headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 21/11/2017 - Ngày 4 Tháng 10 Năm Đinh Dậu - PL 2561 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtriductang Mong
 Video - Sám hối 6 căn

Nghi Thức Sám Hối

 

Thời gian

Dung Lượng

Download

  Nghe sám hối

44:31

05:22 MB

NGHI THỨC SÁM HỐI VÀ TỤNG GIỚI

HT. THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ

KỆ NGUYỆN HƯƠNG
(Quỳ nguyện hương)

Trầm thuỷ, rừng thiền hương sực nức,
Chiên đàn vườn tuệ đã vun trồng.
Ðao giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.
Nam Mô Bồ Tát Hương cúng dường.

(3 lần rồi đứng lên)

TÁN PHẬT

Ðại từ, đại bi thương chúng sanh,
Ðại hỷ, đại xả cứu hàm thức.
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm,
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ:

- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lạy)

- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chánh pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lạy)

- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng, bậc Hiền thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lạy)

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,
Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,
Nguyện hiểu nghĩa chơn đức Thế Tôn.
Qui kính Phật, Bồ Tát trên hội Bát Nhã.

               (3 lần)

TÂM KINH TRÍ TUỆ CỨU CÁNH RỘNG LỚN

Khi Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã Ba la mật đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. (1 chuông)

Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế. (1chuông)

Này Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong tướng không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. (1 chuông)

Vì không có chỗ được, nên Bồ tát y theo Bát Nhã Ba la mật đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa lìa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã Ba la mật đa, được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chơn thật không dối.

Vì vậy, nói chú Bát Nhã Ba la mật đa, liền nói chú rằng:

"Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha". (3 lần)

 

BÀI SÁM HỐI SÁU CĂN
(Quỳ tụng)

- Chí tâm sám hối:

Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ mất bản tâm không biết chánh đạo.
Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm;
Không sám lỗi trước khó tránh lỗi sau.

1.- Nghiệp căn Mắt là:
Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh,
Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.
Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh dành,
Chợp mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.
Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai,
Nhìn lệch các thứ, nào khác kẻ mù.
Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang,
Lòa mắt chưa sanh, bản lai diện mục.
Thấy ai giàu có, giương mắt mãi nhìn,
Gặp kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.
Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,
Thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.
Hoặc đến Tam bảo, hoặc vào chùa chiền,
Gần tượng, thấy kinh mắt không thèm ngó.
Phòng Tăng, điện Phật gặp gở gái trai,
Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục.
Không ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần,
Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðều từ mắt sanh, phải sa địa ngục.
Trải hằng sa kiếp, mới được làm người,
Dù được làm người, lại bị mù chột.

2.- Nghiệp căn Tai là:
Ghét nghe chánh pháp, thích lắng lời tà,
Mê mất gốc chơn, đuổi theo ngoại vọng.
Sáo đàn inh ỏi, Bảo khúc Long ngâm,
Văng vẳng mõ chuông,coi như ếch nhái.
Câu ví bài vè, bỗng nhiên để dạ,
Lời kinh câu kệ, không chút lắng tai.
Thoảng nghe khen hão, khấp khởi mong cầu,
Biết rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.
Vài ba bạn rượu, năm bảy khách chơi,
Tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.
Hoặc gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh,
Những điều hiếu trung, che tai bỏ mặc.
Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm,
Nghe nửa câu kinh, liền như tai ngựa.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết.
Sau khi mạng chung, rơi ba đường ác
Hết nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.

3.- Nghiệp căn Mũi là:
Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào,
Chẳng thích chơn hương, năm phần thanh tịnh.
Lan xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi,
Giới định huân hương, chưa từng để mũi.
Trầm đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài,
Nghển cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.
Theo dõi hương trần, Long thần chẳng nể,
Chỉ thích mùi xằng, trọn không chán mỏi.
Mặt đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa,
Cây giác hoa tâm, xây đi không đoái.
Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau,
Thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.
Chẳng ngại tanh hôi, không kiên hành tỏi,
Mê mãi không thôi, như lợn nằm ổ.
Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng,
Bôi cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.
Hoặc say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng,
Hai mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng.
Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm,
Không biết không hay, đều do nghiệp mũi,
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Sau khi mạng chung, đọa ba đường khổ.
Trải ngàn muôn kiếp, mới được làm người,
Dù được làm người, quả báo bệnh mũi

4.- Nghiệp căn Lưỡi là:
Tham đủ mọi thứ, thích xét ngon dở,
Nếm hết các thứ, rõ biết béo gầy.
Sát hại sinh vật, nuôi dưỡng thân mình,
Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú.
Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.
Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.
Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật,
Cố cam bụng đói, đợi lúc việc xong.
Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều,
Giống hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.
Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,
Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.
Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con,
Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.
Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,
Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.
Chửi mắng Tam bảo, nguyền rủa mẹ cha,
Khinh khi Hiền thánh, lừa dối mọi người.
Chê bai người khác, che dấu lỗi mình,
Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ.
Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo,
Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.
Lời dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn,
Tô vẽ điều sai, nói không thành có.
Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông,
Tán dóc Tăng phòng, ba hoa điện Phật.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Ví như cát bụi, đếm không thể cùng.
Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt thiệt
Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.
Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh,
Dù được làm người, lại bị câm bặt.

5.- Nghiệp căn Thân là:
Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình,
Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.
Chấp cho là thật, quên mất pháp thân,
Sanh dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp:

a.- Nghiệp Sát Sanh là:
Luôn làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ,
Giết hại bốn loài, đâu biết một thể.
Lầm hại cố giết, tự làm dạy người,
Hoặc tìm thầy bùa, đem về ếm đối.
Hoặc làm thuốc độc, để hại sanh linh,
Chỉ cốt hại người, không hề thương vật.
Hoặc đốt núi rừng, lấp cạn khe suối,
Buông chài bủa lưới, xuýt chó thả chim,
Thấy nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm,
Cử động vận hành, đều là tội lỗi.

b.- Nghiệp Trộm Cắp là:
Thấy tài bảo người, thầm khởi tâm tà,
Phá khóa cạy then, sờ bao mò túi.
Thấy của thường trụ, lòng dấy khởi tham,
Trộm của nhà chùa, không sợ Thần giận.
Không những vàng ngọc, mới mắc tội to,
Ngọn cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm.

c.- Nghiệp Tà Dâm là:
Lòng mê nhan sắc, mắt đắm phấn son,
Chẳng đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.
Hoặc nơi đất Phật, chánh điện phòng Tăng,
Cư sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn.
Tung hoa ném quả, đạp cẳng kề vai,
Khoét ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðến lúc mạng chung, đều vào địa ngục.
Gái nằm giường sắt, trai ôm cột đồng,
Muôn kiếp tái sanh, lại chịu tội báo.

6.- Nghiệp căn Ý là:
Nghĩ vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,
Mắc mưu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
Như tầm kéo kén, càng buộc càng bền,
Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh
Não loạn tâm thần, đều do ba độc.

a.- Tội keo tham là:
Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ,
Mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.
Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy,
Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy.
Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét,
Lụa là chất đống, nào có giúp ai,
Ðược người mấy trăm, chưa cho là nhiều,
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai,
Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo,
Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.

b.- Tội nóng giận là:
Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu,
Quắc mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
Không riêng người tục, cả đến thầy tu,
Kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích.
Chê cả sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha,
Cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
Buông lời hại vật, cất tiếng hại người,
Không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu,
Dầu ở cửa Không, chưa thành vô ngã.
Như cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây,
Những tội trên đây, đều do nghiệp giận.

c.- Tội ngu si là:
Căn tánh dần độn, ý thức tối tăm,
Chẳng hiểu tôn ty, không phân thiện ác.
Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay,
Mắng Phật chuốc ương, phun Trời ướt mặt.
Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân,
Không tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
Những tội như thế, rất nặng rất sâu,
Ðến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
Trải trăm ngàn kiếp, mới được thọ sanh,
Dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ,
Nay trước Phật đài, thành tâm sám hối .

TỤNG TAM QUY, NGŨ GIỚI

 

      1.- TAM QUY:

Chúng con nguyện suốt đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. (1 chuông, 1 lạy)

- Quy y Phật: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là bậc thầy giác ngộ sáng suốt của chúng con.

- Quy y Pháp: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo chánh pháp từ kim khẩu đức Phật nói ra.

- Quy y Tăng: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo những Tăng sĩ tu hành đúng chánh pháp của Như Lai.

* Quy y Phật rồi, chúng con không kính trọng tu theo Trời, thần, quỷ, vật.

* Quy y Pháp rồi, chúng con không kính trọng tu theo ngoại đạo, tà giáo.

* Quy y Tăng rồi, chúng con không kính trọng, làm thân với bạn dữ, nhóm ác.

(1 chuông, 1 lạy).

2.- NGŨ GIỚI:

1. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không sát sanh. Nghĩa là chúng con không giết người bằng mọi cách, không sai bảo kẻ khác giết người, không vui thích thấy nghe kẻ khác giết người. Cho đến những con vật lớn, chúng con cũng không nhẫn tâm giết hại; mà hằng bảo vệ sanh mạng chúng sanh.

 2. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không trộm cướp. Nghĩa là chúng con thấy tài sản, vật dụng của người, không khởi lòng tham, lén lấy hay giựt lấy; mà luôn luôn bảo vệ tài sản của người như tài sản mình.

 3. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không tà dâm. Nghĩa là chúng con chỉ một vợ một chồng, chớ không có lòng mê hoa đắm sắc, làm điều tà vạy, gây đau khổ cho gia đình mình và gia đình người; mà hằng tán thán ca ngợi đời sống trinh bạch.

4. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không nói dối. Nghĩa là chúng con không do lòng tham nói lời dối trá lừa bịp người, không do lòng nóng giận nói lời hung dữ khiến người buồn giận, không do lòng hiểm ác nói lời vu oan, vu cáo khiến người bị khó khăn tù tội; mà hằng nói lời chân thật ngay thẳng.

 5. Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không uống rượu. Nghĩa là chúng con không uống các thứ rượu mạnh và nhẹ khiến tâm trí rối loạn mờ tối, thân thể sanh nhiều bệnh hoạn, chuốc lỗi lầm với thân nhân quyến thuộc; cho đến các thứ á phiện, xì ke, ma túy thảy đều tránh xa.
 

Cúi xin Tam bảo hộ trì khiến chúng con đầy đủ nghị lực, giữ gìn năm giới trong sạch để được làm người tốt trong đời này và đời sau.

LỄ PHẬT TỔ

- Chí tâm đảnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi.
- Chí tâm đảnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni.
- Chí tâm đảnh lễ: Vị lai Phật Di Lặc Tôn.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Ca Diếp.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư A Nan.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Bồ Ðề Ðạt Ma.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huệ Khả.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huệ Năng.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Pháp Loa.
- Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huyền Quang.
- Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư Ấn Ðộ, Trung Hoa, Việt Nam.

CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN

Một nguyện nguồn linh thường trong lặng.
Hai nguyện tạng thức dứt lăng xăng.
Ba nguyện khối nghi đều tan nát.
Bốn nguyện trăng định mãi tròn đầy.
Năm nguyện pháp trần không khởi diệt.
Sáu nguyện lưới ái lìa buộc ráng.
Bảy nguyện suy nghĩ hành Thập địa.
Tám nguyện nghe suốt bỏ tam thiên.
Chín nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót.
Mười nguyện ý ngựa dứt cương yên.
Mười một nguyện mở lòng nghe Phật dạy.
Mười hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền.

CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
Ân cần đầu cúi lễ Từ tôn.
Thềm thang Thập địa nguyện sớm lên,
Chơn tâm Bồ đề không thối chuyển.

PHỤC NGUYỆN
(Chủ lễ đọc)

Cửa Thiền thường nghiêm tịnh,
Toàn chúng mãi thuận hòa.
Phật tuệ chiếu sáng ngời,
Mưa pháp hằng nhuần gội.
Phật tử lòng tin sâu,
Ruộng phước càng tăng trưởng.
Chúng sanh sống an lạc,
Vui hưởng cảnh thái bình.
Nơi nơi dứt đao binh,
Mỗi mỗi đều thành Phật.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni

(Đại chúng đồng đứng lên lễ Phật).

Chí tâm quy mạng lễ, mười phương vô thượng Tam Bảo. (3 lạy)

  
 

Thiền Viện Thường Chiếu

  Thường Chiếu ! Danh xưng một vị Thiền sư Việt Nam nổi tiếng thời Lý. Sư họ Phạm, quê làng Phù Ninh, từng làm quan cho triều đình. Là một bậc trượng phu quân tử có tiết tháo, không khiếp phục uy quyền, xem thường công danh sự nghiệp ở đời, nên chốn quan trường đối với Sư chỉ như trò bọt bóng . Nghe danh Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả, Sư liền từ quan, tìm đến xuất gia học Thiền và đắc pháp luôn tại đây.
Sau, Sư về Trụ Trì chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Tăng chúng đua nhau theo học rất đông. Từ đó, Sư trở thành một danh tăng lỗi lạc đương thời. Bình nhật, Sư luôn lấy đạo cả làm trọng, tỉnh lực giác tâm là chánh, thường hành chiếu soi, sống tự tại, chết ung dung. Hôm sắp tịch, Sư hơi đau bụng, bèn gọi chúng lại nói:
     

 Ðạo vốn không nhan sắc,
Ngày ngày lại mới tươi.

Ngoài đại thiên sa giới,
Chỗ nào chẳng là nhà ?

    

   

 Ðạo bổn vô nhan sắc,
Tân tiên nhật nhật khoa.

Ðại thiên sa giới ngoại,
Hà xứ bất vi gia ?

       Nói xong, Sư tịch. Thật còn gì tuyệt bằng ! Có thể nói, môn phong của Sư được các thế hệ sau phát triển rực rỡ và chuyển tiếp thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần sáng chói mãi về sau. Danh Sư vì thế đã trở thành danh xưng của Thiền viện Thường Chiếu non một thế kỷ sau. Nơi đây - Thường Chiếu - không chỉ ảnh hiện một tấm gương sáng xa xưa cho người sau theo dấu soi mình, mà với ý nghĩa tròn đủ đó, Thường Chiếu còn là phương châm, là sở nguyện của Hòa thượng ân sư đối với chư Tăng: " Phản quan tự kỷ, bổn phận sự " - luôn tự soi chiếu lại chính mình -. Ðây cũng chính là cương lĩnh yếu chỉ của dòng Thiền Việt Nam cuối thế kỷ 20 này.  

 DUYÊN KHỞI THÀNH LẬP THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU.
Vào những năm 73 -74, khi mở khóa thiền thứ hai tại Tu viện Chân Không, Hòa thượng nhận thấy Tăng ni về núi tham học khá đông. Theo đó, nhu cầu đời sống vật chất của chư Tăng cũng được đặt ra. Biết rõ điều ấy, hai Phật tử chủ chùa Linh Quang (cũ) ở Cát Lở phát tâm cúng dường thửa đất 52 mẫu tại Xã Phước Thái - Huyện Long Thành,để Hòa thượng lập Thiền trang. Nhận thấy cơ duyên đã đến, Hòa thượng liền tùy hỷ. Thiền viện Thường Chiếu được ra đời từ đó.
1. Giai đoạn đầu từ 1974 - 30/ 04/ 1975: Thời sơ khai.
Ngôi chùa Thường Chiếu đầu tiên là một căn nhà lá, mái tol, nằm trơ vơ trên một dãy đất cát trắng phếu với sỏi đá khô cằn. Thầy Ðắc Huyền được Hòa thượng bổ nhiệm làm lính tiên phong - Trụ trì đầu tiên - với số chúng là bốn vị. Mấy anh em xuống núi trong giai đoạn này quả thật là phải " cạp đất mà ăn ". Vì vậy Hòa thượng luôn động viên, luôn tiếp sức qua những lần về thăm. Thầy không chỉ dùng lời mà còn cộng sự, cuốc đất trồng khoai, thân giáo chư tăng. Bây giờ ngồi mà nhớ lại hồi xưa, nếp nhà tranh, ánh đèn dầu, khung trời nắng cháy.Ai tới đây rồi cũng phải ngao ngán. Thường Chiếu lúc đó, không biết ra sao ở ngày mai ? Song nhờ có Hòa thượng luôn yểm trợ tinh thần, giúp chư tăng vượt qua mọi khó khăn, giữ vững tâm nguyện tu hành của mình, nên rồi tất cả cũng kham nhẫn được. Vạn sự khởi đầu nan. Xưa nay vẫn vậy.
Ðến 30 / 04 / 75, đất nước giải phóng, lịch sử sang trang. Chư Tăng ni cũng thay đổi cuộc sống tu hành của mình theo nhịp đổi thay chung của đất nước. Thế là Tăng ni của cả hai viện Chân Không và Bát Nhã khóa hai cùng xuống núi, về đây làm ruộng rẫy. Thầy Phước Hảo và Thầy Ðắc Pháp cũng có mặt trong giai đoạn này để hướng dẫn chúng tu học và lao động, Tuy nhiên, thời gian chỉ có hai tháng thì giao lại cho Thầy Nhật Quang làm Huynh Trưởng. Ngẫm lại trong cuộc vô thường, bể hóa cồn dâu có khác gì nhau. Cũng chỉ đùa mà thôi.

 2. Giai đoạn hai từ 1975 - 1986:

Thời vượt khó.Năm 1975, Thầy Nhật Quang lãnh trách nhiệm Huynh Trưởng với tổng số chúng là 20 vị. Hòa thượng cho cất thêm một tăng đường bằng lá và cái thất sàn cũng bằng lá, nép mình khiêm cung bên bụi tre hồi đó chính là phương trượng của Thầy bây giờ.Thanh Qui Bách Trượng được áp dụng từ đây. Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực ( một ngày không làm, một ngày không ăn ).

Tu, học và lao động trở thành ba yếu tố căn bản không thể thiếu của Thiền sinh Thường Chiếu và các Chiếu phụ cận ra đời tiếp theo sau như Viên Chiếu (1975), Linh Chiếu (1980) . Việc tu được Hòa thượng cụ thể hóa như hơi thở, việc học như uống nước, việc làm như ăn cơm. Một trong ba đều cần thiết đối với đời sống tu học của Thiền sinh. Ðể chấn chỉnh môn phong trong giai đoạn này, Hòa thượng Viện Trưởng đã sửa đổi bản Thanh Qui Chân Không, cho ra đời bản Qui Ước áp dụng chung cho các Thiền viện. Tinh thần tu, học và lao động tuy phôi thai  nhưng đã gầy dựng được một sức sống mới trong tăng đoàn. Sức sống ấy đã được Thiền tăng chuyển tải trên đồng khô ruộng cạn, trên từng nhát cuốc đường cày, lúc đẩy xe kéo củi, khi đào giếng khoét mương.khắp trong bạn lứa anh em, đâu đâu cũng hùng hồn vang vọng như một hành khúc:

(Nguồn  thientongvietnam.net)

Các Thiền Viện

   TỔNG QUAN CÁC THIỀN VIỆN - THIỀN TÔNG VIỆT NAM

    

THIỀN VIỆN TRÚC LÂM BẠCH MÃ

Trụ trì: Đại ĐứC Thích Tâm Hạnh.

Địa chỉ: Xã Lộc Hoà - Phú Lộc - Huế

     
 

THIỀN VIỆN BẢO HẢI

Địa chỉ: Khu phố 5, phường Long Tâm, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Email:This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Trụ trì: Ni Sư Thích Nữ Hạnh Bình

 

     
 

THIỀN VIỆN BẢO CHƠN

Địa chỉ: 29 Wilton Road

Peterborough, NH 03458

Ðiện thoại: 603 784 5244 

Email:This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

     

 

THIỀN VIỆN BỒ ĐỀ

Địa chỉ: 773 Granite

Braintree, MA 02184 USA

Điện thoại: (781) 848-3704

Thành lập năm 2002

 

   
  

THIỀN VIỆN CHÁNH PHÁP

Địa chỉ: 2021 NE. 115th St.

Oklahoma City, OK 73131-3247  USA

Điện thoại: (405) 478-1818

Email:This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

 

 

  

THIỀN VIỆN TRÚC LÂM CHÁNH THIỆN


Liên hệ: Đại Đức Thích Đạt Ma Khế Định

Điện thoại: 0166219 1346

 

 

 

 

  

THIỀN VIỆN CHÂN KHÔNG

Trụ trì: Thượng tọa Thích Phước Hảo.
Ðịa chỉ: Núi lớn - Vũng tàu

Điện thoại: (064) 3854223

   

THIỀN VIỆN CHÂN TÂM

Địa chỉ: 5400 Garrett Road

Oklahoma City, OK 73121  USA

Điện thoại: (405) 424-1788

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

   

 

 

THIỀN VIỆN ĐẠI ĐĂNG

Địa chỉ: 6326 Camino Del Rey

Bonsall, California 92003 USA

Điện thoại: (760) 945-5588

Thành lập năm 2001.

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

   
  

THIỀN VIỆN ĐẠO HUỆ
 

Địa chỉ: Ấp Hiền Hòa, Xã Phước Thái, Long Thành, Đồng Nai

Điện thoại: 061.384.1534, 061.354.2736

Thành lập năm 2001.
Trụ trì: TT. Thích Thông Hiếu

 

   
  

THIỀN VIỆN ĐẠO VIÊN
 

Địa chỉ: 435 Chemin de la Sablière

Lantier Québec  JOT 1VO  CANADA

Điện thoại: (819) 323-4332
Thành lập năm 2002.

 

   
  

THIỀN VIỆN DIỆU NHÂN
 

Đia chỉ: 4241 Duncan Hill Rd.

Rescue, California  95672  USA

Điện thoại: (530) 676-7108
Thành lập năm 2002.

 

   
  

THIỀN VIỆN HIỆN QUANG

Trụ trì: TT. Thích Đạo Ứng
Địa chỉ: Ấp Miễu, xã Phước Tân, huyện Long Thành, Đồng Nai

Thành lập năm 1990

Điện thoại: 0908.258746
Khoảng 20 vị tăng đang tu học
 

 

   

 

 

THIỀN TỰ HIỆN QUANG

Địa chỉ:
7 Walmer Ave.

Sr. Alban 3021

Victoria AUSTRALIA

Điện thoại: (03) 042.199.040

     
  

THIỀN VIỆN HƯƠNG HẢI

Trụ trì
:
Ni Sư Thích Nữ Thuần Giác
Ðịa chỉ: Xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
Điện thoại: 061.384.1167
Email:
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

   

 

 

THIỀN VIỆN HUỆ CHIẾU

Thành lập tháng 4 năm 1979
Trụ trì: Ni sư THÍCH NỮ THUẦN TRÍ
Địa chỉ:xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Có khoảng 70 Ni chúng đang tu học
Ðiện thoại: 064.876778

     
  

THIỀN VIỆN LIỄU ĐỨC

Thành lập năm 1982
Trụ trì:
Ni sư THÍCH NỮ NHƯ ÐẠO
Địa chỉ: ấp 1A, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
Ni chúng có khoảng 45 vị

Ðiện thoại:
061.384.1382

     
  

THIỀN VIỆN LINH CHIẾU

Thành lập tháng 2 năm 1980
Trụ trì:
Ni sư THÍCH NỮ NHƯ HẠNH
Địa chỉ: xã Phước Thái, Huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai.
Ni chúng có khoảng 120 vị

Ðiện thoại:
061.384.1070
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

     
 

THIỀN VIỆN MINH CHÁNH

VIETNAMESE BUDDHISH MEDITATION CONGREGATION

Trụ trì:Nam, N. Dao
            Thích Tuệ Tỉnh


Địa chỉ: 3440 SE. 192 nd St Renton, Wa 98058
Ðiện thoại: 253 631 7346
Email:This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

     

 

THIỀN VIỆN PHỔ CHIẾU

Thành lập tháng 6 năm 1982
Trụ trì:
Ni sư THÍCH NỮ NHƯ ÁNH

Địa chỉ: Thị Trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Ni chúng có khoãng 60 vị
Ðiện thoại:
(064) 876751

     
   THIỀN VIỆN PHÚC TRƯỜNG 

 Trụ trì: Thích Nữ Hạnh Nguyên 
 Địa chỉ: 20/22 đường Phan Đăng Lưu
ấp 3, xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một
tỉnh Bình Dương
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Ni chúng hiện tại: 11 vị
 
     
  

THIỀN VIỆN QUANG CHIẾU
 

Địa chỉ: 5251 Rendon Rd.

Forthworth, Texas 76140 USA

Ðiện thoại: (817) 483-8670

Web site: www.thienvienquangchieu.org

Thành lập năm 2000.

 

   
  

THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU

Trụ trì: HT Thích Nhật Quang.
Địa chỉ:
p 1C, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai
Ðiện thoại: 061.3542.631061.3841.071
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

   
  

THIỀN VIỆN THƯỜNG LẠC

Địa chỉ: 63 Av. Rouget de Lisie

94400 Vitry/Seine FRANCE

Điện thoại: (33).(0).1.47.18.68.20

 

   
  

THIỀN VIỆN TỊCH CHIẾU

Thành lập tháng 7 năm 1987

Trụ trì:
Ni sư THÍCH NỮ HẠNH THANH
Địa chỉ: số 8 Ô 4 Hải Ðiền 3,
Long Hải - Long Ðất, tỉnh Bà Rịa
Ni chúng có khoảng 15 vị
Ðiện thoại:
(064) 868922

     
   THIỀN TỰ TIÊU DAO

Địa chỉ: 5 Rolex Court, Noble Park Victoria 3174 AUSTRALIA
Web site: www.thientutieudao.org.au
Ðiện thoại:
(61) (3) 9713 3223

 

   
  

THIỀN VIỆN TRÚC LÂM

Viện trưởng: HT. THÍCH THANH TỪ
Trụ trì: TT. THÍCH THÔNG PHƯƠNG
Quản chúng ni: Ni sư THÍCH NỮ NHƯ TÂM
Địa chỉ: khu phố 7, phường 3, Tp. Ðà Lạt,  Lâm Ðồng

Ðiện thoại: (063) 827565 - 830558

 

   

 

   THIỀN VIỆN TRÚC LÂM YÊN TỬ

Trụ trì:T.T Thích Thông Phương
Địa chỉ: Xã Thượng Yên Công, Uông Bí, Quảng Ninh - Thành lập 2002
Khánh thành ngày 11-11-Nhâm Ngọ.
Điện thoại: 033.661.477
     
    THIỀN VIỆN TRÚC LÂM TÂY THIÊN

Trụ trì:T.T Thích Kiến Nguyệt
Địa Chỉ: Xã Đại Đình, Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Điện Thoại: 0211842770
     
   THIỀN VIỆN SÙNG PHÚC

Trụ trì: Thích Tâm Thuần
Địa Chỉ: Tổ 10, Phường Cự Khối, Quận Long Biên, Tp Hà Nội
Điện Thoại: 04.8751302
     
   THIỀN VIỆN TUỆ QUANG - Chùa Huỳnh Võ

Do gia đình sư cô Huệ Ðịnh phát tâm xây dựng rồi cúng dường lại cho HT (năm 1999)
Trụ trì: ÐÐ. THÍCH THÔNG
PHỔ
Địa chỉ: số 15, Ấp 3, phường Linh Trung, quận Thủ Ðức - Tp. Hồ Chí Minh

Ðiện thoại:
(08) 8970926

     
  

THIỀN VIỆN TUỆ THÔNG
Trụ trì: Ni Sư Thích Nữ Như Minh

Địa chỉ: Ấp 1c, Phước Thái, Long Thành, Đồng Nai

Điện thoại: (613) 841-235

     
    THIỀN TỰ  TUỆ VIÊN
22093 Highway 48
Mount Albert, Ontario,  L0G 1M0
Canada
Điện thoại: 905-473-3394

 

   

 

THIỀN VIỆN VIÊN CHIẾU

Ðược thành lập tháng 4 năm 1975
Trụ trì:
Ni sư THÍCH NỮ NHƯ ÐỨC
Địa chỉ:  xã Phước Bình, huyện Long Thành, tỉnh Ðồng Nai

Ðiện thoại:
061.650.14219
                  061. 650. 7319
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 

   

 

THIỀN VIỆN VÔ ƯU

Ðược Hòa Thượng THÍCH THANH TỪ
thành lập ngày 13 tháng 11 năm 2002.

Trụ trì:
Ni sư THÍCH NỮ ÐỒNG KÍNH
Địa chỉ:  1300 Church Avenue
San Martin, California 95046 USA

Ðiện thoại:
(408) 683-4498
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

     
    THIỀN VIỆN TRÚC LÂM VIÊN NGỘ

Trụ trì : Đại đức Thích Thông Huệ
Địa Chỉ: Thị trấn Khánh Hải - Hải Ninh- Tỉnh Ninh Thuận

ĐT: 0583 - 891570

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Kinh Sách

Trang Kinh Sách Đang Cập Nhật....