thượng mở các lớp giảng cho cư sĩ tại chùa Ấn Quang (trụ sở GHTGNV) và chùa Phước Hòa (Bàn Cờ) sau dời về chùa Xá Lợi (trụ sở Hội PHNV) hằng tuần vào chiều chủ nhật. Chương trình Học Phật Phổ Thông do Hòa thượng chủ trương được một số chư Tăng góp sức lần lượt ra đời. Kế đó, mở lớp giảng tại chùa Giác Tâm Chi Hội Phật Học tỉnh Gia Định, chùa Dược Sư của Hội Phụ Nữ Phật Tử. Những nơi giảng này, Hòa thượng phân công những giảng sư do Hòa thượng huấn luyện thay nhau giảng dạy. Đích thân Hòa thượng thì giảng dạy Phật tử vào tối thứ năm hằng tuần tại chùa Ấn Quang.

Phong trào học Phật miền Nam trỗi dậy như cơn vũ bão, khắp các tỉnh Giáo hội và Hội Phật học đều gởi thơ về Trung ương xin mở lớp Học Phật Phổ Thông tại trụ sở mình. Thế là Hòa thượng phải phân phối giảng sư đi giảng dạy mỗi chỗ mười hôm, căn cứ theo mười bài Phật Học Phổ Thông, một năm giảng hai kỳ. Quả thật sinh khí đã len vào mọi tâm hồn Phật tử, khiến họ hăng say học Phật. Cứ như thế mãi ngót tám năm trời (1955 - 1962).

Năm 1956, sau cuộc Đại hội kỳ hai của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Sài Gòn, Hòa thượng lại giữ chức vụ Ủy viên Hoằng Pháp Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, tổ chức phát thanh Phật Giáo hằng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn.

c) Trước tác và phiên dịch:

Từ năm 1953 đến năm 1965, Hòa thượng soạn xong 12 khóa Phật Học Phổ Thông, hay gọi là Cây Thang Giáo Lý. Hòa thượng còn soạn Bản Đồ Tu Phật (10 tập), Duy Thức Học (6 tập), tám quyển sách quý: Tu Tâm, Dưỡng Tánh, Nhơn Quả Luân Hồi, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Diệu Đế, Từ Bi Trong Đạo Phật, Chữ Hòa Trong Đạo Phật và Năm Yếu Tố Hòa Bình.

Về phiên dịch, Hòa thượng đã dịch được:

        1. Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm

        2. Kinh Viên Giác

        3. Kinh Kim Cang

        4. Tâm Kinh

        5. Luận Đại Thừa Khởi Tín

        6. Luận Nhơn Minh

Hòa thượng chủ trương một Phật Học Tòng Thư phân làm 8 loại:

        1. Phật Học Phổ Thông 12 khóa

        2. Bản Đồ Tu Phật 10 tập

        3. Duy Thức Học 6 quyển

        4. Phật Học Giáo Khoa các trường Trung học Bồ Đề từ đệ Thất đến đệ Nhất

        5. Giáo Lý Dạy Gia Đình Phật tử

        6. Nghi Thức Tụng Niệm

        7. Tạp Luận

        8. Sự Tích

Các loại sách này gồm có 80 thứ.

Hòa thượng lại chịu trách nhiệm xuất bản đề tên nhà sách Hương Đạo.

Hòa thượng đã có sáng kiến quý báu, công trình trước tác, phiên dịch đáng kể. Ngài đã đóng góp cho nền văn hóa Phật giáo nói riêng, quốc gia nói chung, một phần rất quan trọng.

IV. THỜI LÃNH ĐẠO:

Thời pháp nạn dưới trào Ngô 1963, Hòa thượng đã tích cực tranh đấu cho Đạo pháp, lãnh chức vụ Phó Chủ tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. Cuộc tranh đấu được thành công, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời. Nhiệm kỳ thứ nhất của Viện Hóa Đạo, Hòa thượng nhận chức Đệ nhất Phó Viện Trưởng, kế đến nhận chức trụ trì Việt Nam Quốc Tự.

Sau pháp nạn 1966, Hòa thượng đảm nhận chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Trong nhiệm kỳ này, con thuyền Phật giáo Việt Nam gặp nhiều sóng gió. Thế nhưng Hòa thượng vẫn nắm vững tay lái hướng thẳng theo con đường Bảo vệ đạo pháp và cứu nước cứu dân, lấy sự tồn tại của đạo pháp, trong sự tồn tại của dân tộc và nhân loại làm ngọn hải đăng.

Đến nhiệm kỳ III (1968) của Viện Hóa Đạo, Hòa thượng cũng được toàn thể đại biểu trong nước bỏ thăm lưu nhiệm. Thời gian này bịnh tình của Hòa thượng càng ngày càng tăng, mà trách nhiệm của Giáo hội lại càng nặng nề. Với thân nhiều bệnh hoạn, lại gánh vác trọng trách quá nặng, đa số môn đồ trông thấy đều sốt ruột, đồng cầu xin Hòa thượng từ chức, về chùa Phước Hậu tịnh dưỡng. Nhưng Hòa thượng bảo: "Tôi đặt đời tôi làm ba giai đoạn, giai đoạn thứ nhất chuyên học Phật pháp, giai đoạn thứ hai nỗ lực truyền bá, giai đoạn thứ ba tịnh dưỡng chuyên tu". Nhưng "đạo pháp đang trong thời kỳ sóng gió, mọi người đang tin cậy tôi, tôi đâu nỡ buông tay để về ngồi yên tịnh dưỡng". Môn đệ nghe những lời dạy này, đành cam nuốt lệ chớ không dám van nài.

Chính Hòa thượng đã từng dạy Tăng Ni: "Chỗ nào chúng sanh mời thì mình đến, chỗ nào đạo pháp cần thì mình đi, không kể gian lao chẳng từ khó nhọc". Và Hòa thượng cũng thường quở trách Tăng Ni không chung lo Đạo pháp, chỉ bo bo giữ chùa riêng, bổn đạo riêng, bằng câu nói: "Một con trâu cũng tốn một thằng chăn, cả bầy trâu cũng chỉ một thằng chăn. Tại sao khuôn mình trong chỗ hẹp mà quên việc to lớn?". Những lời dạy bảo này thực phát xuất từ đáy lòng của Bồ-tát, nói lên bởi tâm lợi tha không bờ bến, lòng mến đạo không chừng ngằn.

Có lần Sư bà Bảo An được quý Ni sư thỉnh giữ trọng trách trong Ni bộ. Sư Bà đến hỏi ý Hòa thượng, được Hòa thượng đáp: "Gánh vác Phật sự là việc tốt, nhưng khi lãnh nhiệm vụ lớn, phải tự xem mình như đứa con nít. Dù bị người chê khen khinh trọng vẫn không nao núng. Đừng nhớ mình có chùa to, có đệ tử nhiều, gặp việc trái ý là xách gói về chùa. Tâm niệm được như thế, mới nên đảm đang đại sự". Sư bà nghe qua, rồi lặng lẽ cáo lui.

Những Phật tử trong Ban Từ Thiện Ấn Quang, lắm khi ra làm Phật sự gặp nhiều điều khó khăn, về chùa than thở với Hòa thượng thì Hòa thượng dạy: Phật sự lúc nào làm được nên cố gắng mà làm, đến khi thiếu duyên dù có muốn làm cũng không thể làm được. Nên nhẫn nhục thông qua thì mới viên mãn công đức.

Trong thời gian này, những Phật sự tại miền Nam Tăng Ni hay cư sĩ làm được điều gì đều nhờ sự khuyến khích an ủi của Hòa thượng. Phật Học Viện Huệ Nghiêm được thành hình và tồn tại đến nay, cũng nhờ ơn Hòa thượng đôn đốc và ủng hộ. Cô Nhi Viện Diệu Quang được thành lập cũng bởi Hòa thượng thúc đẩy, vì bản ý của Hòa thượng muốn cho Ni chúng sau này vừa tu học vừa làm công tác xã hội. Hòa thượng thấy Phật Học Viện Huệ Nghiêm phát triển mạnh, hy vọng ở đây mai này sẽ có nhiều vị Tăng ra giảng dạy Phật pháp. Cho nên Hòa thượng cố tình tạo thành Cô Nhi Viện Diệu Quang để làm cơ sở cho Ni chúng trẻ tuổi có đủ hai điều kiện học đạo và công tác xã hội. Học đạo thì gần Huệ Nghiêm thỉnh chư Tăng đến dạy, công tác xã hội thì mỗi ngày thay nhau săn sóc các em cô nhi.

Đến như Ban Từ Thiện Ấn Quang, làm được những công tác từ thiện hay Phật sự nào đều có sự khuyến khích, nhắc nhở của Hòa thượng cả. Hoặc xây cất Niệm Phật Đường trong khám Chí Hòa, cất chùa trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa v.v... cũng do Hòa thượng cùng Hòa thượng Thiện Hòa đôn đốc.

Tóm lại, từ năm 1964 đến năm 1972, mọi Phật sự đáng kể ở miền Nam đều được Hòa thượng trợ giúp, hoặc trực tiếp hay gián tiếp.

V.- VIÊN TỊCH:

Hòa thượng khởi bệnh từ tối đêm 17 tháng 11 năm Canh Tý, sau ngày lễ vía Đức Phật A Di Đà, Ngài được đưa vàobệnh viện Đồn Đất điều trị. Bác sĩ cho biết bệnh của Hòa thượng cần phải được giải phẫu. Hòa thượng thường nói với các đệ tử đến thăm viếng: "Nếu kỳ đau này tôi phải chết, tôi rất hài lòng, vì đối với sự hoằng hóa tôi đã làm tròn nhiệm vụ. Đối với Đạo Pháp tôi đã gánh vác được một giai đoạn khó khăn".

Sau khi giải phẫu, bệnh của Hòa thượng càng ngày càng nhẹ, ai cũng tin rằng không bao lâu Hòa thượng sẽ bình phục trở về chùa. Một phóng viên báo Điện tín đến vấn an, hỏi về cảm nghĩ của Hòa thượng trong thời gian ở bệnh viện. Hòa thượng đáp: Tôi không mong ước gì hơn sớm có ngưng bắn, để cho dân tộc Việt Nam được hưởng một mùa Xuân thanh bình.

Một hôm, Hòa thượng Thiện Hòa vào thăm Hòa thượng. Tuy cảm thấy bệnh tình đã nhẹ rồi, mà Hòa thượng vẫn dặn dò mọi việc, cho đến kinh sách hiện còn, đều giao cả cho Hòa thượng Thiện Hòa. Thấy điều lạ, Hòa thượng nói: "Nằm ít hôm nữa bệnh lành rồi về, nói chi chuyện ấy".

Bất thần, ngày 17 tháng 12 âm lịch, Hòa thượng trở bệnh. Đến đêm 19 tháng 12 âm lịch, Hòa thượng thấy mệt, biết mình không qua khỏi nên gọi các môn đệ đến bảo: "Các con niệm Phật cho Thầy vãng sanh, Thầy mệt quá rồi". Từ giờ phút ấy tiếng niệm Phật đều đều vang lên trong gian phòng hồi sinh. Từ đó Hòa thượng lặng lẽ dần dần đến 06 giờ 5 phút, sau một hơi thở dài rồi im lìm theo Phật!

Hòa thượng đã an lành viên tịch vào sáng ngày 20 tháng Chạp năm Nhâm Tý nhằm ngày 23 tháng giêng năm 1973, thọ 55 tuổi và được 26 tuổi hạ.

Hòa thượng xong việc ra đi, nhưng để lại cho hàng Giáo phẩm trong Giáo hội bao nhiêu niềm mến tiếc. Tăng Ni cảm thấy bơ vơ hết chỗ tựa nương, hàng Phật tử mất đi một bậc Thầy hiền kính ái. Ngôi nhà Đạo pháp đã thiếu đi một cây thạch trụ chịu đựng!

VI.- NHẬN XÉT:

Hòa thượng Thiện Hoa là một tấm gương sáng cho hàng Tăng sĩ soi chung. Hòa thượng có những đức tánh cao quý, ai được sống gần Hòa thượng đều cảm mến.

Mặc dù là người xuất gia, nhưng Hòa thượng vẫn không quên chữ hiếu. Lúc Hòa thượng còn dạy học tại chùa Phật Quang, cụ bà cũng lập am gần đó. Mỗi khi cụ bà bệnh, đích thân Hòa thượng chích thuốc, hoặc chẩn mạch ra toa hốt thuốc. Phật sự ở trung ương rất bề bộn, mà những lúc bãi trường hay rảnh việc, thì Hòa thượng liền về thăm cụ bà. Đến khi cụ bà tịch, Hòa thượng gắng hết sức mình, cúng dường Tăng Ni, để cầu siêu cho mẹ. Quyển sách Bài Học Ngàn Vàng của Hòa thượng viết ra, cũng nguyện đem công đức đó hồi hướng cho cụ bà.

Về ân nghĩa, Hòa thượng thọ dụng của ai thì không bao giờ quên. Vì thế mỗi khi dạy đồ chúng, Hòa thượng thường nhắc lại công ơn của quý Hòa thượng xưa đã dạy bảo cho Hòa thượng. Chính ngôi chùa Phước Hậu mà Hòa thượng phải đứng ra vận động trùng tu năm 1952 cũng vì lẽ ấy. Bởi một hôm tổ Khánh Anh gọi Hòa thượng đến bảo: "Ngôi chùa này thí chủ cúng cho tôi từ năm 1941, trước kia lành lặn, đến nay (1951) đã hư mục. Tôi dành dụm được một số tiền là 150.000 đồng, định sửa chữa lại, nhưng thấy chưa đủ. Ông vận động phụ cho đủ để xây cất lại, nếu tôi có theo Phật cũng được an lòng". Thế rồi đầu năm 1960 Tổ viên tịch. Hòa thượng nhận lấy trọng trách đó, nên đã cố gắng vận động trùng tu cho Tổ hài lòng nơi cõi Phật. Gia đình ông Trương Hoàng Lâu, trước kia đã góp một phần tài chánh giúp Hòa thượng ra Huế học. Sau lần giải phẫu tại bệnh viện Đồn Đất, được tin bà Trương Hoàng Lâu tạ thế tại Sài Gòn. Hòa thượng gọi thầy Thanh Từ đến bảo: "Gia đình ông Trương Hoàng Lâu có ơn nghĩa với tôi, hôm nay bà mất, tôi không thể đi thăm được, vậy Thanh Từ hãy thay tôi đến tụng cho bà một thời kinh và chia buồn với gia quyến". Bệnh như thế mà Hòa thượng vẫn không quên ơn người thí chủ của mình.

Hòa thượng lúc nào cũng sẵn sàng một tâm niệm bao dung hòa ái. Ít ai thấy được trên khuôn mặt của Người lộ vẻ bất bình, cũng ít ai nghe được nơi Người thốt ra những lời bực nhọc. Dù hạng người nào đến đều được Hòa thượng tiếp chuyện một cách vui vẻ từ tốn. Nếu có ai bực tức phê bình, giữa vị này với vị nọ, Hòa thượng đều tìm cách xoa dịu, hòa giải. Hòa thượng lúc nào cũng muốn hòa nhau trong tình Đạo, không chịu thấy sự rạn nứt chia ly.

Tuy Hòa thượng thích nhu hòa mà cương nghị. Đường lối của Hòa thượng và của Giáo hội đã vạch ra, dù gặp khó khăn đến mấy, cũng vẫn từ từ mà tiến tới. Tuy khiêm tốn mà vẫn bất khuất, tuy nhu hòa mà lại vững vàng. Đó là lập trường cố hữu của Hòa thượng.

Cuộc đời của Hòa thượng hy sinh trọn vẹn cho Đạo pháp. Từ lúc lớn khôn cho đến ngày theo Phật, lúc nào Hòa thượng cũng chỉ biết lo cho Đạo và làm việc cho Đạo.

Sự nghiệp quan trọng nhất trong đời của Hòa thượng, là những tác phẩm và dịch phẩm do nhà xuất bản Hương Đạo ấn hành. Thế mà Hòa thượng đã viết: "Những tác phẩm hay dịch phẩm của nhà Hương Đạo chúng tôi, sau khi tu chỉnh hoàn bị, và thanh toán tất cả nợ nhà in rồi, chúng tôi sẽ làm lễ hiến cúng cho giáo hội hay những người nối theo chí nguyện phiên dịch và sáng tác của chúng tôi. Quả thật Hòa thượng không còn gì cả. Chính chỗ không còn, không có gì cả đó, mà Tăng Ni và Phật tử mới chân thành kính mến Hòa thượng.