headertvtc new


   Hôm nay Thứ ba, 23/07/2019 - Ngày 21 Tháng 6 Năm Kỷ Hợi - PL 2562 “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn”. - (Pháp cú kệ 29, HT.Thích Minh Châu dịch)
tvtc2  Mong
LỄ AN VỊ PHẬT TỨ ĐỘNG TÂM Tại TVTL Chánh Giác

PHẨM PHỔ MÔN - KỆ TỤNG

 I. Hạnh Nguyện Đại Bi

Trước đã nói phẩm Phổ Môn chia thành 2 loại : Trường hàng thể văn xuôi và kệ tụng thể văn vần. Trường hàng giải thích xong rồi, dưới đây giải thích kệ tụng.

 

 

Xem tiếp...

LỢI ÍCH HIỂN - ANH LẠC CÚNG DƯỜNG

 Thị cố nhữ đẳng ưng đương nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát, thị Quán Thế Âm Bồ-tát ma-ha-tát, ư bố úy cấp nạn chi trung. Năng thí vô úy, thị cố thử Ta-bà thế giới, giai hiệu chi vi thí vô úy giả.

 

Xem tiếp...

LỢI ÍCH HIỂN - BA MƯƠI BA THÂN (tiếp theo)

 III. THÂN BÁT BỘ, THÂN CHẤP KIM CANG

Ưng dĩ Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, nhân, phi nhân đẳng thân đắc độ giả, tức giai hiện chi nhi vị thuyết pháp.

Phần trước là thuyết pháp cho người, từ đây là hiện thân thuyết pháp cho Long Ca-la Bộ. Thiên long bát bộ còn gọi là Bát bộ long thần, vì Thiên long đứng đầu trong 8 bộ chúng. 8 bộ là:


Xem tiếp...

LỢI ÍCH HIỂN - BA MƯƠI BA THÂN (tiếp theo)

 II. THÂN TRỜI, THÂN NGƯỜI

Ưng dĩ Phạm vương thân đắc độ giả, tức hiện Phạm vương thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Đế Thích thân đắc độ giả, tức hiện Đế Thích thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Tự Tại Thiên thân đắc độ giả, tức hiện Tự Tại Thiên thân nhi vị thuyết pháp.

 

 

 

Xem tiếp...

LỢI ÍCH HIỂN - BA MƯƠI BA THÂN

 I. THÂN THÁNH

Vô Tận Ý Bồ-tát bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ-tát vân hà du thử Ta-bà thế giới? Vân hà nhi vị chúng sanh thuyết pháp? Phương tiện chi lực, kỳ sự vân hà ?

Ở trước mở đầu là nêu câu hỏi về danh hiệu và nhân duyên của Bồ-tát Quán Thế Âm. Thế Tôn trả lời là xưng danh, thường niệm, lễ bái, thì có thể được cảm ứng … Đó là lợi ích ngầm. Đoạn này Bồ-tát Vô Tận Ý hỏi về ba nghiệp thân miệng ý của Bồ-tát Quán Thế Âm.

Xem tiếp...

LỢI ÍCH NGẦM : HAI CẦU NGUYỆN và KHUYẾN TRÌ

 1. HAI CẦU NGUYỆN

Nhược hữu nữ nhân, thiết dục cầu nam, lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ-tát, tiện sanh phước đức trí tuệ chi nam; thiết dục cầu nữ, tiện sanh đoan chánh hữu tướng chi nữ, túc thực đức bổn, chúng nhân ái kính. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ-tát hữu như thị lực!

 

 


Xem tiếp...

LỢI ÍCH NGẦM – NẠN BA ĐỘC

 Đại sư Tinh Vân dịch từ Nhật sang Hán
Ni sư Hạnh Huệ dịch từ Hán sang Việt

Nhược hữu chúng sanh đa ư dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ-tát, tiện đắc ly dục.

Trước giảng bảy nạn là từ ngoại cảnh đến, đây giảng ba độc, là từ nội bộ mà ra.

 

 

Xem tiếp...

LỢI ÍCH NGẦM – NÓI VỀ 7 NẠN

 Đại sư Tinh Vân dịch từ Nhật sang Hán
Ni sư Hạnh Huệ dịch từ Hán sang Việt

Nhược hữu trì thị Quán Thế Âm Bồ-tát danh giả, thiết nhập đại hỏa hỏa bất năng thiêu, do thị Bồ-tát oai thần lực cố. Nhược vi đại thủy sở phiêu, xưng kỳ danh hiệu, tức đắc thiển xứ.

Đoạn này là nói về 7 nạn trong phần lợi ích ngầm. 7 nạn là nạn lửa, nạn nước, nạn đao, nạn gió, nạn quỷ, nạn tù, nạn giặc. Đây nói về nạn lửa và nạn nước.

 

Xem tiếp...

THẾ TÔN ỨNG ĐÁP

 (Phẩm Phổ Mơn tt)
Đại sư Tinh Vân dịch từ Nhật sang Hán
Ni sư Hạnh Huệ dịch từ Hán sang Việt

Phật cáo Vô Tận Ý Bồ-tát: “Thiện nam tử! Nhược hữu vô lượng bách thiên vạn ức chúng sanh, thọ chư khổ não, văn thị Quán Thế Âm Bồ-tát, nhất tâm xưng danh Quán Thế Âm Bồ-tát, tức thời quán kỳ âm thanh, giai đắc giải thoát!”


Xem tiếp...

VÔ TẬN Ý PHÁT VẤN

 Đại sư Tinh Vân dịch từ Nhật sang Hán
Ni sư Hạnh Huệ dịch từ Hán sang Việt

Bộ PHẨM PHỔ MÔN này, từ đầu đến đuôi đều nói về tín ngưỡng Bồ-tát Quán Thế Âm, toàn văn chia làm hai đoạn lớn là trường hàng và kệ tụng. Trường hàng là thể dài tản văn. Kệ tụng thì giống như thơ ca theo thể văn vần. Vì kệ tụng là thuật lại trường hàng nên yếu chỉ trong phẩm Phổ Môn hoàn toàn bao hàm trong trường hàng.

Xem tiếp...

PHẨM PHỔ MÔN BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

 Đại sư Tinh Vân dịch từ Nhật sang Hán
Ni sư Hạnh Huệ dịch từ Hán sang Việt

Danh từ QUÁN ÂM này có nhiều phiên dịch không đồng, ngài La-thập dịch là “Quán Thế Âm”, gọi là cựu dịch. Tuy đồng gọi là cựu dịch, nhưng Trúc Pháp Hộ dịch là “Quan Thế Âm”, đến thời ngài Huyền Trang lại dịch là Quán Tự Tại, gọi là tân dịch.

Sự phiên dịch bất đồng này biết cái nào chính xác! Ngài Huyền Trang phiên dịch hình như câu nệ vào nguyên ngữ, ngài La-thập dường như dịch theo ý.

Xem tiếp...